[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

VĂN KHẤN NGÀY GIỖ ÔNG NỘI

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính nghe: Người ta sinh ra có cha mẹ, ông bà nên cháu con không quên ngày Chính kị, bởi thế:
Hôm nay là ngày 29 tháng Giêng năm Đinh Dậu, vào năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là vào Chủ Nhật, ngày 25 tháng 02 năm 2017 là ngày tưởng niệm Tổ khảo Lương Đức Trính rời nhà ra đi ngày 29/Giêng; Mộ vọng quy tập đặt tại nghĩa địa nhân dân thôn Phương Hạ xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng từ tháng Chạp năm Giáp Tuất 1994,
Tại gia từ ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Tín chủ con Kính lạy: Chín phương Trời, Năm phương Đất, Chư Phật mười phương; Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần;
Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan;
các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân: Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, Thổ địa Long mạch Tôn thần, Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần và Chư vị thần linh cai quản xứ An Phong.
Hậu duệ tôn Lương gia sinh sống tại Lào Cai Kính lạy: Hương linh Tổ khảo Lương Đức Trính;
Kính lạy Tằng tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ; Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh; Tổ cô: Lương Thị Mẹt; Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ: Hiển khảo Lương Đức Thân cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ,
Con: Lương Đức Mến tuổi Ất Mùi, SN 1955; Là Trưởng Nam của Lương gia gốc Phương Hạ, Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng, chuyển quán hiện ở: thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai cùng Mẫu thân, các em, các con, các cháu tụ họp tại Gia đường kính cẩn thưa trình:
Nhân tưởng nhớ Tổ khảo, toàn gia chúng con lòng thành sắm sanh lễ vật: hương hoa, trầu thuốc, nước, rượu cơm canh, cúng dâng trước án
thành tâm kính mời: Ngài Đương Niên Chi Thần, Đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần; Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, Bản xứ Thần Linh Thổ Địa; Ngài Định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa long mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần Linh cai quản ở trong khu vực này;
Chúng con tiếp kính thỉnh Hương linh Tổ khảo, Lương tộc lịch đại tổ tiên, các bậc phụ thờ theo tiên tổ cùng các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh khai mở đất này, lẩn khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn uổng tử không nơi nương tựa, các hài nhi yểu mệnh
xin cùng giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, Chứng minh lời khấn nguyện của cháu con:
Nhớ tiên linh xưa :  
Úc Giang ôm đất địa linh; Tượng Sơn rợp che quê Tổ. 
Lớn lên khi ách đô hộ phủ khắp xóm làng; Vượt khó khăn cũng học hành có văn có tự.
Được ưu bổ Lý trưởng chăm sóc việc làng; Lo bênh dân quan trường trễ nải nên cảnh nhà khốn khó.
Ham chén rượu cuộc cờ, làng thiếu thuế liên miên; Vui cánh diều câu hát chị bù chì không đủ.
Hôn phối tăng tình thân họ Đặng họ Lương; 6 bận gieo gặt hái 4 lần biết bao gian khó.
Thủa hai gái gia cảnh khó khăn; Biệt vợ con ra làm phu mỏ.
Họ tìm về sinh tiếp hai trai; Đời túng quẫn quyết đi tháo gỡ.
Sau hội làng mở lối cổng sau; Bặt tin tức không nhời nhắn gửi.
Người vợ hiền xáo, xén tìm kế sinh nhai; Đàn con lớn lên trong gian khó.
Thế rồi đến 1964:
Vợ và các con các cháu quy tập mộ phần người cùng là tiên tổ;
Rời bỏ chốn chôn rau, lên biên cương, thực thi khai hoang rừng rú.
Lại những ngày tay trắng khai cơ chặt cây mở lối, san núi, be bờ, dạ luôn hướng tới tương lai; Qua bao bận chí bền vượt khó, chiếu đất màn trời, vỡ ruộng, dựng nhà lòng vẫn nhớ về đất Tổ.  
Một thời khai hoang, mặc muỗi độc rừng thiêng; Mấy bận xây nền, dù đói ăn vất vả.
Hậu duệ nay:
4 trái xưa thành 3 đại gia đình, 9 con chỉ còn dâu trưởng; Cháu nội ngoại đến trưởng thành có 15, dựng gia thất thành 29 cả rể dâu nay còn 21 dẫu chưa giầu nhưng có ăn có để;
41 chắt kéo thêm về thành 74 nay còn 71: đứa sĩ quan, đứa kĩ sư, đứa giáo viên, đứa xới xáo làm ăn, đứa còn đang đi học;  Chồi lan quế kị có 63 chút nội, ngoại, gái, trai đầy đủ.
Gốc Tử phần tu dựng Từ đường; Nơi Nghĩa địa đẹp mồ tiên tổ.
Nay nhớ người trong giờ tưởng niệm:
Sắm hương, nến, trà, rượu, cau, trầu, nước với quả và hoa;
Bầy muối, xôi, gạo, gà, canh, cơm cùng vàng và mã.
Tâm thành kính tụng, thắp nén hương thơm;
Bày lên trước án, cúi xin thấu tỏ.
Thành tâm kính mời:
Các chư Phật, Thần, Thánh, các bậc Tiên linh;
Những người mở đất, Tiền chủ cùng Hậu chủ.
Kính Vong linh Tổ khảo ngược đường đất lên đây
Về Gia đường giáng lâm, chứng giám, cùng là nạp thụ.
 Cầu Thần, Phật, Tổ tiên, Hương linh ban ân, ban phúc:
Toàn năm hưng thịnh: vượng phúc đẹp ân;
Mọi chỗ tốt lành: dương cơ âm mộ.
Phù hộ cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;
Độ trì để hậu nhân: Luôn gặp việc may, vượt qua điều hạn, thêm của thêm người, thẳng đường tiến bộ.
Già tinh anh giữ vững ngọn cờ, Trẻ công tác, lao động mọi đường hoan lộ
Bé bú mớm hay ăn, chóng lớn, luôn gặp vía lành;
Người học hành mạnh khỏe, chăm ngoan, đã thi là đỗ.
Sau tuần cúng lễ:
Khi hương đã tàn: vàng, mã, áo, quần thiêu hóa gửi xuống cõi âm;
Lễ vật phẩm thừa: xôi, rượu, canh, thịt, cháu con thụ lộc.
Văn khấn đôi dòng; Tâm nhang một nén.
Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.

