Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 1 24, 2010

Tết Táo quân

Hình ảnh
Trong 12 cái tết dân gian thì tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp là cái tết cuối cùng của năm để chuẩn bị đón tết Cả - Tết Nguyên đán. Dân gian cho rằng 23 tháng Chạp là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu với Ngọc Hoàng việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua nên thường làm lễ " Tống Táo " 送灶. Tuy gọi là " ông Công, ông Táo " nhưng thực sự lại là " hai ông, một bà ". 1. " Ông Đầu rau", chỉ còn trong ký ức : Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau". Đó là 3 hòn đất sét to được gọt đẽo, nặn cẩn thận có hình thù như những con ếch ngồi châu đầu vào nhau tạo thế ba chân để đỡ cái nồi. Đây chính là biểu trưng của lòng tôn thờ đối với 3 vị táo quân (2 ông 1 bà). Vì quan niệm như thế nên khi đẽo "ông đầu rau", phải có 1 ông to tượng trưng cho bà táo, còn 2 ông thì được nặn nhỏ hơn và đặt trước bà tạo thành lối cho củi vào. Bởi có nhiều loại xoong, nồi có kích cỡ khác nhau nên vị trí của 3 ...

Phần mền Thư pháp chữ Hán

Hình ảnh
Đang loay hoay định đưa đôi câu đối dạng chữ thư pháp lên không biết làm thế nào thì mò ngay được trang Chinese Calligraphy Editor ở http://www.chinese-tools.com/tools/calligraphy.html có phần mền đáp ứng được. Câu sau được thể hiện như hình bên : Chữ: 象山德基門戶詩禮憑舊蔭 郁江人脈亭皆芝玉惹莘香 Âm: Tượng Sơn đức cơ môn hộ thi lễ bằng cựu ấm, Úc Giang nhân mạch đình giai chi ngọc nhạ tân hương. Nghĩa: Núi Voi xây nền đức, gia tộc dòng dõi bởi nhờ ơn đời trước, Sông Úc tạo nguồn nhân, cả nhà giỏi tài vì sức gắng lớp sau.

Đôi điều về tháng Chạp

Hình ảnh
Trong những tên chỉ tháng âm lịch có 3 tên không có từ chỉ thứ tự là Một ( tháng thứ 11 ), Chạp ( tháng thứ 12 ) và Giêng ( tháng đầu ). Trong đó, tháng Chạp là tháng lạnh cuối cùng của mùa Đông khi sắp đón cái khí trời ấm của Xuân sang, Tết đến. Tháng Chạp còn gọi là “tháng củ mật” là từ để chỉ tháng thứ 12 trong âm lịch đối với các năm âm lịch thường hoặc tháng thứ 13 trong những năm âm lịch nhuận. Tháng âm lịch nào cũng chỉ có thể có từ 29 đến 30 ngày, tùy theo thời điểm diễn ra hai kỳ trăng mới kế tiếp nhau theo giờ địa phương. Tháng đầu năm là tháng Giêng và tháng cuối năm là tháng Chạp không bao giờ được lấy làm tháng nhuận. Tháng Chạp là tháng luôn luôn diễn ra sau ngày Đông chí 冬至 ( dōngzhì, Winter solstice, thường xem như là ngày mà đêm dài nhất trong năm ). Nhớ rằng, Hội nghị quốc tế 1884 họp tại Luân Đôn lấy Kinh tuyến đi qua Greenwich làm múi giờ “số 0” (kinh tuyến Tý-Ngọ) và cứ 15 độ là một múi giờ thì do Hà Nội ở KT 105 độ Đông nên thuộc múi giờ GMT +7:00 . Còn lịch Trung...

