Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 12 13, 2009

Lễ Lại mặt

Ngày nay, tục lệ cưới xin đã có phần đơn giản, nhanh gọn và tiết kiệm hơn nhiều, nhưng không vì thế mà mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc...Trong đó có vấn đề Lễ Lại mặt mà nhiều người hay quên. Theo cổ truyền “Lục Lễ bất chi, trinh nữ bất xuất”, trong đó khi Lễ Thành hôn xong xuôi có việc hai vợ chồng mới cưới trở về nhà gái. Khi về cần mang theo lễ vật để tạ gia tiên ông bà cha mẹ, đi chào họ hàng thân nhân bên nhà gái sau đó đón bố mẹ và vài thân nhân sang nhà chú rể. Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi đưa dâu. Mặt khác khi xưa việc hôn nhân là do mối lái mà trong đó không hiếm mối lừa. Do vậy thiếu gì trường hợp cười ra nước mắt nên cần lại mặt để cho hàng xóm biết được con gái mình được gả bán đúng nơi, đáng chốn. Khi xưa bởi quan niệm “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng” và màng trinh sẽ rách, chảy máu trong lần giao hợp đầu tiên nên đêm tân hôn có lót giấy bản (giấy thám trinh) để xem người con g...

Hoành phi

Hình ảnh
Trong nhà thờ họ hay tại nhiều gia đình đều có Hoành phi. Hoành phi (H:橫扉,A: The horizontal lacquered board, P: Le panneau laqué horizontal) nguyên nghĩa là bảng nằm ngang vốn là bức thư họa 書畫 (tranh chữ), được dùng rộng rãi trong dân gian (đình, đền, nhà thờ họ, nhà ở...). Hoành phi có nhiều loại, có bức hoành phi sơn son chữ vàng, có bức sơn đen chữ đỏ hoặc vàng, cũng có những bức được khảm xà cừ rất cầu kỳ, đẹp mắt. Tuy nhiên, đặc sắc và độc đáo nhất phải kể đến những hức hoành phi được làm bằng kỹ thuật “chạm đắp”, với việc chạm riêng một vài chi tiết như đầu rồng, đầu chim, các loại hoa văn...sau đó đắp vào bức chính. Hoành phi được làm bằng gỗ không mọt (như gỗ mít), được chạm lộng, chạm đắp, gắn kết với nhau thông qua ngàm mộng chứ không dùng đinh. Hoành phi cổ thường được cấu tạo theo hai dạng chính là dạng hình chữ nhật và hình cuốn thư, ngoài ra còn có bức dạng chiếc khánh, hình ô van. Những chữ Hán (không dùng chữ Nôm) viết trên hoành phi (大字 đại tự) thường theo 3 kiểu cơ b...

Hậu duệ ngành thứ Ba

Vì cụ Lẫm mất sớm, vô tự nên con cháu của người con thứ Tư (cụ Tú) thành hậu duệ ngành Ba. 1. Đệ Tam Chi Tổ: Lương Công Tú 第三枝宗 梁公秀 Cụ lấy 4 vợ (Nhượng, Dụng, Châu, Chiền), sinh 7 nam (Xưng, Hanh, Lân, Mã, Ly, Phượng). Kỵ 29/5, Mộ phần tại bản quán. Con cháu cư ngụ Mông Tràng Hạ, sau ở làng Hương và xóm Trại cùng Tổng, đổi là Lương Đức. Về sau một số con cháu vào Nam (1954, 1975), lên Lào Cai (1964-1971), số đông vẫn ở lại quê cũ [1] . 2- Hậu duệ ngành Ba : Ở lại Phương Lạp. Là Cụ Tổ ngành Ba [2] . Con cháu đổi thành Lương Đức chuyển đi nhiều nơi. Chép theo các bà vợ là : 2.1- Bà cả: Đào Thị Cỏn (Nhượng) : Người cùng làng. Kị ngày 18/2, không con. Cụ thạo việc, quán xuyến giỏi nhưng rất ghen [3] . Lúc đầu định không cho chồng lấy vợ lẽ, sau đổi ý cưới cho chồng 3 người thiếp nữa. Theo truyền lại thì Cụ Đồ Thiệu lập kế, cho người nhà ra cày ruộng của cụ Tú và nói rằng: “anh chị không người nối dõi, ruộng để em làm, không người ngoài họ lấy mất, phí đi”. Cụ Cỏn (Nhượng) biết chuyện, ...

Từ đường và việc xây Từ đường

Nhà thờ họ (chữ là Từ đường, H: 祠堂,A: The ancestral temple, P: Le temple des ancêtres) là một trong những thứ mà chỉ có ở các nước theo đạo Khổng. 1. Từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha), nơi được coi như nhà Tổ 茄組, nhà quy tụ con cháu dòng họ, đồng thời cũng là nơi thờ tự ông bà tổ tiên, nhất là các ngày giỗ trọng. Đây cũng là nơi Hội đồng gia tộc hội họp, giải quyết việc họ; là nơi con cháu thực hiện việc tạ lễ khi cưới gả, đi xa về, hoặc thi đậu, nhậm chức. Nếu xác định được Thái Thuỷ Tổ 太始祖 thì xây nhà thờ cụ này gọi là Khởi nguyên đường 起元堂. Nhà thờ họ phổ biến trong người Việt tại đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ. Với mỗi dòng họ, cùng với gia phả, nhà thờ họ là điểm tựa tinh thần của hiện tại từ quá khứ. Nhà thờ họ trường tồn tượng trưng cho một dòng họ bền vững, lâu đời. Đó là nơi lưu giữ những giá trị tinh thần to lớn; nơi lưu giữ gia phả, văn tự cổ cùng những sắc phong, tượng thờ...

Việc họ và vai trò Trưởng họ thời nay

Hình ảnh
Dù vật đổi sao dời, thế giới luôn biến động nhưng tới bây giờ, vấn đề huyết thống, dòng họ vẫn là một điều thiêng liêng trong đó có vai trò quan trọng của Tộc trưởng. Dòng tộc là cộng đồng những người có chung một ông tổ, cùng mang một họ về phía người cha. Dưới góc nhìn di truyền học thì điều này là vô lý, không bình đẳng nam nữ nhưng đó là truyền thống, là quan niệm dân gian cổ truyền tích tụ bao đời, sao mà thay được! Đứng đầu một họ có Trưởng họ 長族 tức là người con trai thứ nhất của chi thứ nhất hay còn gọi là chi trưởng, ngành trưởng. Những gia tộc ở miền Bắc Việt Nam, trưởng họ do “cha truyền con nối”. Trường hợp trưởng họ không có con trai thì truyền lại trong nội bộ chi trưởng, không truyền lại cho các chi dưới. Họ lớn có tộc trưởng họ lớn; các chi có trưởng chi. Người làm trưởng họ phải có phẩm chất, có tư cách đạo đức, được mọi người trong dòng họ tin tưởng, tín nhiệm. Nếu người đó hội đủ các yếu tố: Tâm ( 心 Hiếu đễ, Hòa kính, trách nhiệm …), Tài ( 財 khả năng tài chính...