 (Trưởng Nam Lương Đức Mến, cẩn soạn, Vũ Thủy Đinh Dậu, 02/ 2017)

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

VĂN KHẤN NGÀY GIỖ VỌNG TỔ

1. Khấn Thổ thần, Long mạch trước khi Giỗ Vọng:

Con Kính lạy:
Chín phương Trời, Năm phương Đất, Chư Phật mười phương;
Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan,
Ngài Đông Trù Tư mệnh, Táo phủ Thần quân; Thổ địa Long mạch Tôn Thần; Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần;
Các ngài tinh quân trên Thiên đình chủ từng sao trong Cửu diệu, Nhị Thập Bát tú.
Hoàng Thiên, hậu Thổ chư vị Tôn Thần cùng các ngài Thần linh cai quản khắp trong xứ này.
Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu, vào năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là Thứ Bẩy, ngày 11 tháng 02 năm 2017,
Nhân Tiết Nguyên tiêu, ngày tưởng nhớ của Triệu Tổ Lương Đức gia tộc ,
Tại Gia đường ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Tín chủ con là: Lương Đức Mến, hậu duệ đời thứ Bẩy và là Trưởng Chi út ngành ba Lương Cao Mật (nay là xã Chiến Thắng, huyện An Lão) cùng mẫu thân, anh em các chi, phái hợp cùng con cháu nội ngoại, dâu, rể của Lương Đức gia tộc trên đất Lào Cai tuân theo nghi lễ, sửa biện hương hoa, sắm sanh lễ vật;
Trước án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tấu trình:
Kính cáo Bản gia Thổ công, Táo quân, Long mạch và các vị thần linh đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng;
Chứng minh, phù hộ cho toàn gia bình an, thịnh vượng, luôn gặp điều lành, vượt qua vận dữ, mọi việc hanh thông, giải hạn tai ương.
Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
-Cẩn cốc-

