Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 1 31, 2010

Cung tiên Táo quân Kỷ Sửu

Hình ảnh
Chuẩn bị hành lễ tiễn ông Công, Gia chủ sửa bút viết đôi dòng: Kỷ Sửu bội thu nhờ gắng sức , Canh Dần năm mới chắc Hanh thông . Cáo cùng Thiên Địa tình nguyên vẹn , Bạch với Thánh Thần nghĩa thủy chung . Năm mới: Ngũ Phúc lâm môn thuận, Gia tộc Yên bình , đại Thành công . Lương Đức Mến, 23/Chạp/Kỷ Sửu

Bài vị Táo quân

Hình ảnh
Bài vị thờ Táo Quân, phải viết bằng chữ Hán: trên hết là hai chữ BẢN GIA 本家, kế dưới là danh hiệu của ba vị Táo Quân: Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân - Thổ địa long mạch tôn thần- Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần. 本家 東廚司命灶府神君 土地龍脈尊神 五方五土福德正神 Hai bên bài vị thờ Táo Quân thường có đôi liễn: 有德能司火 無思可達天 Đọc: Hữu đức năng tư hỏa, Vô tư khả đạt Thiên. Nghĩa là: Có đức trông coi việc lửa, Vô tư có thể lên Trời.

Cây hương và tục thắp hương

Hình ảnh
Hiếm gia đình người Việt nào ( kể cả những người theo Công giáo ) mà không từng thắp nhang. Nhưng nguồn gốc cây hương, cách thắp hương thế nào và ý nghĩa của nó không phải ai xũng biết. Ngay cả những bài viết của các bậc trí giả trên sách, báo, trên các trang Web cũng khác nhau, đôi khi lại trái ngược nhau ở vài chi tiết. 1. Nguồn gốc cây hương, tục đốt hương : Tương truyền, tục đốt hương có từ lâu đời, từ khi con người khám phá ra lửa, những loại cây bị cháy thường toả ra mùi hương, mỗi cây lại có một mùi hương khác nhau. Về sau con người biết sử dụng hương thơm của các loại cây để chữa bệnh, xua đuổi tà khí…đốt lên toả khói nghi ngút, làm ấm áp không gian… Lại có ý kiến khác cho rằng nguồn gốc việc đốt hương có từ những quốc gia có nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylon…Thời đó, hương đốt được làm từ nhựa lấy từ thân của loài cây Boswellia mọc rất nhiều ở miền Nam Ả Rập và Somalia. Cùng với sự phát triển mậu dịch trao đổi, các nền văn minh Tây phương xa xưa cũng áp dụng sự đốt hương...

Nguồn gốc chữ Song hỉ và mối liên quan đến "Hổ kỳ"

Hình ảnh
Trong mỗi đám cưới, bất kể là Vu quy 于歸 (con gái đi lấy chồng) hay Thành hôn 昏禮 đều có treo chữ Song hỉ 囍 . Nhưng xuất sứ và ý nghĩa của nó cũng như liên quan của nó tới “ông Ba mươi”- vật tinh của năm Canh Dần chắc mấy ai còn nhớ. Song hỷ (H: 雙喜, A: Double joy, P: Joie double) nghĩa gốc là hai điều vui mừng đến một lượt bởi 雙 “Song” là “đôi”, là “số chẵn” và 喜 “Hỉ” là “Vui, mừng, hoan hỉ”. Mở rộng ra nó có nghĩa là: 雙喜臨門 “Song hỉ lâm môn”, hai việc mừng đến cùng một lúc, song song với nhau ; chỉ việc nhà trai cưới được vợ cho con trai, nhà gái gả được chồng cho con gái. Song hỉ được viết bởi chữ 囍. Chữ này gắn với một giai thoại đẹp, đầy yếu tố may mắn, trời định về tình duyên, thi cử của bậc Danh sĩ nổi tiếng đời nhà Tống (宋朝, Song; 960-1127) và vị “Chúa sơn lâm” - con vật cầm tinh năm Canh Dần này. Đó là Vương An Thạch (王安石 Wang Anshi, 1021 – 1086), tự Giới Phủ (介甫), hiệu Bán Sơn Lão Nhân (半山老人 Banshan Laoren), người ở Phủ Châu, Lâm Xuyên nước Lỗ (nay là huyện Đông Hương, tỉnh Giang...

