[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


Thứ Tư, ngày 10 tháng 8 năm 2016

VĂN KHẤN RẰM THÁNG BẨY BÍNH THÂN

1.VĂN KHẤN NGOÀI MỘ
Nam mô A di đà Phật (3 lần)
Con kính lạy:
- Chín phương trời, Năm phương Đất, Mười phương chư Phật;
- Ngài Đương cai Bính Thân niên Chí đức Tôn thần: Quản Trọng Đại tướng quân; ngài Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu Hành Binh chi Thần, Tống Tào Phán quan;
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa; ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, ngài Bản gia Thổ địa Long mạch Tôn thần, ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần cai quản xứ này. 
- Các ngài: Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ; Quan Dẫn hồn Sứ giả Ngũ đạo Tướng quân, quan Đường xứ Thổ địa Chính thần cùng liệt vị tôn thần cai quản ở trong xứ này.
Kính lạy hương linh Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ, Hiển khảo Lương Đức Thân.
Hôm nay, ngày 11 tháng Bẩy năm Bính Thân, vào năm thứ 71 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là vào Thứ Bẩy, ngày 13 tháng 08 năm 2016, nhân tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh,
Tại: Nghĩa địa km36 xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
Tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955, hiện cư ngụ tại SN 328 đường Hoàng Liên thuộc Tổ 22, P.Kim Tân, Tp. Lào Cai cùng mẫu thân, anh em, vợ con và các cháu sinh sống tại tỉnh Lào Cai
Sắm sửa phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi,
Trình cáo chư vị Tôn Thần cầu xin phù trợ giúp đỡ cho Hương linh của Cát táng nơi đây là:
- Tổ Tỉ Đặng Thị Chỉ Đặng Thị Chỉ hiệu Diệu Cầm sinh năm Canh Dần 1890 tại bản quán, tạ thế 22/12/1982 (tức là ngày 08 tháng Mười Một Nhâm Tuất); Mộ phần đã quy tập trong Lương Đức mộ viên nơi đây  từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ
- Hiển khảo Lương Đức Thân (hiệu…….) sinh năm Quý Hợi 1922, tạ thế lúc 2 giờ 5 phút sáng ngày Thứ Ba 21/01/1997 (tức là ngày 13 tháng Chạp năm Bính Tí); Cát táng, đặt tại nghĩa địa nhân dân thôn An Phong, xã Phong Niên huyện Bảo Thắng từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ).
 luôn vững chắc mộ phần, yên ổn cốt xương, siêu thoát vong hồn.
Đồng xin các quan ngài mở lượng hải hà, quan Sứ giả dẫn đường, bố cáo cho các ty mọi nơi thuộc hạt biết, không ai ngăn cản cho vong hồn được nhận lĩnh lễ vật an ổn ở nơi mộ phần, khiến cho vong âm, người dương đều được hưởng phúc lạc;
Lại xin đưa vong hồn về trước gia đường, đón Lễ Vu Lan, để cho con cháu phụng sự trong tiết Trung nguyên, báo đáp thâm ân, tỏ lòng hiếu kính.
Âm dương cách trở, bát nước nén hương, tâm nguyện lòng thành, lễ bạc tiến dâng, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì.
Nam Mô A-di-đà Phật (3 lần)


2.VĂN KHẤN TRONG NHÀ
Hôm nay, ngày 11 tháng Bẩy năm Bính Thân, vào năm thứ 71 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là vào Thứ Bẩy, ngày 13 tháng 08 năm 2016, nhân tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh,
Tại Gia từ ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955, hiện cư ngụ tại SN 328 đường Hoàng Liên thuộc Tổ 22, P.Kim Tân, Tp. Lào Cai cùng mẫu thân, anh em, vợ con và các cháu sinh sống tại tỉnh Lào Cai,
Trong tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh, tín chủ chúng con tâm thành muôn lạy, kính thỉnh:
- Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư vị Tôn thần;
- Chư Phật mười phương, Ba ngôi Tam Bảo; Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát;
- Ngài Mục Kiền Liên Tôn Giả;
- Ngài Đương cai Bính Thân niên Chí đức Tôn thần: Quản Trọng Đại tướng quân; ngài Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu Hành Binh chi Thần, Tống Tào Phán quan;
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và Chư vị thần linh cai quản xứ này. 
