Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 7 5, 2009

VAY TRẢ

Hình ảnh
Nhân ngày 08/3/2004 Sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai đến nhà Chúc mừng cô giáo, các em có hỏi: Chú tặng gì? - Tôi cười: : Chú tặng .."Hoa Bắp Chuối" và đọc bài này. Nửa cuộc đời, ngẫm lại thấy sững sờ: Vay, nợ ai nay thành người như thế ? Dẫu chưa cao hơn trời, chẳng sâu hơn bể Mà nợ này sao cứ thấy rưng rưng !. Thân vay mẹ những năm tháng lau rừng, Ý chí cha truyền từ Tổ tông, Xóm Bản. Kiến thức này vay của Thấy của bạn, Trái tim Hồng ngành đào luyện mà nên. Còn hậu phương giúp nên nghiệp vững bền, Là công em, chắc gì em đã nhớ ? Em là thế, luôn chắt chiu che chở, Lo cho chồng, lại vun đắp cho con. Chất dịu hiền từ cái thủa còn son, Lớn dần lên, mặc thăng trầm, mưa, nắng. Muốn nghìn lời, anh càng thêm im lặng, Chút quà mừng, xin lại khất em yêu: Vay mượn này đâu một sớm, một chiều, Nên chuyện trả chẳng tính năm, tính tháng. Hai Mẹ dạy gái, dâu ...

NGHĨA TRANG DÒNG HỌ

Xa xưa dân ta đã có tục lập và duy trì Nghĩa trang dòng họ nhưng mới hạn chế ở những họ "Cao môn lệnh tộc". Gần đây ý tưởng đó được phục hồi nhưng khốn nỗi đất đai đã là "công thổ quốc gia" và ngày một eo hẹp dần. Dù kinh tế khó khăn, đất đai hiếm nhưng trước khi xa quê Cha Chú tôi đã thực hiện một việc có ích lớn cho chúng tôi và con cháu sau này. Năm 1964 trước khi lên Lào Cai, bố và chú tôi đã cho chạy những ngôi mộ thuộc gia đình tôi gọn vào một chỗ. Nghe kể lại việc tìm rất khó bởi trước kia chỉ là mả đất, quá trình cuốc, đắp, rồi tiểu chôn sâu tự trôi nên phải thuốn tìm mấy ngày mới tìm đủ. Mộ ông nội tôi là mộ tưởng niệm, mộ 2 bà cô không phân biệt rõ của ai vào ai. Tuy biết rằng “Nhất dương thắng Thập âm” nhưng hồi đó phong trào tìm đất chưa thịnh, lại gấp và nghèo nên gia đình đặt mộ các cụ vào khu đất mà thôn định sẵn và không khắc bia đánh dấu...

VI.2. Đệ lục đại Tổ (2): LƯƠNG ĐỨC DẬT

Trời phú khéo tay, trải biết bao nghề-Gây dựng cơ đồ giữ chữ Đức, chữ Nhân , tiếng còn thơm mãi, Đất bồi vượng khí, qua khắp mọi miền-Cặp rèn con cháu: phải vì Nước, vì Dân, danh vẫn lưu truyền. VI.2.1- Cuộc đời: 梁德溢 (逸) Sinh năm 1925 ( Ất Sửu, năm Khải Định thứ 10 hoặc Bảo Đại thứ nhất ). Thủa nhỏ được mẹ chiều nên ham chơi hơn học [1] . Nhưng bù lại rất khéo tay, nghề gì cũng tự mày mò, làm được [2] . Tuổi thanh niên ít tham gia công tác. Cuối cuộc kháng chiến từng bốc vác, chèo đò đưa cán bộ, du kích qua sông ở Bến Khuể. Sau hoà bình tích cực tham gia các phong trào văn nghệ ở thôn. Năm 1962, 1963 làm thợ mộc đi xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên. Khi ở quê vì đất chật nên 2 anh em chung sân, chung bếp. Anh (Thân) thiên về làm “thầy” ( dạy học, văn nghệ ) thì em lại chăm chú học làm “thợ”. Hết làm mộc lại tự học làm thợ rèn, thợ cắt tóc, thợ may sau còn thổi cả kèn đám ma nữa [3] ! Quanh năm vất vả xoay đủ nghề nhưng không khá giả lên được. Tháng 2/1964 đi khai hoang ở An Phong, Pho...

