Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 6 21, 2009

III.5- HẬU DUỆ của Tam Tổ

Tam Tổ sinh 5 nam là: Hinh (2 nam), Tuynh (8 nam), Chinh (2 nam), Thành (3 nam), Trinh (2 nam). III.5.1- Cụ Hinh và hậu duệ: Cụ mất ngày 01/7. Cụ bà Đào Thị Còi 孤, kị ngày 01/11 sinh được 2 nam là Phức (Kị 01/6, vô tự), Mạo và một người con gái là Lục làm dâu họ Phạm [1] Cốc Tràng. III.5.1.1- Hậu duệ ở lại quê : * Đời thứ 5: L.Đ. Mạo [2] (Kị 01-11) [3] có vợ là Đỗ Thị Phề (Kị 15-5), các cụ sinh 2 Nam là Công và Liêm. Cụ có công khơi mào soạn lại Gia phả họ . * Đời thứ 6: L.Đ. Công [4] (Kị 01-9), vợ là Vũ Thị Nội (kị 07-10 hay 17/10 ?) sinh 2 Nam là Hồng và Đào, 2 nữ là Giản, Dị. L.Đ. Liêm (kỵ 08/4 N Ất Mão), vợ là Vũ Thị Hợi (kị 27/11), sinh 6 Nam là Tiêm ; Hiệp (1 Nam); Nhiếp (1 nam) ; Riếp (1 nam); Diệm (2 nam). Tất cả đều ở quê, làm ruộng. * Đời thứ 7: L.Đ. Hồng (Kị 03-02, vô tự). L.Đ. Đào (kị 15-Chạp) vợ là. Sinh 2 Nam là Tơ và Liễu. L.Đ.Tiêm: không con trai, mất 17 tháng 2 Canh Thìn (tức là 22/3/2000). L.Đ.Nhiếp: Mất 23/8/2004, tức là ngày 08/7 Giáp Thân. 2 đời vợ, có 1 ...

III/ Đệ Tam đại Tổ: LƯƠNG ĐỨC HANH

Tam Tổ nổi tiếng vềề những giai thoại còn lưu truyền và cũng để lại nhiều hậu duệ nay trải khắp các miền. III.1- Thân thế, ngày kị, mộ phần: 第三代祖梁德亨 là con của bà Ba với Nhị Tổ. Cụ nhà giầu, cai trị giỏi. Trước làm Lý trưởng 里長 sau làm Phó Tổng 傅總. Kị 15/Chạp. III.2- Cụ có 2 vợ : + Bà cả Đặng Thị Chẻo : Người Mông Tràng Thượng (Kị 11-G) là thân mẫu của các cụ Hinh, Tuynh, Chinh, Thành. + Bà hai: Không tìm được ghi chép về họ tên, ngày mất và mộ phần [1] . Sinh 01 Nam: Trinh. Quanh chuyện về hậu duệ của cụ Tú có nhiều giai thoại, rất khó kiểm chứng, nhưng một số dấu tích và chi tiết lại phản ánh tương đối rõ: III.3- Về thế đất : Khi Tam Tổ sinh nam tử (Cụ Hinh) có thày địa lí đi qua coi thế đất và phán rằng: Gia trang Cụ Lý đặt trên đầu rồng, với 2 mắt rồng là ao tròn [2] và ao trước nhà thờ Tổ, do đó cụ tuy giầu, đông con (4 nam) nhưng có nguy cơ tuyệt tự, con cháu dễ vào vòng lao lý, cần phải trấn yểm. Đầu tiên là cần trồng đủ 100 bụi duối dọc phía mi mắt rồng, khi nào cố bà sinh đủ...