Chúng con tiếp kính thỉnh:
- Thủy tổ Lương Công Trạch, Tổ tỉ Nguyễn Thị Lã;
- Đệ Nhất đại Tổ Lương Công Nghệ, Tổ Tỉ Lương Thị Còi,
- Đệ Nhị đại Tổ Lương Công Tú cùng các Tổ tỉ Đào Thị Nhượng, Nguyễn Thị Dụng, Hoàng Thị Châu, Đặng Thị Chiền;
- Cao tằng tổ khảo: Lương Đức Hanh, Tổ tỉ: Đặng Thị Chẻo, Tổ tỉ khiếm danh;
- Tằng Tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ;
- Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh;
- Tổ cô: Lương Thị Mẹt;
- Tổ khảo: Lương Đức Trính, Tổ tỉ: Đặng Thị Chỉ;
- Hiển khảo: Lương Đức Thân;
Cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ theo Tiên tổ và các phụ vị thương vong.
Trộm nghĩ rằng:
Vạn vật tạo thế gian, chuyện sắp đặt nhờ Thánh hiển linh; 
Người sống trong trời đất, sự sinh tồn có Thần phù hộ.
Nước tự nguồn trôi kẻ uống nước phải tìm Giếng chẩy ra;
Cây theo cội lớn người thành danh cần báo ơn Tiên Tổ.
Lại biết rằng:
Cành rợp bóng, dòng chảy không ngừng vì bền gốc, sâu nguồn;
Nước yên bình, Gia môn khang thái bởi bao người thiệt số.
Lớn thành người nhờ cha mẹ khó nhọc sinh ra;
Gây nên nghiệp bởi tổ tiên, Phật Thần phù hộ.
Uống nước phải nhớ nguồn, hưởng trái thơm nhớ ơn người trồng;
Đó là nếp Hiếu Nghĩa ngàn xưa, là đạo cương thường vạn cổ.
Bởi thế cho nên:
Nhân tiết Vu Lan, ngưỡng vọng Tôn linh, hiếu kính tỏ lòng;
Gặp ngày Xá tội, thương kiếp chúng sinh, tâm thành rộng mở.
Toàn gia xin:
Sắm hương, nến, trà, trầm, rượu, cau, trầu với quả và hoa;
Bầy muối, xôi, gạo, cá, gà, canh, cháo cùng vàng và mã.
Vật dụng dâng lên thắp nén tâm nhang;
Bày lên trước án, lễ bạc lòng thành cúi xin thấu tỏ.
Thành tâm kính mời:
Các chư Phật, Thần, Thánh, các bậc Tiên linh cùng phụ vị thương vong;
Đã kính thỉnh giáng lâm trước án, xét xoi chứng giám, cùng là nạp thụ.
Toàn gia nguyện:
Rèn chữ Hiếu, tích điều Liêm  dạy con cháu  mãi dõi noi theo;
Mở lòng Nhân, trồng cây Đức giữ nếp nhà vững bền muôn thủa.
Vọng xin Thần Phật, Tổ tiên ban ân, ban phúc:
Để Hiển khảo, cùng Thất tổ của chúng con và cả chúng sinh;
 Ra đường lành, thoát vòng mê, đặng siêu sinh nơi Giác ngộ.
Cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;
Giúp đệ tử: Đem đến điều lành, mang đi điều dữ, thêm của thêm người, làm chi thắng đó.
Bé bú mớm hay ăn chóng lớn, luôn gặp vía lành;
Người học hành mạnh khỏe chăm ngoan, đã thi là đỗ.
Khi hương đã tàn, vàng mã áo quần, con xin thiêu hóa: gửi xuống cõi âm;
Lễ vật phẩm thừa, xôi, rượu, canh, thịt, cháu con xin cùng: kết đoàn thụ lộc.
Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.
-Cẩn cáo-


3. VĂN KHẤN CHÚNG SINH (ngoài trời) :
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương trời, năm phương Đất, mười phương Chư Phật;
Con lạy Đức Phật Di Đà.
