NGHĨ VỀ TUẦN, THỨ
N goài đơn vị thời gian thiên nhiên “tạo” sẵn như năm, tháng, ngày, con người cần phải có cách đo lường thời gian riêng đáp ứng nhu cầu riêng của mình. Từ đó sinh ra những chu kỳ nhân tạo và nó trở nên đa dạng một cách kỳ diệu. Trước hết, nói về “ tuần ”. Thuật ngữ này, Hán tự ghi bởi chữ 旬 , chỉ khoảng thời gian 7 ngày, 9 ngày hay 10 ngày. Hết thời gian đó lại quay lại nên gọi là “ tuần hoàn ” (H: 循環 , A: To circulate . P: Circuler ). Ví dụ: Tuần thất ( 旬七 , A: The period of seven days , P: La période de sept jours ) là tuần 7 ngày; Tuần cửu (H: 旬九 , A: The neuvaine , P: La neuvaine ) là khoảng thời gian 9 ngày; Tuần nhật (H: 旬日, A: The decade , P: La décade ) là tuần 10 ngày; Tuần trăng (H: 旬月 , A: The period of the moon , P: La période de la lune ) có 29,5 ngày tức 1 tháng âm lịch; Tuần hương 循香 - Tuần sơ 循初 - Tuần trung 循中 - Tuần chung 循終 là lần dâng hương đầu, giữa, cuối. Tuần lễ (H: 旬禮 , A: The week , P: La semaine ) là một trong những nhóm đơn vị thời gian nhân t...