II. Đệ Nhị đại Tổ: LƯƠNG CÔNG TÚ

Nhị Tổ lấy 4 vợ, con cháu nay có khắp từ Nam ra Bắc, từ xuôi lên ngược. II.1- Thân thế: 第二代祖 梁公秀 con thứ Ba của Tổ, thuỵ Đức Long [1] 德隆, người thuần thục, gia tài giầu có nhưng muộn đường con cái. Kị ngày 29/5 (có nơi ghi là 24/5). II.2- Cụ có 04 vợ: II.2.1- Bà cả: Đào Thị Cỏn (Nhượng) : Người cùng làng. Kị ngày 18/2, không con. Cụ thạo việc, quán xuyến giỏi nhưng rất ghen [2] . Lúc đầu định không cho chồng lấy vợ lẽ, sau đổi ý cưới cho chồng 3 người thiếp nữa. Theo truyền lại thì Cụ Đồ Thiệu lập kế, cho người nhà ra cày ruộng của cụ Tú và nói rằng: “anh chị không người nối dõi, ruộng để em làm, không người ngoài họ lấy mất, phí đi”. Cụ Cỏn (Nhượng) biết chuyện, bực quá mới để cho cụ ông lấy thêm thiếp và thề rằng kể cả lấy người ăn mày, nếu người này có con. II.2.2- Bà hai: Nguyễn Thị Dụng: II.2.2.1- Quê, ngày kỵ và con: Cụ người Đông Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Mất ngày 19/2. Bà này sinh được 01 nam là Lương Đức [3] Xưng (kị 27/02 hay 27/Giêng), vợ là Vũ Thị Đào, kị 15/10. L.Đ. Xưng...

Mấy ĐÁM CƯỚI trong gia đình

PL.12.3- Đám cưới của tôi, thời « bao cấp »: - “ Ăn hỏi và dẫn lễ ”: Chỉ còn ít hôm nữa là Tết 1982 (Nhâm Tuất) nhưng vì công việc không xin phép nghỉ được. Việc xác minh Lí lịch của PTM, Lưu Long làm đã xong, Phòng Tổ chức duyệt hôm 23 Tết. Riêng chuyện “ra mắt” và báo cáo gia đình thì chưa làm được. Mãi Thứ Ba 19/01/1982 (25 Tết) cả 2 chúng tôi mới được nghỉ. Hai đứa không kịp sắm gì, chỉ báo cáo nhanh với cơ quan 2 bên rồi ngược tầu về ngay. Trên tầu gặp Nguyễn Bá Hanh (học cùng tôi năm cấp II, lấy Vân là con gái thầy Nhẫn. Năm 1988 chuyển vào Lâm Đồng) tôi viết thư về nhà nói ý định cưới và “phân công” trách nhiệm cho gia đình và các em. Tôi và HM xuống ga Lu đi tiếp lên Gia Phú. Đến Bến Đền đã 10 giờ đêm. Khi đó gia đình còn ở tạm trong lán nương trong lòng hồ Chính Tiến, lần mò mãi, gần nửa đêm mới tới nhà. Nhạc phụ chắc cũng chả nhận ra con rể vì mới gặp một lần. Tôi từng được cha dạy: “Phối thất chi tế, vạn phúc chi nguyên”, việc hôn nhân là cội nguồn của mọi hạnh phúc, đó...

NHÂN NGÀY GIA ĐÌNH VIỆT NAM 28/6

Hình ảnh
Từ khi UNESCO lấy ngày 15/5/1994 làm Ngày Quốc tế gia đình ( International Family D ay), Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định Số 72/2001/QĐ-TTg lấy ngày 28/6/2001 là Ngày Gia đình Việt Nam , Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em ban hành Thông tư số 07/2001/TT-BVCSTE hướng dẫn thực hiện quyết định đó thì việc nghiên cứu về gia đình càng được chú trọng trong đó vấn đề tìm lại, soạn Gia phả ở Việt Nam được quan tâm, chú ý rộng rãi hơn. Một cách chung nhất, Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng , quan hệ giáo dục và quan hệ kinh tế . Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Khi bước ra khỏi thời kỳ dã man là lúc con người biết đến Gia đình. Đó là một thiết chế xã hội dựa trên cơ sở ban đầu là sự kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, gắn bó nhau bằng nghĩa tình, huyết thống xây dựng thành một tổ ấm tinh thần và vật chất để thực h...