Con lạy Bồ Tát Quan Âm.
Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.
Tiết tháng 7 sắp Thu phân,
Ngày Rằm xá tội vong nhân hải hà.
Âm cung mở cửa ngục ra,
Vong linh không cửa không nhà.
Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả,
Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương.
Gốc cây xó chợ đầu đường,
Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang.
Quanh năm đói rét cơ hàn,
Không manh áo mỏng, che làn heo may.
Cô hồn nam bắc đông tây,
Trẻ già trai gái về đây họp đoàn.
Dù rằng: chết uổng, chết oan,
Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu.
Chết tai nạn, chết ốm đâu,
Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình.
Chết bom đạn, chết đao binh,
Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi.
Chết vì sét đánh giữa trời,
Nay nghe tín chủ thỉnh mời.
Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau.
Cơm canh cháo nẻ trầu cau,
Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh.
Gạo muối quả thực hoa đăng,
Mang theo một chút để dành ngày mai.
Phù hộ tín chủ lộc tài,
An khang thịnh vượng hoà hài gia trung.
Nhớ ngày xá tội vong nhân,
Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời.
Bây giờ nhận hưởng xong rồi,
Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần.
Tín chủ thiêu hoá kim ngân,
Cùng với quần áo đã được phân chia.
Kính cáo Tôn thần, Cô hồn chúng sinh Chứng minh công đức cho tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955 cùng mẫu thân,; cùng anh, em, vợ, con và các cháu
Tổ chức cúng tại tư gia ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Ba, ngày 09 tháng 8 năm 2016

Một CÂU ĐỐI KHÔNG TƯƠNG XỨNG

Mấy ngày gần đây trên một số trang mạng lan truyền đôi câu đối nói là của một học giả tặng lãnh đạo mà VTV có đưa tin. Tiếc rằng chương trình đó do bận việc khác nên chả theo dõi được.
Theo một số Blogger và Facebooker thì câu đối và ảnh câu đối đó xuất hiện từ ngày 05/8/2016, có nguyên văn là:
“Tể tướng giáng trần, chí tráng tâm hùng, Xuân mãi mãi
Anh hùng nhập thế, dân an quốc thái, Phúc vô biên”.
Báo chí chính thống không thấy nhắc lại và phân tích để định hướng dư luận, chỉ thấy lời tán của các Blogger và Facebooker. Việc bàn luận, chỉ trích, bôi bác, thâm chí xuyên tạc theo hướng tiêu cực không phải không có lý do từ 22 chữ đó.
Với trách nhiệm một công dân, là người đang võ vẽ học Nhất, Nhị, Tam và cũng từng tập tọng viết dăm ba câu đối (tất nhiên chỉ cho mình và dùng trong nội bộ gia đình), không nhằm khen chê hay có ý gì khác, tôi nhận thấy sao, viết vậy.
Theo như ảnh đăng thì cặp đối này được viết bằng chữ quốc ngữ dạng chữ “vuông” theo như Hán tự. Có 2 tiếng Việt hoàn toàn (“mãi mãi”) còn lại là 20 từ Hán – Việt (có 2 thành ngữ) đều là những từ khá thông dụng, ai nghe hoặc ai đọc đều có thể hiểu. Nhưng, không ổn là ở chỗ:
1. Câu đối đó không chỉnh, bởi:
1.1. Không rõ thể loại là câu đối ca ngợi hay chúc tụng.
1.2. Sai luật đối:
- Về luật bằng trắc: “giáng” và “nhập” đều thuộc vần trắc, phạm luật (chưa kể nghĩa).
- Về từ đối, như “mãi mãi” là từ Việt, từ láy đối với “vô biên” là từ Hán Việt, từ ghép.
- “Tể tướng” ở vế trên đối với “anh hùng” không chuẩn bởi một chức danh bầu cử mà nên, chức danh kia suy tôn mà có và “tể tướng”  chưa được phong “anh hùng” !
- Về cặp đối thành ngữ:
+ Thành ngữ gốc Hán 壯志雄心 “tráng chí hùng tâm” (tức chí dài tâm vững) bị đảo từng từ trong từ ghép thành “chí tráng tâm hùng”. Thành ngữ này đã được Giáo sư Vũ Khiêu viết tằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dịp Xuân Bính thân 2016 trong cặp:
“Ái Quốc Thân Dân, Một Tấm Trung Can Trời Phật Tỏ.