2. Văn Khấn Giỗ Vọng:

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu, vào năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là Thứ Bẩy, ngày 11 tháng 02 năm 2017,
Tại  Gia đường ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Hậu duệ tôn là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955 hậu duệ đời thứ Bẩy, Trưởng chi út ngành Ba của Lương tộc Cao Mật (nay là xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng) chuyển cư lên Lào Cai từ tháng 2/1964 cùng mẫu thân, anh em các chi, phái
Hợp cùng con cháu nội ngoại, dâu, rể toàn tiểu tôn, từ nơi biên ải xa trông muôn lạy kính cẩn thưa rằng:
Đúng ngày Chính kị tưởng nhớ Lương Đức gia tộc Triệu Tổ, đứng trước linh vọng Lương môn lịch Đại Tổ tôn :
- Thủy tổ Lương Công Trạch cùng Tổ tỉ Nguyễn Thị Lã;
- Đệ Nhất Đại Tổ Lương Công Nghệ, Tổ tỉ Lương Thị Còi,
- Đệ Nhị Đại Tổ Lương Công Tuấn cùng Tổ tỉ;
- Đệ Nhị Đại Tổ Lương Công Tú cùng Tổ tỉ là Đào Thị Nhượng, Nguyễn Thị Dụng, Hoàng Thị Châu, Đặng Thị Chiền.
 Hợp các vị tiên tổ:
- Hiển Cao tằng tổ khảo: Lương Đức Bầu, Lương Đức Xưng và Tổ tỉ;
 - Hiển Cao tằng tổ khảo:  Lương Đức Hanh, Tổ tỉ: Đặng Thị Chẻo;
- Hiển Tằng tổ khảo: Lương Đức Thể, Lương Đức Hòa, Lương Đức Hinh, Lương Đức Tuynh, và các Tổ tỉ;
- Hiển Tằng tổ khảo:  Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ;
- Hiển Tổ khảo: Lương Đức Chức, Lương Đức Ổn, Lương Đức Mạo, Lương Đức Dứa và các Hiển Tổ tỉ
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Duẩn, Hiển Bá phụ tỉ Đào Thị Dẫn;
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Tuế, Hiển Bá phụ tỉ Nguyễn Thị Hợi;
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Liêm, Hiển Bá phụ tỉ Vũ Thị Hợi;
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh ;
- Hiển Tổ cô: Lương Thị Mẹt.
- Hiển Tổ khảo: Lương Đức Trính, Tổ tỉ : Đặng Thị Chỉ;
-Hiển khảo: Lương Đức Thân.
-Hiển Thúc khảo: Lương Đức Dật,  Hiển thẩm:  Lưu Thị Bính.
-Hiển huynh: Lương Đức Thiếp, Hiển tẩu: Đặng Thị Khuy
-Hiển đệ Liệt sĩ Lương Đức An
Cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, Hôn, Tế của Lương tộc và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ;
Nay tiết Xuân tháng Giêng, ngày Rằm, húy nhật Thượng Tổ Lương Đức gia tộc, hậu duệ tôn họp mặt nhau đây, lập bàn thờ vọng,
Kính cẩn trộm nghĩ:
Vạn vật tạo thế gian, Cây theo cội lớn, nước tự nguồn trôi nên uống nước phải tìm Giếng chẩy ra;
Người sinh trong trời đất, Thẩy cháu con ai nấy đều chung cành, cùng gốc nên phải báo ơn dầy Tiên Tổ.
Có thờ có thiêng, có kiêng có lành; Có Hiếu được đáp đền, có Kính ắt Phật, Thần phù hộ.;
Lại biết rằng:
Cành rợp bóng, dòng chảy không ngừng vì  gốc bền, nguồn vững; Gia môn khang thái bởi Linh Miếu trường tồn, oai linh Tiên Tổ.
Uống nước phải nhớ nguồn, hưởng trái thơm nhớ ơn người trồng cấy; Đó là nếp hiếu nghĩa ngàn xưa, là đạo cương thường vạn cổ.
Bởi thế cho nên:
Nhân ngày tưởng  niệm, ngưỡng vọng Tôn linh, Thưa trình cho rõ:
Chúng con vốn dòng quê An Lão, vì kế sinh nhai phải xa đất Tổ,
Thành tâm tụ họp nơi đây, lễ bạc lòng thành:
Nhất tâm kính cẩn dâng hương, nến, trầm, trà, rượu, trầu, vàng, mã, xôi, gà, quả, hoa… ;
Trình bầy lễ mọn, biểu lộ lòng thành, kinh mời liệt vị tổ tiên, các bậc phụ thờ và các phụ vị thương vong cùng về hâm hưởng.
Nhớ Tổ xưa:
Gần Ba trăm năm trước “bên nồi bên con”; Vượt sông Văn Úc, dừng lại tả biên, vỡ ruộng khai hoang, tìm đất dựng nhà, định làng Hạ thôn, khởi dòng Lương tộc.
Tộc Lương Mười Một đời liền, Kế nghiệp Tổ, cha truyền con nối; Từ đó ruộng vườn, sông bãi, đất trời, bát ngát hương hoa, rạng ngời công đức, cháu con hưởng Phúc cha ông, hậu sinh gắng bồi đắp mới.
 Chúng con hằng nhớ:
Từ Phương Lai sang Cảnh Hưng xây nên quê mới, Dẫu cơ cực mỗi lúc khác nhau, song kiên gan đời nào vẫn vững.
Tổ xưa từ hai bàn tay trắng, nương nhờ họ Mai, họ Nguyễn mà mở đất lưu đến ngày nay và sẽ trường tồn mãi.
Cháu con nối dòng thau chua, rửa mặn, cùng dân Cốc, dân Hầu tạo nên Cao Mật trù phú bến sông Văn ngày thêm hưng thịnh .
Gặp buổi loạn ly, vâng ấn nguyên nhung lập công lớn vang lừng vùng bẩy huyện.
Nhân lúc yên hàn mở mang nông nghiệp, chí thú làm ăn, dựng Tổ đường khang trang bên dòng Văn Úc.
Từ đó dòng họ sinh sôi, Tiết Nguyên Tiêu  luôn khói hương nhớ Tổ.
Nhưng hỡi ơi !
Những ngày tiêu thổ đánh Tây, Từ đường tiêu vong trong trận càn tháng Bẩy.
Trong cảnh “Toàn dân ra trận”, bộn bề bao công chuyện, việc tế Tổ có phần sao nhãng.
Bởi câu “Lực bất tòng Tâm”, đau đớn vốn khôn cùng, Công tiền nhân vẫn lưu truyền trong con cháu.
Sau ngặt vì nỗi:
 Đất chật người đông, chúng con phải rời bỏ quê hương, lên chốn biên cương, thực thi kế hoạch khai hoang miền núi.
Lại những ngày tay trắng khai cơ chặt cây mở lối, san núi, đắp  mương, dạ luôn hướng tới tương lai.
Qua bao bận chí bền vượt khó, chiếu đất màn trời, vỡ ruộng, dựng nhà lòng vẫn nhớ về đất Tổ.
Chúng con nay:
Người ở lại phát huy truyền thống, bồi đắp quê hương; kẻ ra đi giữ biên thùy,  lòng không nguôi nhớ bể.
“Uống nước nhớ nguồn”, xanh chồi lá luôn nhớ sân hoè; “Vấn Tổ tầm Tông”, lớp hậu duệ vọng nơi phát tích.
Đất nước trải bao thăng trầm, non sông thu về một mối; Dòng họ qua mấy bận điêu linh, trời mỗi ngày mỗi sáng.
Ơn trời gặp buổi “Quốc thái dân an”  phong tục xưa việc họ quay về; Phúc nhà nhớ câu “Tổ Công Tông Đức”, nền đất cũ Từ đường dựng lại.
Thật là:
Tổ đường linh bái gốc tử phần, quê cũ Ba trăm năm hưng thịnh càng tăng đông con, nhiều cháu bên  bờ Văn Úc.
Họ hàng tôn quý, chồi lan quế, bản mới Năm Ba Xuân khởi dựng ngày thêm thắm lá, tươi cành chân dẫy Hoàng Liên.
Dâng nén Tâm nhang, lễ bạc lòng thành cúi xin Thần Phật Thánh, Tinh quân cùng là Thương tổ :
Lễ bạc chấp kỳ giải hạn nhân tinh, giáng trần phù trợ.
Giúp toàn gia giải trừ vận hạn, phù trợ cát tường, xây dựng ấm no, vượt qua khốn khó.
Nghiệp võ mở trí cho kẻ theo đòi văn sách, nghề văn độ trì cho người nghèo yếu nhiệt tâm, đạo sáng giúp kẻ lỗi đường quay về truyền thống.
Để dòng tộc xuôi cũng như ngược cùng toàn dân tạo nhân bản hài hòa, đồng thuận thương yêu,  kính trên trọng dưới.
Chúng con nguyện:
Đem đạo nghĩa xử sự hàng ngày, lấy chữ nhân làm điều lẽ sống.
Người ở quê giữ phần hương khói chăm sóc Từ đường, tạo tôn mộ Tổ.
Kẻ tha hương khơi dòng ôn cố, dốc tâm dựng cơ đồ, rạng danh quê cũ.       
Toàn gia xin:
Nguyện nối nghiệp tổ tông truyền lại, dạy con cháu  mãi dõi noi theo; Mở lòng Nhân, trồng cây Đức giữ nếp nhà vững bền muôn thủa.
Tuân theo lệ cũ, thắp nén hương thơm, vọng xin Tổ tiên ban ân, ban phúc:
Cho tử tôn phồn thịnh khang ninh; Để dòng họ trường tồn tiến bộ.
Giãi tấm lòng son; Cúi xin thấu tỏ.
Thưng Tổ đẳng Tiên Tổ anh linh cung duy thượng hưởng!
Phút tôn nghiêm này, với tấm lòng thành, thắp nén hương thơm, chúng con kính cầu Thượng Tổ cùng Lương tộc lịch đại Tổ Tông linh thiêng chứng giám.
-Cẩn cáo-

Lương Đức Mến cẩn soạn, ngày 09/02/2017 tức 13 tháng Giêng Đinh Dậu.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2017

