Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 7 12, 2009

VI.1.2- Quê và họ hàng bên vợ Đệ LỤC ĐẠI TỔ

Đệ lục đại Tổ Lương Đức Thân đã từng lấy một người vợ quê bên Tiên Lãng , Hải Phòng. Một lần đi chợ không thấy về, gia đình có tìm nhưng không được. Sau lấy người vợ hiện tại làng Cốc cùng xã. VI.1.2.1- Quê vợ : Thôn Cốc Tràng 谷場 xã Chiến Thắng, thường gọi là làng Cốc 廊谷, cách làng Hương chừng 1,5 Km qua làng Hạ và một cánh đồng. Đây là thôn có từ xa xưa và nằm phía Đông Nam của xã. Cư dân ở đây gồm 17 họ nhưng đa phần là họ Phạm. So mặt bằng chung thì làng Cốc khá giả hơn và có cả người đi Lương lẫn người theo Đạo. Giữa 2 làng thì các họ Đào, Phạm, Lương nhiều nhà thông gia với nhau. Đây là làng cuối xã, có cả Chùa và Nhà Thờ và những năm 2000 là nơi có phong trào khuyến học khá. VI.1.2. 2- Họ Phạm : Họ Phạm [1] là một họ phổ biến ở Việt Nam. Đây cũng là một trong các họ của Trung Quốc. Theo “ Nguyên Hà Tính Toản ” và “Lộ Sử”, Lưu Luy thuộc dòng Đế Nghiêu 帝堯 thời Ngũ đế 五帝. Lưu Luy lập ra tiểu quốc Đường 唐 ( nay là vùng Sơn Tây, TQ ) và người ta thường gọi là Đường Đỗ Thị. Vào triề...

Nhớ buổi KHAI CƠ

Tháng 02/1964 các thành viên của 9 hộ, 56 khẩu người Chiến Thắng ( Ruẩn, Thông, Thân, Rật , Nguyên, Thiếp, Nhỡ, Thoả, Ngà ); 5 gia đình, một số hộ độc thân ( Ru, Ơn, Mậm, Dâng, Ngần ) ở An Thái với 23 khẩu cùng 5 gia đình gồm 20 khẩu ở Mỹ Đức ( Kịch, Đồng, Diêm, Đế, Phước ) rời quê hương An Lão, Hải Phòng lên Phong Niên, Bảo Thắng, Lào Cai khai hoang lập ra HTX An Phong. Chim trời tìm đậu cành xưa, Con ong kiếm mật vẫn về tổ quen. Mưu sinh qua khắp trăm miền, Sang hèn từng trải, nỗi niềm chẳng nguôi. Giáp Thìn, Xuân ấy rời nôi [1] , Lên xây quê mới giáp nơi biên thuỳ. * Bồi hồi nhớ buổi ra đi, Bốn nhăm năm ấy, bây giờ là đây. Trào vui nhớ lại những ngày, Cỏ môi, vắt, muỗi, những cây cùng rừng. Nhớ, Buồn, Rét, Đói đã từng, Mồ hôi, Máu đổ nên làng xóm nay. * Nào đâu sẵn cỗ mâm bày, Vi vu phải nhớ tới ngày khai cơ. Ra khơi vẫn nhớ bến bờ, Chuyện xưa chép lại, nhắc khi nhãng lòng. Dâng tiền nhân nén “Tâm nhang”, Khuyên răn hậu t...

DI CƯ lập nên CHI PHÁI MỚI

Di cư là sự thay đổi chỗ ở của các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư do nhiều nguyên nhân: điều kiện tự nhiên ( thiên tai, đất chật người động, thời tiết khắc nghiệt …), điều kiện sống ( mức sống thấp, nghèo đói ...), chiến tranh, đoàn tụ gia đình, cư trú chính trị, lẩn tránh pháp luật ( tội phạm ...). Còn việc thay đổi chỗ ở tạm thời trong chiến tranh hoặc thiên tai thì gọi là tản cư . Lịch sử Việt Nam thời hiện đại ghi nhận một số cuộc di cư lớn, Chính những đợt di cư này đã tạo ra những chi phái mới từ họ gốc ở cố hương. Họ Lương Đức xã Chiến Thắng , huyện An Lão , thành phố Hải Phòng cũng vậy. Di cư năm 1954 là sự kiện xảy ra sau Hiệp định Genève tại Việt Nam, bao gồm dòng người từ miền Nam “ tập kết ra Bắc ” và một dòng người lớn hơn với gần một triệu người “ di cư vào Nam ”. Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17 ....

Thủy tổ: LƯƠNG ĐẮC BẰNG

Tương truyền Tổ họ Lương Đức ở Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng (gốc của dòng Lương Đức Lào Cai) là hậu duệ đời thứ 11 của Bảng nhãn Thượng thư Lương Đắc Bằng nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm được cứ liệu. Không biết Gia phả dòng họ ở Tiên Lãng, Vính Bảo hay Thanh Hóa có chi tiết nào chép về chuyện này không? Dù Bảng nhãn Lương Đắc Bằng không có là Thủy tổ trực hệ của dòng họ Lương Đức Chiến Thắng thì cũng vẫn là một Danh nhân đáng kính, đáng tự hào cho mỗi con dân tộc Lương. Lương Đắc Bằng 梁得朋 ( 1472 - 1522 ), danh thần đời Lê sơ, người làng Hội Triều ( Hoằng Hoá, Thanh Hoá ). Công trạng: Năm Kỷ Mùi 1499, ngày 10/7, mới 28 tuổi, trong khi ứng chế với đề 五王帐”Ngũ Vương trướng” [1] được ưu hạng, được thưởng bậc nhất đỗ Bảng nhãn (榜眼, tức là Trạng nguyên 狀元 dưới triều Lê) đời Cảnh Thống 景統 Lê Hiến Tông. Từng cùng các đại nho: Đông các học sĩ Nguyễn Nhân Thiếp, Lê Ngạn Tuấn, Lê Mậu Thưởng, Nguyễn Xung Xác, Hàn lâm viện thị t...