Hùng Tâm Tráng Chí, Ngàn Thu Sự Nghiệp Núi Sông Ghi”
 + Thành ngữ gốc Hán 國泰民安quốc thái dân an” (tức nước hoà bình dân yên ổn) bị đảo thành “dân an quốc thái”.
+ Về nghĩa 2 thành ngữ này không đối nhau! Để ca tụng công đức của ai đó có thể dùng thành ngữtráng chí hùng tâm” đối với 护國安民 “hộ quốc an dân” hay đổi lại cho hợp luật bằng-trắc là “an dân hộ quốc”!
Như vậy câu đối này phạm cả việc đối từ, đối ngữ lẫn đối ý giữa 2 vế!
1.3. Không phù hợp với thời cuộc:
+ “Tể tướng” 宰相 là chức danh thời quân chủ, do Vua phong nay các chức danh lãnh đạo do bầu cử mà nên (cán bộ là đầy tớ của nhân dân).
+ “Giáng trần” 降塵 dùng chỉ những đấng siêu nhân, ở cõi khác vào chốn nhân gian; Ví dụ tích “Tú Uyên giáng trần” hay phim “Tiên nữ giáng trần”.
+ “Nhập thế” 入世 là Vào đời, ý nói sống với người đời và gánh các việc đời; là tham dự vào để gánh vác việc đời (thường là ra làm quan), không xa lánh cõi đời, không đi ở ẩn, theo quan niệm của nho giáo; Ví như: “Phật giáo nhập thế”,...
Do vậy, “tể tướng”,  “giáng trần”, “anh hùng”, “nhập thế” không phù hợp với thời dân chủ là lãnh đạo từ nhân dân mà ra, trưởng thành từ thực tiễn, qua nhiều nấc thang từ thấp đến cao và do bầu ra để phục vụ nhân dân!
Hơn nữa “giáng trần”, “nhập thế” mang màu sắc tôn giáo, thần bí không hợp với thời @, dưới chế độ XHCN.
2. Rõ ràng, theo tôi câu đối trên không chỉnh và không tương xứng với tầm cỡ người viết và người được tặng.
Đề nghị các cơ quan thông tính đại chúng nên có bài phân tích kỹ, hoặc trao đổi với tác giả về ý định, về ẩn ý, điển tích...để định hướng đúng cho dư luận, tránh những suy diễn, xuyên tạc với dụng ý xấu.
3. Nếu tôi đủ tầm hay có tâm muốn tặng câu đối cho lãnh đạo, thì tôi chuyển tải ước mong cũng là lời chúc của tôi ngắn thế này:
Chữ Hán:
國太民安春不盡
人健物盛福無邊
Đọc theo âm Hán Việt:
Quốc Thái Dân An Xuân Bất Tận;
Nhân Khang Vật Thịnh Phúc Vô Biên.
Như tranh tôi minh họa kèm theo ở đầu trang.
Mấy suy nghĩ chép lại để nhớ.

- Lương Đức Mến, 08/8/2016-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 7 năm 2016

Sau NGÀY ĐẠI KỊ TAM NƯƠNG lại rộ lên NGÀY TẬN THẾ

Thiên hạ cũng lắm chuyện lạ, nhiều tin đồn vô căn cứ! Thế mà khối người tin, nhất là trong thời @ thì tin đồn và sự lan truyền của nó càng nhanh hơn nhiều!
1. Ngày Đại kỵ Tam nương 50 năm mới xuất hiện một lần (theo Ngũ Hành Thiên vận Tinh quân) mà nhiều tín đồ của phái “mê hoặc lòng người” tung ra, lan truyền rằng:  với Âm lịch là 18/6, Dương lịch là ngày Cõi Âm mở cửa Báo nghiệp nên rất xấu, tai họa lắm, không thành công việc gì. Nhưng đến hôm nay, 22/7 kiểm lại thấy: nhân loại vẫn chẳng có gì là “thảm họa”, cuộc sống vẫn diễn ra như nó vốn thế. Thật là:
Qua ngày Đại kị Tam nương,
Công viên vẫn chật, mặt đường vẫn đông.