VĂN KHẤN TẾT NGUYÊN ĐÁN ĐINH DẬU 2017

1. VĂN KHẤN TẤT NIÊN
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).
Kính lạy :
Hoàng Thiên hậu Thổ chư vị tôn Thần.
Ngài bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương, bản xứ Thần linh Thổ địa.
Ngài Đông Trù Tư mệnh, Táo phủ Thần quân; Thổ địa Long mạch Tôn Thần; Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
Ngài Đương cai Bính Thân niên Quản Trọng Đại tướng quân; Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu Hành Binh chi Thần, Tống Tào Phán.
Cùng Hương linh Lương tộc lịch đại Tổ tiên.
Hôm nay là thứ Bẩy ngày 27/01/2017, tức là ngày 30 tháng Chạp năm Bính Thân, là ngày cuối cùng của Bính Thân Hầu niên.
Tín chủ con là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955;
Tại nhà riêng ở SN 328 đường Hoàng Liên, tổ 22, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai,
Cùng Vợ, con và các cháu kính cẩn thưa trình:
Đông tàn sắp hết, năm kiệt tháng cùng;
Xuân tiết gần kề, Minh niên sắp tới.
Nay là ngày 30 Tết, chúng con cùng toàn thể Gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa, cơm canh bày đủ, sửa lễ Tất niên, dâng cúng Thiên, Địa, Tôn Thần, phụng hiến Tổ tiên, truy niệm chư Linh.
Theo như thường lệ Tuế trừ cáo tế, mọi việc đã trình trong Tết Táo quân;
Nay ngày tất niên, Cúi xin chư vị Tôn Thần, Liệt vị Gia tiên, Bản xứ; Tiền chủ, Hậu Chủ hương linh:
Giáng lâm án tọa, phù thùy chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia, lớn bé trẻ già: Bình an thịnh vượng, Mọi duyên thuận lợi, Mọi việc hanh thông; Người người bình an, tháng ngày tiến lộc; Âm phù - Dương trợ, sở nguyện tòng tâm; Bốn mùa không hạn, Tám tiết luôn lành.
Dãi tấm lòng thành, Cúi xin chứng giám .
Cẩn cáo! .

2a. VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA NGOÀI TRỜI
Nam mô A Di Đà Phật! ( 3 lần )
Tín chủ con Kính lạy :
- Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn Thần.
- Ngài Cựu niên Quản Trọng Đại tướng quân; Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu Hành Binh chi Thần, Tống Tào Phán quan năm  Bính Thân.
- Ngài Tân niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan năm mới Đinh Dậu.
- Ngài Bản xứ Thổ địa phúc đức chính thần, Ngũ phương Long mạch điền chủ tiếp dẫn tài thần
Nay là phút giao thừa năm Bính Thân bước sang năm Đinh Dậu
Tín chủ con là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955, trước Gia đường ở SN 328 đường Hoàng Liên, tổ 22, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai,
Cùng Vợ, con và các cháu kính cẩn thưa trình:
Phút thiêng giao thừa vừa tới, năm cũ Bính Thân Hầu niên qua đi, đón mừng năm mới Đinh Dậu Kê niên, để muôn sự may mắn, vạn tượng canh tân.
Các Ngài Thái Tuế tôn Thần trên vâng lệnh Thượng Đế giám sát vạn dân, bảo hộ sinh linh, tảo trừ yêu nghiệt.
Quan cũ thượng triều, chuyển sang nhiệm khác, Phúc, Ân năm cũ, Lưu tại bản gia; Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc: Tín chủ đón nghênh.
Nhân buổi tân Xuân, tín chủ chúng con thành tâm sửa biện: hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án. Cúng dâng Trời, Đất cùng là Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.
Kính mời: Ngài Cựu niên Đương cai, Ngài Tân niên Đương cai Thái Tuế Chí đức Tôn thần, Hành khiển tôn Thần, Hành binh chi Thần, Phán quan chi Thần; Ngài Bản cảnh Thành Hoàng, Chư vị Đại Vương, Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa, Phúc Đức Chính Thần, các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch Tài Thần, Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.
Độ cho tín chủ: Quanh năm hưng vượng, Mọi việc hành thông; Gái trai thành đạt; Nội ngoại lớn nhanh; Gia đạo bình an, Cửa nhà thịnh vượng.
Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.

2b. VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA TRONG NHÀ
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính lạy:
- Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị tôn Thần.
- Hương linh Tổ Tiên nội, ngoại chư vị tiên linh.
Nay là phút giao thừa năm Bính Thân bước sang năm Đinh Dậu
Hậu duệ tôn là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955, trước Gia đường ở SN 328 đường Hoàng Liên, tổ 22, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai,
Cùng Vợ, con và các cháu kính cẩn thưa trình:
Phút giao thừa vừa tới, nay theo vận luật, tống cựu nghênh tân, giờ Tý đầu Xuân, đón mừng Nguyên Đán, con xin thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dâng Trời Đất cùng là Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, tiến cúng Tổ Tiên, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.
Chúng con xin kính mời:
Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương, Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa, Phúc Đức Chính Thần, các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long Mạch Tài Thần, các Ngài Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật.
Con lại kính mời các cụ tiên linh Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tằng Tổ Khảo, Tằng Tổ Tỷ, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Hiển khảo, Cô di tỷ muội, nội ngoại tộc chư vị hương linh cùng các bậc phụ thờ theo Tiên tổ của Lương tộc giáng về linh sàng hâm hưởng lễ vật.
Tín chủ lại kính mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ, y thảo phụ mộc ở trong vùng biên viễn sôi động này. Nhân tiết giao thừa, giáng lâm trước án chiêm ngưỡng tân Xuân, thụ hưởng lễ vật.
Độ cho tín chủ: An ninh khang thái, Vạn sự tốt lành, Gia đạo hưng long, Quan lộ hanh thông, Học hành tấn tới, Vía lành thì ở, Vía dữ mau đi, Sở cầu tất ứng, Sở nguyện tòng tâm; Đất nước bình an, gia đình Hạnh phúc.
Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo!.