71. CÔNG CUỘC KHAI HOANG MIỀN NÚI:

"Đồng xanh ta thiếu đất cày, Nghe rừng lắm đất lên đây với rừng". 1. Bối cảnh đất nước: Trong những năm 1958-1961, miền Bắc đã tiến hành cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi và đã đạt được nhiều thành tích.Tuy nhiên, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền núi chưa thật vững và một số mặt còn rất yếu. Một trong những nguyên nhân đó là, trong khi tiến hành vận động hợp tác hoá nông nghiệp ở miền núi, chúng ta đã chưa nhìn thấy rõ những đặc điểm phân tán và trình độ phát triển không đều của các vùng. Chúng ta đã tích cực lợi dụng những thuận lợi của miền núi để phát triển mạnh hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở những nơi có điều kiện là đúng, nhưng lại đã không thấy hết những khó khăn của miền núi để giải quyết các vấn đề đặt ra một cách thận trọng và vững chắc; nhiều mặt công tác còn rập khuôn gần giống như miền xuôi, vùng cao gần giống như vùng thấp v.v.... 2. Quyết sách: Nghị quyết của Hội nghị...

9.2.2.a.Ý NGHĨA CÁC CON SỐ CỦA HỌ VÀ TÊN

Đặt tên là để gọi nhau, Ai hay trong đó gợi câu sang hèn. SỐ 0: SỰ LIÊN HỆ CỦA MẶT TRỜI BẢN CHẤT Nhằm vào số này, bản chất yếu ớt, hay cảm động, không được bình tĩnh trước một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết mau lẹ, hay ngờ vực thường hay mang lấy thất bại, cuộc sống có phần bê bối. Trong bản tánh của con người thường hay thay đổi không có một sự nhất định căn bản. Có sự nghiệp rồi cũng bị đổ vỡ sau đó. SỞ THÍCH Ưa xa hoa, thích màu sắc lộng lẫy, hay đa tình, đa cảm, có nhiều tự ái, không chịu lời lẽ cứng rắn, thích dịu ngọt và êm đềm, thích sống riêng lẻ, không có óc xã giao, không ưa bạn bè làm rộn hay những việc có tính cách chạm đến cá nhân, thích đi xa hay tìm tòi những cái gì đẹp đẽ, lên xe xuống ngựa. TÌNH DUYÊN Tình duyên thường hay có nhiều thắc mắc hay nghi ngờ, không được tốt đẹp lắm cho vấn đề này, cuộc sống có phần trầm lặng, khó hiểu, chuyện tình duyên dang dở lúc đầu, sau thành công nhưng không được ăn đời ở kiếp. Cuộc đời trong tương lai có việc thương đau về vấ...

9.2 DANH TÍNH VỚI VẬN SỐ VÀ CÁCH ĐẶT TÊN CHO CON

"Họ" 姓 là để nhận biết nhau giữa những người chung một tộc 族, còn "Tên" 名 là chỉ đích danh thành viên của họ đó. Như vậy họ và tên đầy đủ (H: 姓名, A: Full name) của mỗi người là để khẳng định người đó tồn tại trong xã hội. Song giữa danh tính và vận số cũng có những mối quan hệ nhất định. 9.2.1.Ý nghĩa văn hoá và tâm lý : Khởi nguồn cái tên là biệt hiệu riêng của mỗi người dùng trong giao dịch, khẳng định tư cách thành viên xã hội của người đó. Đồng thời nó cũng biểu thị tình cảm, ý chí, mong muốn, tâm tư...của người đó. Việc đặt tên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cái tên có vai trò ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả một đời người. Cái tên của mỗi người chính là biểu tượng phản ánh toàn bộ chủ thể bản thân con người ấy, dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày. Vì lẽ đó, cái tên tạo thành một trường năng lượng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến vận mệnh mỗi con người. Vận số mỗi người ngoài sự chi phối của Giờ, Ngày, Tháng...

NGÀY GIỖ TỔ NGÀNH

Con cháu họ ta, cũng như người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tín ngưỡng: Đạo ông bà. Nhưng do nhiều nguyên do mà việc tưởng niệm này được thực hiện khác nhau. Việc Giỗ Tổ ngành Ba cũng vậy. Đúng ra việc Giỗ Tổ Ngành Ba là vào ngày 24 ( có chỗ viết 29 ) tháng 5 là ngày kị của Tổ phụ Lương Công Tú và do hậu duệ cụ Hợp ( cháu trưởng cụ Tú với bà hai Nguyễn Thị Dụng) đảm trách. Nhưng con cháu cụ Hợp rời bản xã lên Tôn Lộc, lập ra xóm Trại ( khoảng 1900) và hậu duệ sau hòa bình 1954 đã đi Nam, tiếp sau 1975 cũng vào Nam nên chẳng còn ai. Sau quan viên họ họp lại thấy tháng 5 bận thu mùa nên đã chuyển việc giỗ họ từ ngày kị Tổ phụ sang ngày kị Tổ mẫu (19/2) và thực hiện tại nhà Lương Đức Thực ( hậu duệệ của em cụ Hợp là cụ Hòa) ở Hạ. Sau khi L.Đ.Thực mất, từ năm 2006 chuyển Lương Đức Bường , nghi lễ thường đơn giản. Vì sinh kế, con cháu, kể cả trong cùng chi phái, không thể quanh nơi Tổ gốc. Việc lập Bàn thờ Vọng , ti...