Bực thay kẻ xấu cuồng ngông,
Gieo tin thất thiệt, dân lòng hoang mang.
Giận sao những kẻ mơ màng,
Nối loan tin bậy khắp làng, khắp nơi.
Trách ai cũng học thành người,
Mà tin mù quáng rối bời tâm can!
Sự Thờ muốn được Linh Thiêng,
Cần tìm hiểu kỹ kẻo Kiêng quáng gà!
Xem thêm ngày Tam nương tại đây: http://holuongduclaocai.blogspot.com/2015/01/ngay-tam-nuong-va-viec-kieng-ki.html
2. Nhớ lại thuyết về NGÀY TẬN THẾ:
2.1. Ngày tận thế liên tục bị “lùi”!
Ngược dòng thời gian, nhân loại từng nghe một số giả thuyết cho rằng thảm họa diệt vong sẽ xảy ra vào tháng 5/2003, nhưng khi chẳng có gì xảy ra thì thời điểm đó được lùi tới 21/12/ 2012 - ngày cuối cùng trong lịch của người Maya cổ bởi vào ngày đó sẽ có hiện tượng các hành tinh tạo thành đường thẳng. Tất nhiên ngày đó đã qua 3 năm rưỡi mà Trái đất vẫn tồn tại, nhân loại vẫn hiện diện, dù trải qua nhiều thiên tai, địch họa...
Không dừng lại, gần đây, nhiều “phán gia” cho rằng “ngày Tận thế” sẽ xảy ra vào ngày 29/7. Khi đó từ trường của trái đất sẽ đảo cực;  Mặt Trời chuyển sang màu đen giống như vải thô đen; Mặt Trăng quay ngược hoàn toàn; Các ngôi sao rơi xuống Trái Đất; Mỗi ngọn núi, đảo đều sẽ dịch chuyển khỏi vị trí vốn có của nó và trên Trái Đất một trận động đất toàn cầu kinh hoàng sẽ xảy ra !.
2.2. Vì sao người ta đưa ra “ngày Tận thế” và tin rằng có ngày đó:
- Thứ nhất, nhiều người cho rằng đó là một cách để kiếm tiền hoặc thu hút sự chú ý của dư luận kiểu như các nghệ sĩ tạo Sandal.
- Thứ hai, những tin đồn về tận thế thỏa mãn khao khát khám phá những điều chưa biết của con người. Theo DiTommaso thì: “Trong một chừng mực nào đó, những tiên đoán về tận thế chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý. Nó giúp con người giải thích được thời gian, không gian và sự tồn tại của con người. Chúng không phải là bộ môn khoa học, song chúng cũng giải thích các sự việc trong thế giới.
- Thứ ba, nhiều nghiên cứu xã hội học chứng minh rằng những người quan tâm tới tiên đoán tận thế cũng thường tìm cách giải thích mọi hiện tượng bí ẩn trong thế giới xung quanh. “Họ tỏ ra thông minh hơn nhiều so với đa số người trong xã hội và luôn tìm kiếm câu trả lời cho mọi điều trong cuộc sống”.
- Thứ tư, một số nghiên cứu tâm lý cho thấy niềm tin vào ngày tận thế còn tăng lên sau mỗi lần tiên đoán không trở thành hiện thực và khi một điều mà họ tin không xảy ra, họ luôn tìm ra lý do để giải thích.
- Ngoài ra, khi con người tin điều gì đó một cách mạnh mẽ, họ chỉ nhớ những thông tin hậu thuẫn niềm tin của họ, chứ không quan tâm tới những thông tin trái ngược và những người tin vào sự kiện tận thế chỉ để ý lời của những người đưa ra tiên đoán và phớt lờ những ý kiến phản bác.
2.3. Dưới ánh sáng khoa học:
- Jesus Gomez, người đứng đầu Liên minh giáo sĩ Maya tại Guatemala, tuyên bố: “Khái niệm diệt vong hay tận thế không hề tồn tại trong văn hóa Maya”.