Sớ và Sớ Táo quân

Hình ảnh
Theo nghi lễ cổ truyền thì trong cúng, tế bao giờ cũng có phần đọc Chúc văn, Điếu văn hay Tấu sớ. Mỗi loại có ý nghĩa, cách việt khác nhau, dùng trong những dịp khác nhau. Trong đó, Tết Ông Táo thường đọc Sớ văn. 1. Sớ văn : Chữ là: Sớ văn thượng tấu (H: 疏文上奏,A: The petition to the throne, P: Le placet au trône) có nghĩa là bài văn viết lên giấy để tấu trình các việc hay để cầu nguyện một việc gì đó, dâng lên Đức bề trên (Trời, Phật, Thần, Thánh hay Vua). 2. Thời điểm đọc Sớ : Trong các lễ cúng, thường trải qua 4 bước cơ bản: 1 - Nghênh thần: chủ tế lễ 4 lễ 2 - Hiến lễ: dâng lễ 3 lần, mỗi lần chủ tế và bồi tế đều quỳ để hiến lễ, đọc văn tế, sớ. Khi đó, chủ lễ đứng trước bàn thờ, vái bốn vái rồi cầm giấy đưa ra trước mặt đọc. Đọc xong vái năm cái. 3 - Ẩm phúc và thu tộ: Chủ tế nhận lộc thần linh ban 4 - Lễ tạ: Chủ tế lễ 4 lễ. Cách thức ăn mặc và động tác trong tế từ lâu đã được cung đình hoá. Như vậy, việc dâng sớ thực hiện tại bước 2 sau khi dâng Hoa, Rượu, Trà và Chủ tế quỳ dâng Sớ t...

Gia đình đi theo Đảng

Hình ảnh
Một cách tự nhiên, từ sau 1930, nhất là từ sau 1950, Đảng Cộng sản Việt Nam đã gắn bó máu thịt với từng gia đình đất Việt. Gia tộc tôi cũng không ngoại lệ. Sự gắn bó đó, theo tôi, không đơn thuần là “cho” như lâu nay vẫn nói và viết mà là sự “đem lại” của Đảng và quá trình phấn đấu của mỗi con người theo lý tưởng của Đảng để đem lại hạnh phúc cho mình và cho người khác. Đời ông tôi không có chuyện đáng kể bởi ông rời làng ra đi từ khi chưa có Đảng. 1. Bố tôi , sinh Sinh năm Khải định Thứ 8 (Quí Hợi-1923). Thủa nhỏ theo ông bác là Cụ Hội Khuê Lương Đức Khuông học chữ Nho. Chịu khó học và học khá. Năm hơn 10 tuổi, đi ở cho nhà Bạch Thái ngoài Hải Phòng và đây là dịp giúp người có điều kiện đọc nhiều truyện cổ Trung Quốc, Truyện Kiều, truyện Nôm khuyết danh... Khi CM Tháng Tám thành công, phần vì nhiệt thành, phần chữ đẹp, được xã cử làm Giáo viên bình dân học vụ, trong Ban bầu cử QH khoá I của xã Cảnh Hưng ( chính quyền Cách Mạng lập mới trên cơ sở các xã: Mông Tràng Hạ, Phương Lạp, Tô...

Về ngày giỗ 18 tháng Chạp

Người Việt ta vốn hiếu kính với tổ tiên và cho rằng “ sự tử như sự sinh ” nên rất coi trọng việc kỉ niệm ngày mất của tiền nhân. Việc này được gọi là Chính kị hay Kị nhật và thực hiện theo nguyên tắc “ Ngũ đại mai thần chủ ” và “ Chiêu mục ”. Nguyên lý này xuất phát từ nhận thức “Thiên địa tuần hoàn chung nhi phục thủy” và cứ qua 5 đời là Cụ Tổ các đời trước đã đầu thai vào kiếp khác. Nên trong gia đình khi có người chết thuộc đời thứ 5 thì bài vị Cụ Tổ 5 đời được chôn đi và Vong linh Cụ đó được rước phối thờ cùng các bậc tiền nhân đời trước nữa, gọi là Tống giỗ . Như vậy, mỗi người chỉ cúng các bậc : Bố, Ông, Cụ, Kỵ còn các đời xa hơn sẽ dồn vào ngày Giỗ Tổ hay “ Chạp Tổ ” hết. Việc cúng giỗ thường thực hiện tại nhà trưởng nam hoặc người lập tự và thực hiện đúng kỉ niệm ngày mất. Trường hợp không có Nam kế sẽ theo nguyên tắc “vô tử dụng tôn”, “vô nam dụng nữ ” để việc thờ cúng không rơi vào cảnh “hương lạnh khói tàn” tủi vong hồn người quá cố. Xưa kia còn có buổi Tiên thường hay Cáo g...