Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 11 18, 2012

Từ điển Quan chức Việt Nam thời trước

Hình ảnh
Quan lại nhà Nguyễn (ảnh ST) Khi học sử hay đọc, tục biên Gia phả thường gặp những thuật ngữ cổ mà nay đã không dùng hay ít dùng hoặc còn dùng nhưng đã thay đổi về nội dung nên rất khó, đôi khi hiểu sai. Hôm rồi tình cờ thấy Từ điển chức quan Việt Nam của Đỗ Văn Ninh, Nhà xuất bản Thanh niên năm 2006 đã được số hóa trên trang http://www.hannom.org.vn đánh dấu trang này để tiện tham khảo khi cần. 

Nghĩa Tào khang còn không trong thời kinh tế mở?

Hình ảnh
LĐM vẽ lại để minh họa Hôm nọ, nhân chuyện có người vừa qua lần Đại phẫu nhưng vợ đi đâu không rõ, nhà cửa vắng lạnh, tôi viết trên Facebook : “Vợ chồng là nghĩa Tào khang, Cớ sao bỏ bẵng khi chàng đang đau”. Con gái tôi hỏi “Tao khang chứ bố!”. Để tranh luận với cô Thạc sĩ Ngữ văn này, tôi lục tìm tư liệu mới thấy chữ này gắn với một câu chuyện rất hay, rất cảm động về tình nghĩa vợ chồng, về sự thủy chung. Thuật ngữ này xuất phát từ một Điển cố / Điển tích (H: 典故 / 典跡   , A: Classic allusions / Classic examples , P: Allusions classiques / Exemples classiques, chỉ   những việc có chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại trong một từ ngữ hay một thành ngữ ) từ hai nghìn năm trước mà có nhiều di bản khác biệt chút ít. Đấy là chuyện về ông Tống Hoằng ( 宋弘 , ? - ? ) thời Đông Hán ( 東汉 , 25 - 220 ). Dựa vào Hậu Hán Thư ( 後漢書 do Phạm Diệp ( 范曄 , 398 – 445 ) biên soạn vào thế kỷ thứ 5 ) và vài bản dịch khác có thể tóm lược như sau: Tống Hoằng 宋弘 , tự ...