-  Cirilo Perez, một hậu duệ của người Maya và cũng là một nhà chiêm tinh nổi tiếng, đang làm cố vấn của Tổng thống Guatemala Alvaro Colom còn khẳng định thêm: một số cá nhân cố tình tung ra tin đồn về ngày tận thế để trục lợi...;  các tin đồn có thể mang đến lợi ích thương mại cho một số cá nhân. Ngày nay người ta đều đánh giá cao nền văn minh Maya, nhưng trên thực tế rất ít người hiểu tổ tiên của chúng tôi”.
- Do các Hành tinh (trong và ngoài Hệ Mặt trời) đều  quay quanh một ngôi sao, không có “hành tinh lang thang” và Quỹ đạo của mỗi hành tinh được mô tả bởi một tập hợp các tham số quỹ đạo. Như vậy chẳng khi nào chúng xếp thẳng hàng nhau.
Trong lịch sử từng có thời điểm các hành tinh:  Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và mặt Trời, Quả đất nằm trên một đường thẳng gọi là “Thất tinh hợp bích”, 七星合壁 hay “Thất diệu tề nguyên” 七曜劑元. Đó là thời điểm Giáp Tý khởi thuỷ của niên lịch có ngày 01 tháng Giêng là ngày Giáp Tý, tháng Giáp Tý, năm Giáp Tý.  Từ năm đầu tiên Giáp Tý ấy, đến nay 2016 Bính Thân là năm thứ 10. 155. 933 năm. Xem tại đây: http://holuongduclaocai.blogspot.com/2011/01/tim-hieu-ve-can-chi-khoi-nguyen-giap-ty.html .
- Cơ quan NASA khẳng định:
+ Những câu chuyện ấy chỉ là trò chơi khăm trên Internet.
+ Lịch của người Maya không kết thúc vào ngày 21/12/2012 và sẽ chẳng có hiện tượng xếp thẳng hàng của các hành tinh. Thậm chí nếu hiện tượng ấy xảy ra thì tác động của nó đối với trái đất cũng không đáng kể.
+ “Những lời khẳng định về ngày tận thế vào năm 2012 chẳng dựa trên bất kỳ cơ sở khoa học nào. Nếu trái đất có nguy cơ va chạm với một thiên thể nào đó, giới thiên văn đã phát hiện ra thiên thể đó từ hàng thập kỷ trước khi vụ va chạm xảy ra. Nếu hành tinh mà người ta gọi là Nibiru đâm trúng trái đất vào năm 2012 gần thời đó chúng ta có thể quan sát nó bằng mắt thường. Nhưng chẳng ai thấy gì hết, bởi hành tinh ấy không tồn tại.
+ Tóm lại hành tinh của chúng ta sẽ yên ổn trong hơn 4 tỷ năm nữa”!
2.4. Theo quan niệm cổ truyền về ngày 29/7/2016:
- Hôm đó vào thứ Sau, ngày 29/7/2016. Với Âm lịch là ngày: 26/6. Đây là ngày Nhâm Tý (Tang chá Mộc), tháng Ất Mùi (Sa trung Kim), năm Bính Thân (Sơn hạ Hỏa).
- Ngày này có: Can (Nhâm) Chi () tương đồng (Thủy) nên là ngày CÁT; Nạp Âm: Tang chá Mộc kị tuổi: Bính Ngọ, Canh Ngọ; vì là Mộc nên khắc hành Thổ, đặc biệt tuổi: Canh Ngọ, Mậu Thân, Bính Thìn thuộc hành Thổ không sợ Mộc; lại là ngày Tý lục hợp Sửu, tam hợp Thìn và Thân thành Thủy cục; xung Ngọ, hình Mão, hại Mùi, phá Dậu, tuyệt Tỵ.
- Có các Sao tốt (Cát thần) là: Chi Đức, Giải Thần, Kim Đường, Minh Phệ Đối, Ngũ Đế Sinh, Thiên Thụy, Thiên Ân, Thất Thánh, Đại Thâu.
