Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 5 10, 2009

150. Bài văn KHẤN, ĐIẾU, TẾ́ dùng trong VIỆC HỌ

1. Định nghĩa : Văn tế, văn khấn là những lời nói sửa soạn trước cho được nghiêm chỉnh với việc dùng từ ngữ cẩn thận và cách thức kính cẩn trình bày lên các đấng thần thánh, với tổ tiên trong các lễ tế hay cúng giỗ. Nội dung nói về tính nết, công đức, sự nghiệp, và kỷ niệm của tiền nhân hay người thân mới qua đời để tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và thương tiếc của người sống đối với người chết. 2. Bố cục: 1. Phần mở bài Phần mở bài của bài văn tế thường dùng để nói về lai lịch của người quá cố và ngày giỗ (huý nhật) của họ, ngày tháng năm và địa điểm tổ chức cúng tế, và sự liên hệ giữa người sống và người chết. Phần mở bài này thường bắt đầu bằng chữ “Duy” (Duy Việt Nam quốc lịch) hay các nhóm chữ như: “Vọng tưởng Đấng ngàn xưa,” “Than ôi!” “Than rằng,” hay “Thương ôi!” Sau đó là một đoạn thơ hay văn để mở đầu cho bài văn tế. 2. Phần ngợi ca: Nói về tính nết, công đức, sự nghiệp và kỷ niệm của tiền nhân hay của người thân đã qua đời. Phần này thường bắt đầu bằng các từ như “Nhớ ơn Quốc tổ,” “N...

HỌ VÀ TÊN của người KINH

Khái quát chung : Thông thường, họ tên 姓名 người Việt được nói và viết theo thứ tự: Họ + Tên đệm + Tên chính. Cá biệt có hơn 1000 người nam thuộc 9 dòng ở 3 thôn Cẩm Khê, Bối Khê, Cẩm Bối, xã Liên Khê, Khoái Châu, Hưng Yên đều bắt đầu bằng Họ đệm là Đỗ như Đỗ Tràng, Đỗ Văn, Đỗ Bá, Đỗ Quang, Đỗ Đình, Đỗ Trí, Đỗ Đắc, Đỗ Khoa, Đỗ Trọng. Chữ Đỗ ở đây không phải là họ mà chỉ là chữ đệm, còn họ chính là chữ thứ nhì như Tràng, Văn, Bá, Quang, Đình ... trong khi con gái thì lại đặt tên có họ chính đứng đầu như người bình thường như Tràng Thị Xuân, Văn Thị Thu ...Điều đó được quy định bởi một tục lệ có từ lâu, nên đã xảy ra nhiều chuyện rắc rối về tên họ. Thậm chí, nhiều người đến tuổi trưởng thành không làm được chứng minh thư nhân dân. Thực ra các họ Tràng, Văn, Bá...đã có từ khoảng 700 năm trước, khi lưu lạc về đất Khoái Châu, Hưng Yên, do một nguyên nhân nào đó mà bắt buộc cụ tổ của các họ này phải cải họ để không bị phát hiện ra họ thật của mình, chính vì vậy mới lấy thêm chữ Đỗ đặt ra n...

GIA ĐÌNH, GIA LỄ, GIA PHONG

139. Đời sống GIA ĐÌNH: Trong xã hội truyền thống Việt Nam trước đây, một gia đình điển hình thường bao gồm ba, bốn thế hệ cùng sống chung. Với tâm lý “nhiều con, nhiều lộc” nên mọi gia đình mong muốn “con đàn, cháu đống”. Do ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo và quan niệm phong kiến “trọng nam, khinh nữ”, con trai luôn được coi là trụ cột trong gia đình và có tiếng nói quyết định. Còn phụ nữ phải tuân thủ lễ giáo phong kiến ‘tam tòng, tứ đức” (lúc nhỏ sống dựa vào cha, lớn lên lấy chồng phải tuân thủ theo chồng, chồng chết phải ở vậy sống theo con trai). Kể từ khi đất nước thống nhất, Nhà nước Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản luật, điển hình là Luật Hôn nhân và Gia đình để điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình cho bình đẳng hơn. Bên cạnh đó, nhiều biện pháp tuyên truyền vận động cũng được thực hiện nhằm thay đổi nhận thức lạc hậu của người dân, đảm bảo bình đẳng giới, đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của phụ nữ. Ngày nay, quy mô một gia đình hiện đại Việt Nam có xu hướng thu hẹp lai...

81. Về QUAN HỆ VIỆT-TRUNG và VẤN ĐỀ BIÊN GIỚI

Hình ảnh
Những gia đình Lương Đức từ đất Tổ lên khai hoang lập nghiệp tại vùng phên dậu Tây Bắc này đã gắn cuộc đời với sự thăng trầm của xứ này. Do vậy quan hệ Việt-Trung không chỉ là của quốc gia mà nó ảnh hưởng trực tiếp tới mọi người. 1. Mối quan hệ tự nhiên do điều kiện địa lý: Việt Nam một mặt giáp biển, ba mặt giáp lân bang. Nhưng tổ tiên ta không thể mở về Đông ( biển ) chỉ có thể mở mang lãnh thổ về phía Nam, một phần sang phía Tây và khẳng định chủ quyền tại các vùng “đệm” ở miền Tây, Bắc. Còn phía Bắc phải căng mình chống lại cuộc “nam chinh” của Thiên triều. Do điều kiện địa lý và văn hóa nên giữa 2 nước có mối quan hệ từ lâu đời và ngoài các cuộc xâm lăng thì những tranh chấp lãnh thổ qua các thời kỳ từng để lại nhiều dấu ấn trên mảnh đất biên cương. Trong mối quan hệ đó thì các triều đại Phong kiến Trung Hoa luôn coi Đại Việt là nước man di 蠻夷 , là phiên thuộc không ngừng nhòm ngó xâm lược, xâm lấn hay đồng hoá. Là một nước nhỏ, không cách nào khác các chính quyền phong kiến...