3a. VĂN KHẤN THẦN LINH TRONG NHÀ (MÙNG 1)
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính lạy: Hoàng Thiên Hậu Thổ, Chư vị Tôn Thần.
Hôm nay là thứ Hai ngày 28/01/2017, là ngày mồng 1 tháng Giêng năm Đinh Dậu, nhằm ngày Tết Nguyên Đàn đầu Xuân năm mới:
Giải trừ lạnh lẽo, hung nghiệt tiêu tan, đón mừng Xuân thiên, mưa móc thấm nhuần, muôn vật tưng bừng, người người phấn khởi, nơi nơi lễ tiết, chốn chốn tường trình.
Tín chủ con là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955, trước Gia đường ở SN 328 đường Hoàng Liên, tổ 22, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai,
Cùng Vợ, con và các cháu Kính cẩn dâng trình:
Nhân tiết minh niên sắm sửa hương hoa, cơm canh lễ vật bày ra trước án, dâng cúng Thiên Địa Tôn Thần.
 Thiết nghĩ Tôn Thần: hào khí sáng loà, ân đức rộng lớn. Ngôi cao vạn trượng, Chí tỏa mười phương. Lòng thành vừa khởi, Tôn Đức cảm thông. Cúi xin giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.
Nguyện cho chúng con: mọi người hoan hỷ vĩnh xương, con cháu cát tường khang kiện; Tài lộc tấn tiến vững bền, Ương tai đi qua vĩnh viễn. Đầu năm cho đến cuối năm: Toàn gia khỏe mạnh trưởng thành, Già tinh anh, mẫu mực; Bé lớn nhanh ngoan khỏe, Người công tác Sự nghiệp hanh thông, Tất thảy đều may mắn.
Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.

3b. VĂN KHẤN TỔ TIÊN NGÀY MÙNG 1 TẾT
Nam Mô A Di Đà Phật!
Kính lạy:
- Lương tộc lịch đại Tổ Tiên, Cô di tỷ muội, đường thượng tiên linh và các bậc phụ thờ theo Tiên tổ của tộc Lương.
Hậu duệ tôn là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955 hậu duệ đời thứ Bẩy của Lương tộc Cao Mật (nay là xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng) đã chuyển cư lên Lào Cai từ tháng 2/1964, kính cáo:
Theo luật của Trời, đến tuần Nguyên Đán, mồng Một đầu Xuân. Thấm nhuần mưa móc, đón mừng năm mới.
Con cháu tưởng niệm ân đức Tổ Tiên, Trời cao khó sánh, Biển rộng khôn đong. Xây nền vững chắc, Tỏa bóng sâu bền, Phái chi dài rộng, Diễn tiếp muôn Xuân.
 Do đó chúng con cùng toàn thể con cháu trong nhà sửa sang lễ vật, oản quả hương hoa kính dâng lên trước án.
Kính mời các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tằng Tổ Khảo, Tằng Tổ Tỷ,  Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Hiển khảo, Cô di, huynh, tỷ, .
Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng về linh sàng, hâm hưởng lễ vật.
Phù hộ độ trì cho con cháu năm mới an khang, mọi bề thuận lợi, sự nghiệp hanh thông. Bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có điềm lành tiếp ứng.
Tín chủ lại mời: các vị vong linh, tiền chủ, hậu chủ ở trong đất này cùng về hâm hưởng.
Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.


4. VĂN KHẤN LỄ TẠ, HÓA VÀNG NĂM MỚI ĐINH DẬU 2017
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính nghe:
Muôn sự có thuỷ có chung, Tết đến có Khai có Kết.
Vậy nên: Hôm nay là 31/01/2017 nhằm thứ Ba Mồng Bốn tháng Giêng năm Đinh Dậu có sao Kính An, Kính Tâm, Thất Thánh, Thần Tại  hợp việc cầu tài, tế tự,
Tín chủ chúng con Kính lạy :
- Hoàng Thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn Thần;
- Ngài Đương niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan năm mới Đinh Dậu;
- Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng, các Ngài Thổ Địa, Táo Quân, Long Mạch Tôn Thần cản xứ;
- Lương tộc Lịch đại tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Hiển khảo và các bậc phụ thờ theo tiên tổ của Lương tộc, nội ngoại tiên linh.
Vâng theo lệ cũ, Tín chủ con là: Lương Đức Mến, hậu duệ đời thứ Bẩy của Lương Đức gia tộc, sinh năm 1955, gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng hiện ngụ tại Số nhà 328 đường Hoàng Liên thuộc địa phận tổ 22 phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai cùng vợ con và các cháu
Thành tâm sửa biện: hương hoa, phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cúng dâng trước án.
Nhất tâm kính cẩn thưa trình : Tiệc Xuân đã mãn, Nguyên Đán đã qua, Cúi xin Thần linh, cùng là Tiên tổ: thiêu hoá kim ngân, lễ tạ Tôn Thần, rước tiễn Tiên linh trở về Âm giới, sang năm Xuân mới, Tết đến sắm sanh, Vật phẩm lễ nghi lại cúng thỉnh về, Giáng trước Gia đường Cùng là thụ hưởng.
Kính xin: Lưu phúc lưu ân, phù hộ độ trì, dương cơ âm mộ; Mọi chỗ tốt lành; Mọi đường hoan lộ; Vật thịnh, Nhân khang; Thêm người, thêm của; Toàn gia bình an; Già khỏe tinh anh, Trẻ công tác tốt; Bé ngoan mạnh khỏe, Nhớn chăm học hành, Đã thi ắt đỗ; Công cán hanh thông, Cầu chi đắc đó.
Lễ bạc tiến dâng, Lòng thành kính cẩn, Lượng cả xét soi, Cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.
Nam mô A Di Đà Phật!