Do vậy có thể tiến hành được các việc: bách sự nghi dụng, bội ấn, chỉnh dung thế đầu, chỉnh thủ túc giáp, di đồ, hứa nguyện, lập khế, mộc dục, nạp lễ, sách tá, thú cấu, thụ hạ, thụ phong, trai tiếu, trang tu, trảm thảo, trần từ tụng, tu kiều, tu lộ, tu phần, tu trạch, tu táo, tác sự, tạo trạch, tạo tác, tạo táng, tạo ốc, tế tự, tống lễ, đính hôn.
- Giờ Hoàng Đạo: là Canh Tý (23-1), Tân Sửu (1-3), Quý Mão (5-7), Bính Ngọ (11-13), Mậu Thân (15-17), Kỷ Dậu (17-19)
Do vậy, Chẳng có gì đáng lo vào ngày 29/7 tới !

(Tranh, ảnh minh họa khai thác trên In)
- Lương Đức Mến, 22/7/2016-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Năm, ngày 14 tháng 7 năm 2016

Tìm hiểu VỀ CHẾ ĐỘ TANG PHỤC, TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI

Chế độ Tang phục (H : 喪服, A: The mourning clothes, P: Les vêtements de deuil) gọi tắt là “Phục chế” 服制 là hệ thống quy định về phục sức, thời gian để tang cho từng quan hệ thân thuộc cụ thể (phục tự 服序)[1]. Mỗi việc như vậy đều cần được tiến hành chu đáo, có trật tự theo Nghi thức (H: 儀式, A: The protocol, P: Le protocole) chuẩn mực. Đúng như Alexandre de Rhodes viết trong tác phẩm “Lịch sử vương quốc xứ Đàng Ngoài từ Thế kỷ XVII: “Có lẽ không một quốc gia nào mà tại những vùng đất có người ở, người ta thực hiện nhiều bổn phận, tôn kính đối với linh hồn, thể xác của người chết hơn cư dân ở vương quốc An Nam…” .
Những quy định đó, ngoài mục đích để biểu thị tình cảm, thái độ với người chết, còn là để phân biệt mối quan hệ thân sơ với người chết và rất thiêng liêng. Do vậy nó được quy định khá chặt chẽ, tuy mỗi thời, mỗi vùng có khác nhau theo thời gian 历代 và không gian 同代.
1. Phục chế thời xưa:
1.2. Lược sử hình thành và phát triển:
 Lịch sử đã chứng minh rằng: trên cơ sở nền văn hoá Đông Sơn (mang tên địa điểm phát hiện di chỉ ở Thanh Hóa)[2], nhu cầu trị thủy và đấu tranh chống xâm lăng đã hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang 文郎 đầu tiên của người Việt, đóng đô ở Phong Châu và nền văn minh lúa nước, văn hóa làng xã trở thành cốt lõi văn hóa Việt. Ban đầu, trong đời sống tâm linh, người Việt cổ có tục thờ đa thần 多神 của văn hóa bản địa sau lại tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Ân Độ[3], đặc biệt là văn hóa Hoa Hạ nên nước ta là nước đa tôn giáo .
Do ảnh hưởng của 2 nền văn hóa lớn lại kết hợp với văn hóa bản địa nặng tính chất làng xã của nền văn minh lúa nước nên người Việt có khá nhiều tục lệ. Trong đó có tục về việc tổ chức Tang lễ sao cho trọn vẹn.
Ban đầu dân ta tiếp thu từ sách bên Tầu truyền sang. Nhưng sách đó với nhiều quy chế cổ trong Tam lễ phức tạp, khó thực hiện; gây phiền nhiễu nên dân chúng thực hiện tùy hoàn cảnh và thiếu thống nhất ngay trong từng gia đình, làng xã. Từ đó các triều đại Đại Việt đã xây dựng các bộ Luật có nói về  phục chế gia lễ Việt Nam như Nguyễn thị gia huấn 阮氏家訓, Hoàng Việt luật lệ 皇越律例 chuẩn hóa quy chế các nghi lễ theo quan điểm của Nho giáo (H: 儒敎, A: Confucianism, P: Confucianisme) .