Tìm hiểu về Ngũ Phúc, Tam đa

Hình ảnh
Hầu hết người Việt đều coi PHÚC – LỘC – THỌ là những điều mong ước thiết tha nhất của mọi người. Mỗi điều ước nguyện được thể hiện bằng một biểu tượng riêng và nếu trọn vẹn được những điều tốt lành đó thì bản thân và gia đình được hạnh phúc, vinh hoa phú quý, trường thọ. Khởi nguồn quan niệm này là từ việc Kinh thi 詩經 coi Ngũ Phúc 五福 gồm: Phú 富 (giàu có), An ninh 安寧 (yên lành), Thọ 壽 (sống lâu), Du hảo đức 攸好德 (có đức tốt), và Khảo chung mệnh 考終命 (vui, hết tuổi trời). Tam Đa 三多 là sự rút gọn của Ngũ Phúc. Tam đa có thể gồm: Tài 财 (tiền), Lộc 祿 (ơn vua) và Tử tôn 子孙 (con cháu) ; hay Tử 子(con trai), Tài 财(tiền) và Thọ 壽 (sống lâu) nhưng phổ biến hơn cả vẫn là: Phúc 福, Lộc 祿 và Thọ 壽. Hai thành tố giản lược là Khang 健 và Ninh 寧 tức là sức khoẻ và an toàn có thể nhập vào với thành tố Thọ vì phải có sức khỏe thì mới sống lâu và có Lộc thì sẽ có yên lành. 1. Một ước mong chính đáng và cách thể hiện nhân bản : Qua trên 2500 năm, những biểu tượng và nguyên mẫu về Ngũ Phúc, Tam đa mang nhiều ản...

Văn tế ngày GIỖ CHA

Chữ rằng “sinh quý tử quy”, người đã mất sao cầu gặp được, Nhưng theo lẽ thường đúng kỳ kị nhật thứ 13, lòng thành trưởng Nam soạn lời tế như sau: Đất thôn ta: Núi không người đắp, 4 dãy đồi tạo thung lũng An Phong, Suối chẳng ai đào, 2 nguồn nước cho lúa ngô lúa trổ bông, hoa trái kết. Hôm nay: Trời cuối Đông: nhìn cháu con ơn kẻ trồng cây, Đất đầu xóm, ngắm cơ ngơi nhớ người mở lối. Con cháu tề tựu quanh đây, Nén Tâm nhang dâng người tiết liệt. Nhớ tiên linh xưa : Sông Úc ươm đất địa linh, Núi Voi sinh người nhân kiệt. Quý Hợi ra đời khi ách đô hộ phủ khắp xóm làng, Sớm trải khó khăn bởi cảnh nhà cùng kiết. Cha hết ra mỏ lại xuống tầu tìm kế tha phương, Mẹ vừa xáo xén kiêm gánh gồng suốt ngày xa biệt. Thủa ấu thơ lúc cắt cỏ chăn trâu, lúc đi ở trông em, Niềm vui, sự học khi trăng tròn, trăng khuyết. Buổi cờ sao, nô nức tham gia, Ngày kháng chiến, thuế tận thu giao đủ. Đón Hoà bình mở Bình dân học vụ, Lo làm ăn vẫn văn nghệ say mê. Khi hôn phối tăng tình thân Phương Lạp - Cốc Tràng, 1...

Một số từ, thành ngữ có từ "GIA"

Trong bất cứ cuốn Gia phả hay trong công việc Họ thường nhật đều có niết và nhắc đến từ GIA 家 với nghĩa là “ Nhà, gia đình ”. Ngoài ra âm GIA còn có chữ 加 nghĩa là “ Thêm, cho thêm ”. Sau đây là một số từ, thành ngữ có chữ GIA ( theo TỪ ĐIỂN CAO ĐÀI của Nguyễn Văn Hồng ): Trước hết là có chữ "GIA" đứng đầu : 1. Gia bần hiển hiếu tử : 家貧顯孝子 Gia: Nhà, gia đình. Bần: nghèo. Hiển: lộ rõ ra. Gia bần hiển hiếu tử là nhà nghèo mới rõ lòng con hiếu. Trong sách Minh Tâm Bửu Giám, Ông Vương Lương có viết: Quân thánh thần trung, phụ từ tử hiếu; gia bần hiển hiếu tử, thế loạn thức trung thần. Nghĩa là: Vua thánh thì tôi trung, cha hiền thì con hiếu; nhà nghèo mới hiện rõ con hiếu, đời loạn mới biết bề tôi trung. Cũng thường nói: Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần. Nghĩa là: Nhà nghèo mới biết con hiếu, nước loạn mới biết bề tôi trung. 2. Gia giáo bất nghiêm : 家教不嚴 Gia: Nhà, gia đình. Giáo: dạy. Bất: không. Nghiêm: chặt chẽ, đúng theo kỷ luật. Bất nghiêm: không chặt chẽ đúng ...