(Lương Đức Mến, cẩn soạn sau Tết Ông Táo Bính Thân 2017)

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

KHÔNG PHẢI TẤT CẢ HỌ LƯƠNG VIỆT NAM LÀ TỪ BẮC QUỐC DI CƯ SANG

Theo dõi trang Cộng đồng họ Lương Việt Nam và một số trang khác thấy có nhiều người (có cả người họ Lương) viết rằng: Họ ta có nguồn gốc từ Trung Quốc, thậm chí có bạn còn nói đã sang được 2000 năm! Đọc thấy mà chạnh buồn nên tỉnh dậy sắp xếp lại suy nghĩ của mình và đưa lên đây để nhớ!
1. Trên trang HỌ LƯƠNG XỨ ĐÔNG, bài 48.ĐLS. Tìm hiểu NGUỒN GỐC HỌ LƯƠNG VIỆT NAM tôi đã nêu những điều sơ lược về vấn đề này qua kết quả tìm hiểu của chủ trang. Trong đó đã nhấn mạnh:
1.1. Dù có thể không bao quát được tất các các chi phái, nhưng khái quát lại họ Lương Việt Nam có thể được hình thành từ mấy nguồn sau:
- Người Hán đã “phiên âm” họ vốn có của người Việt;
- Người dân bản địa tự đặt tộc danh;
- Quan đô hộ phương Bắc hay các Tù trưởng gán họ cho dân bản địa;
- Các gia đình có học, chức sắc bắt chước đặt họ cho tộc nhà mình;
- Chính quyền phong kiến Việt Nam gán cải họ cho tộc dân thiểu số.
1.2. Trong cộng đồng họ Lương Việt Nam có những chi, phái, gia đình đúng là từ Trung Quốc sang qua nhiều thời kỳ, như: trong những cuộc di cư vào thời đại đồ đồng (青铜时代,  trước 2100 tCn), khi nhà Tần 秦王, 246 tCn-221 tCn) diệt Bách Việt (百粵, 249 tCn- 221 tCn), khi nhà Nguyên (元朝, 1271 - 1368) thay nhà Tống (宋朝, 960-1127), khi nhà Thanh (大清國, 1644-1911) thế nhà Minh (明朝, 1368 - 1644), sau phong trào Thái Bình Thiên Quốc (太平天國, 1851–1864) hoặc trong Cách mạng Văn hóa (文化大革命, 1966-1976) .... Nhưng đó không phải là tất cả!

2. Đồng thời bài 94. ĐLS. Tìm hiểu về BÁCH TÍNH QUẬN để quan viên họ CHỚ NHẦM LẪN VỀ GỐC GÁC CỦA HỌ NHÀ MÌNH đã khẳng định:
2.1 Không nên máy móc áp dụng sách Bách gia tính 百家姓 và Quận danh Bách gia tính 郡名百家姓 biên soạn từ thời Tống (宋朝, 960-1127) vào việc định danh các họ ở nước ta bởi sự không giống nhau giữa số lượng các “họ” và địa danh thực tế của Việt Nam và Trung Quốc. Lại càng không được coi Tổ quán 祖貫 ghi trong đó là Tổ quán của các họ Việt Nam (và ngay cả Trung Quốc đương đại), trong đó có họ Lương.
Họ Lương (cũng như các họ khác) hiện đang ở hay xuất phát từ Việt Nam là từ Việt Nam, là công dân Việt, gốc gác tại nước Đại Việt 大越 xưa mà nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ ta nếu chép bằng chữ Hán là , đọc theo âm Hán Việt là “lương” còn người Trung Quốc tuy có họ mà chữ Hán cũng chép là nhưng người ta lại đọc là “liang”!
2.2. Đọc sách cổ do người Tống 宋人 viết ra nhằm đích riêng của Nho sĩ nặng tư tưởng Đại Hán 大漢 để biết chứ không nên tin máy móc vào điều mà sách đó viết!
3. Về việc cư trú của người đồng tộc:
3.1. Họ nào cũng vậy, từ Tổ quán 祖貫, ngoài số quần cư tại nơi “cắt rốn, chôn rau” 𦠆墫胞, nhiều người, nhiều hộ chuyển đi nơi khác hình thành các chi, phái theo dọc chiều dài lịch sử, tỏa ra nhiều nơi theo chiều ngang không gian, lại thêm việc “mai danh ẩn tích” 埋名隱昔 bởi nhiều lý do… nên việc tìm về nguồn cội, truy nhận triệu tổ, thủy tổ, viễn tổ, thái tổ, tổ ; việc kết nối dòng họ là hết sức khó khăn.
3.2. Hơn nữa, thời “tiền quốc gia” và cả thời trung đại, khái niệm quốc gia chưa rõ ràng, chưa có đường biên giới và nơi giáp giới chỉ đắp một mô đất (gọi là phong tức bờ cõi) để đánh dấu. Thực ra, hiện tượng “bỏ ngỏ” biên giới như vậy phù hợp với quan niệm của giới cầm quyền về lãnh thổ: lấy ý thức thần quyền tồn tại dưới dạng vương quyền thay ý thức pháp quyền.
Sau này, tiến tới quan niệm “vùng biên giới”, tồn tại những vùng đệm nên người dân ít có khái niệm lãnh thổ hành chính, nặng về quan hệ họ hàng thân tộc nên việc họ qua lại thăm thân, gặp gỡ họ hàng, cư trú cho là bình thường.
Mặt khác, khi chính quyền trung ương chưa đủ mạnh thì những địa phương xa xôi được giao tự quản dưới hình thức ki mi (羈縻, cai trị lỏng lẻo, duy trì để cho không đến nỗi tuyệt hẳn) trong đó vấn đề hộ tịch ít được chú ý.
Đồng thời, trong nước chưa có “Luật Cư trú”, “Luật Quốc tịch”…và quan hệ với lân bang chưa có Hòa ước Westphalia về trật tự thế giới mới (Traités de Westphalie, 1648) nên việc di cư dễ dàng. Do vậy ngày nay ở vùng biên giới có những dòng họ (chung cụ Tổ 3-5 đời) lại cư ngụ trên 2 quốc gia khác nhau!
3.3. Do đó, việc xác định một cụ Tổ nguyên thủy cho tất cả các dòng họ Lương Việt Nam là ai, ở đâu? từ bao giờ là điều không thể cả về tâm linh và khoa học!. Đúng là “Tiền tiền vô thủy” (前前無始, Không biết điểm bắt đầu)
4. Trên thế giới, trong nhiều trường hợp dân di cư trở thành lãnh tụ của dân bản địa. Điển hình liên quan đến Hoa-Việt là :
- Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore (từ năm 1959 đến năm 1990) là Lý Quang Diệu (李光耀, 9/1923-3/2015) vốn tổ tiên là người Khách Gia 客家. Nguyên quán ở huyện Đại Bộ 大埔, tỉnh Quảng Đông 廣東 đến Singapore vào năm 1862 bởi Tổ phụ 祖父 là Lý Mộc Văn (李沐文, Lee Bok Boon, sinh năm 1846). Lý Quang Diệu đã lãnh đạo hòn đảo Sư tử này rất thành công trên mọi mặt, trong đó có việc độc lập về chính sách ngoại giao với Trung Hoa.
- Lý Thừa Vãn (Rhee Syngman hay Lee Seungman hay Yee Sung-man hoặc I/Ri Seung-man, H: 李承晩, Hàn: 이승만), 1875 – 1965), vị tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc (1948-1960, 대한민국 대통령/ 大韓民國 大統領.) vào ngày 6 tháng 11 năm 1958, trong dịp viếng thăm Việt Nam Cộng hòa (06/11/1948) từng nói rằng tổ tiên ông là người Việt. Có tài liệu nói ông là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình Vương Lý Long Tường (李龍祥, 이용상 , sinh năm 1174). Nhắc lại rằng: Long Tường là con thứ bảy của vua Lý Anh Tông (李英宗, trị vì 1138-1175) của Đại Việt và ông đến tị nạn tại Trấn Sơn, huyện Bồn Tân, tỉnh Hoàng Hải, trên bờ biển phía tây Cao Ly 고려, 高麗 từ 1226.
- Tổng thư ký Liên hợp quốc thứ 8 (đương nhiệm) Ban Ki-moon (Phan Cơ Văn/ 潘基文/ 반기문, sinh năm 1944 tại Chungju, Hàn Quốc) có ý kiến cho là hậu duệ của dòng họ Phan Huy ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội.
5. Nên nhớ rằng: trong lịch sử và hiện nay do chuyển cư (có tổ chức hay tự phát), do điều động, do định cư ở quê ngoại… mà ít có làng xã cùng chung một họ và một dòng họ không chỉ còn tụ cư ở nơi “quê cha đất tổ” mà sống rải rác khắp nơi. Do vậy những thành viên xa đời của cùng một Cụ Tổ sinh sống trên nhiều miền và đôi khi nhiều quốc gia khác nhau. Vì vậy mới có chuyện người họ Lương gốc Viết (như hậu duệ Lương Nhữ Hốt (梁汝笏, ?-1428)) chuyển sang định cư ở Trung Quốc và hậu duệ của họ rất trưởng thành.
Những ví dụ điển hình trên thế giới:
- Nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Hoa thời cổ là Khổng Tử (孔子, tức Khổng Phu Tử 孔夫子, 551- 479 tCn) ngày nay tính lên đến vài triệu hậu duệ, dù nhiều người không còn là người Hán hoặc không có quốc tịch Trung Hoa. Tân bản “Khổng tử thế gia phổ” 孔子世家譜 2009 được công nhận và cuốn Gia phả dài nhất thế giới chép 83 thế hệ, tổng số 4, 3 triệu người, được chia thành 80 tập với tổng trọng lượng hơn 120 kg.
- Khả Hãn sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ là Thành Cát tư hãn” (成吉思汗, 1162-1227) không chỉ là một nhà lãnh đạo lỗi lạc, quan trọng của lịch sử thế giới, mà còn được mệnh danh là “người truyền giống thành công nhất trong lịch sử”. Do vậy đến thời hiện tại có khoảng 16 triệu hậu duệ của ông đang sống rải rác khắp nơi trên toàn thế giới.
Đồng thời, trong một vùng có những người mang chung một tộc danh lại không cùng họ hoặc tuy khác tộc danh lại vốn cùng một họ!
6. Nguồn gốc dòng họ là bản địa hay từ đâu đến không hề ảnh hưởng đến bản chất và danh dự của dòng họ và những người mang họ Lương, nhiều đời tổ tiên là người Việt, có quốc tịch Việt Nam là thuộc dòng họ Việt đích thực và có một vị trí xứng đáng trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Chúng ta có quyền ngẩng cao đầu mà nói rằng: “TA LÀ NGƯỜI HỌ LƯƠNG VIỆT NAM, LÀ CON RỒNG CHÁU TIÊN” và điều đó đã được khẳng định không chỉ bằng tâm thức mà bằng cả chứng lý lịch sử! Đồng thời đó cũng là ý chí: “NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ” vang lên từ ngàn xưa!
Do vậy, những ý kiến nhắc lại mãi rằng “họ Lương Việt Nam là từ Tầu sang” là phản khoa học!. Tôi nói vậy không phải là ảnh hưởng của tâm lý “bài Trung” mà là vấn đề khoa học, tôn trọng sự thật lịch sử và tinh thần tự tôn dân tộc, hiếu kính Tổ tiên, tôn trọng cội nguồn!
Tôi mong tất cả quan viên họ trong Cộng đồng họ Lương Việt Nam hiểu tâm ý của tôi!
- Lương Đức Mến, đầu Đông 2016-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

Bàn về LƯƠNG TỘC KỲ (Cờ của họ Lương)

Chủ thớt đã có bài 83.VH. Tìm hiểu về BIỂU TRƯNG CỦA DÒNG HỌ (Tộc kỳ, Tộc huy) và từng đưa ra mẫu từ năm 2009. Sau đó đã nhận được nhiều ý kiến hưởng hứng và “lời khen đã lắm, tiếng chê cũng nhiều”!
Đáng ra, họ Lương Việt Nam cũng giống như các dòng họ khác phải có Tộc kỳ 梁族旗, Tộc huy  梁族徽 nhưng vì nhiều lý do mà sau Đại hội II (18/10 tại Phú Yên) vừa rồi, họ ta vẫn chưa thống nhất được mẫu biểu trưng dòng họ.
Trong quá trình tiến tới Đại hội II, bản thân tôi cũng như một số người khác đã xây dựng mẫu đưa ra các trang trên Facebook, Blog được quan viên họ bàn luận sôi nổi. Gạt đi một số ý kiến quá tả, mang ý cá nhân hay ấu trĩ..., có rất nhiều ý kiến, đề xuất tâm huyết, có giá trị cần được tiếp thu.

Hôm nay, tôi xây dựng mẫu này trên cơ sở các mẫu cũ của bản thân có tiếp thu ý kiến của quan viên họ và nhất là tuân theo tiêu chí: Dân tộc; Khác biệt (so với các dòng họ khác); Đơn giản, dễ nhớ, dễ chế tác; Dễ thích nghi; Có ý nghĩa triết học, tâm linh cả về hình dáng, nội dung, mầu sắc…

1. Hình dạng: hình vuông theo truyền thống cờ Lễ hội dân gian với ý nghĩa vuông vức, thuận quan điểm xưa “trời tròn đất vuông” lại thuận cho việc treo ngang hay treo đứng.
2. Kích thước: Tùy mục đích sử dụng mà có từng loại khác nhau với kích cỡ không phạm vào cung xấu theo quan niệm dân gian:
- Từ đường Đại tôn, Đại hội vùng, Đại hội toàn quốc dùng CỜ ĐẠI mỗi chiều 210-300cm;
- Nhà thờ Chi, Ngành thì treo CỜ TRUNG kích cỡ: 120-210cm;
- Tại gia đình treo các loại CỜ TIỂU có kích thước từ 80-120 cm.

3. Mầu sắc:
Theo luật Tương sinh 相生  trong Ngũ hành 五行說 và quy tắc xác định Ngũ hành của chữ chỉ tộc danh (“Lương”) mà SẮP XẾP 5 MẦU CỦA CỜ NGŨ SẮC sao cho từ ngoài trở vào các phần cờ có tác dụng giúp đỡ nhau, xúc tiến, nương tựa lẫn nhau để sinh trưởng, giúp cho nhau lớn hoặc sinh ra nhau. Nghĩa là các phần cờ tiếp diễn, thúc đẩy sự phát triển không bao giờ ngừng theo quy luật: Mộc sinh Hoả , Hoả sinh Thổ , Thổ sinh Kim , Kim sinh Thuỷ , Thuỷ sinh Mộc 木,...
Do vậy tôi sắp xếp thứ tự mầu sắc theo các vùng như sau:
3.1. Chữ chỉ tộc danh:
 Tộc danh họ ta ghi bằng Hán tự là “” bằng chữ Việt đương đại là “LƯƠNG” khi xét Ngũ hành đều thuộc hành HỎA. Mà hành Hỏa ứng với mầu ĐỎ nên dùng mầu Đỏ, tượng trưng cho tinh thần mới khắc phục mọi trở ngại, nghịch cảnh.
Để dễ đọc, dễ hiểu không dùng Hán tự hay chữ Việt viết dưới dạng Thư pháp mà dùng chữ Quốc ngữ “HỌ LƯƠNG VIỆT NAM” và 4 chữ này được trình bày dưới dạng như ngôi nhà cách điệu. Điều đó có ý nghĩa:
- Họ Lương Việt Nam chung một mái nhà;
- Chỉ ý nghĩa của chữ “lương” trong Hán tự là: Xà nhà 屋梁, Xà đòn dông (xà nóc) 正梁, ...bộ phận kết cấu quan trọng làm nên mái nhà.
3.2. Nền cờ Trung tâm có mầu VÀNG là mầu cờ truyền thống từ thời Hai Bà Trưng (Đầu voi phất ngọn cờ Vàng), là mầu hành THỔ có vị trí trung ương, tượng trưng cho lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia lại thể hiện rõ chúng ta thuộc chủng tộc da vàng.
Hơn nữa, chữ Đỏ đặt trên nền Vàng thể hiện “mấu đỏ da vàng”.
3.3. Các vành tiếp theo Trung tâm từ trong ra:
- Tro tàn tích lại đất vàng thêm, tức Thổ do Hỏa sinh nên vành tiếp là vành của HỎA có mầu ĐỎ, thể hiện vạn vật sinh trưởng dồi dào;
 - Cây cỏ làm mồi nhen lửa, tức Hỏa do Mộc sinh mà MỘC thì ứng mầu XANH, xu hướng phát triển đi lên;
- Nhờ nước cây xanh mọc và lớn lên, tức Mộc do Thủy sinh mà THỦY lại ứng mầu ĐEN, thể hiện sự chuyển động;
 - Kim loại vào lò chảy nước, tức Thủy do Kim sinh nên vành tiếp có mầu TRẮNG của KIM (mầu trong của khí gió) biểu thị sự đi lên;
- Lòng đất tạo nên Kim loại, tức Kim tạo ra từ Thổ quay lại vòng tuần hoàn của Tương sinh từ Trung tâm ra, phát triển theo vòng xoáy.
3.4. Vành ngoài cùng tạo hình răng cưa liên tưởng tới vẩy Rồng biểu thị “con Rồng cháu Tiên”.
4. Sử dụng:
- Chỉ có 1 loại có vòng tra cán cờ, không thiết kế riêng cho kiểu treo đứng, treo nghiêng. Trường hợp cần treo đứng (Đại lễ) in riêng, chữ xoay đúng chiều.
- Treo cờ hơi nghiêng so với cột cờ khoảng 15 – 25 độ để được hình ảnh đẹp, thiêng liêng, chữ không bị ngược.
- Khi có treo cờ Tổ quốc thì Tộc kỳ không được lớn hơn chiều rộng của Quốc kỳ và Tộc kỳ được treo ở dưới hoặc ở bên phải Quốc kỳ theo hướng từ cửa Từ đường nhìn ra hay từ sân khấu nhìn xuống.
5. Ý nghĩa lá cờ họ được khái quát ngắn gọn trong bài Tứ tuyệt:
Con cháu tộc Lương, một mái nhà,
Khởi nguồn đất mẹ tiếp sinh ra.
Máu đỏ da vàng, tương sinh phát,
Cha Rồng nâng đỡ nghiệp vươn xa.
Rất mong quan viên họ và những ai trong quan tâm nhận xét, phẩm bình và cùng đề xuất ý tưởng.
Các ảnh trong bài:
- A1: tóm tắt quy luật Sinh-Khắc của Ngũ hành;
- A2: Lương tộc kỳ;
- A3: Khi treo cùng Quốc kỳ;
- A4: Tộc kỳ treo đứng.
- Lương Đức Mến, hạ tuần tháng 9 năm Bính Thân 2016-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!