Để phục vụ cho quảng đại quần chúng, các nhà Nho Việt Nam tiếp thụ văn hóa Trung nguyên mà phần phục lễ chủ yếu thông qua Văn Công gia lễ 文公家禮  soạn sách với cách tư duy của người Việt, tạo điều kiện để người đọc dễ dàng tra cứu theo các mối quan hệ. Trong đó phải kể đến:  Thượng thư Gia lễ 家禮 của Đông các Học sĩ 東閣學士Thượng thư 尚書Duệ Quận công 睿郡公Hồ Sĩ Dương (胡嘉杨, 1621 - 1681)[4]Gia lễ tiệp kính của Ngô Doãn hay Thanh thuận Gia lễ[5] của Bảng nhãn Thượng thư bộ Công 工部 尚書Lê Quý Đôn (黎貴惇, 1726 - 1784)[6],... nhưng vẫn chưa thống nhất và còn khó hiểu, khó áp dụng bởi ít được “Việt hóa”. Trước tình hình ấy, Thọ Mai cư sĩ 壽梅居士Hồ Sĩ Tân 胡嘉賓[7] đã biên soạn cuốn Thọ mai Gia lễ 壽梅家禮[8]. Sách này chú ý tham khảo, vận dụng Chu lễ và Gia lễ của tiền nhân nên có tiến bộ so với các tập sách trước nó, dễ hiểu, gần gũi với phong tục tập quán hơn nên nó nhanh chóng được dân gian tiếp nhận và lưu truyền. Nhưng Thọ Mai gia lễ từng bị Phạm Đình Hổ (范廷琥, 1768-1839)[9] đả kích kịch liệt vì cho rằng đã đưa ra những cách thức lạ kỳ, quê kệch...Song trong dân gian vẫn lưu truyền và dưới triều Nguyễn, Thọ Mai Gia lễ được sử dụng như là luật lệ về tang ma.
Thời cận đại, có Phan Kế Bính[10], năm 1915 soạn ra cuốn Việt Nam phong tục nghiên cứu nghiêm túc, có tính phản biện về thuần phong mỹ tục của Việt Nam[11].
Việc này tồn tại từ bao đời và đã trở thành “Lễ nghi phong hóa” (H: 禮儀風化, A: Ceremonies and manners, P: Cérémonies et moeurs) tức là cách thức bày ra trong khi tiến hành sao cho được trật tự, trang nghiêm, kính cẩn.
Tựu trung các sách đó đều xây dựng nên Ngũ phục đồ thuyết 五服圖說 với năm hạng bậc về tang phục (từ trọng phục đến khinh phục) ứng với thời hạn để tang cho từng đối tượng thân sơ (lấy bản thân làm trung tâm): trảm thôi 斬衰, tư thôi 齊衰, đại công 大功, tiểu công 小功, ti ma 緦麻.  Trong mỗi hạng tang phục có thể có “Tứ chế” 四制 hoặc “Tam chế” 三制 (chính phục 正服, gia phục 加服, giáng phục 降服, nghĩa phục 義服) cùng quan hệ thân thuộc tương ứng.
1.2. Phục chế và tôn giáo:
Các sách viết về Tang chế hay sự thực hiện trong dân gian đều chịu ảnh hưởng của 3 tôn giáo lớn du nhập vào nước tà từ hàng nghìn năm nay. Đó là:  Nho giáo (H: 儒敎,  A: Confucianism, P: Confucianisme), Phật giáo (H : 佛敎 , A: Buddhism, P: Bouddhisme) và Lão giáo (H: 老敎, A: Taoism, P: Taoisme).
Ngược dòng lịch sử chúng ta biết rằng: Nho giáo truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ I; Đến thế kỷ II, có thêm Phật giáo, sang thế kỷ III Lão giáo và Đạo giáo cũng có mặt ở Giao Châu còn Thiên Chúa giáo Thiên Chúa giáo hay Công giáo (H: 天主敎/公敎, A: The Christianism/ Catholicism, P: Le Christianisme/Catholicisme) mãi thời cận đại (TK XVI) mới có mặt tại Việt Nam. Từ đó đến nay 3 tôn giáo cũ này phát triển mỗi thời tùy mạnh yếu khác nhau nhưng đều ảnh hưởng nhất định đến đời sống xã hội, chính trị, tôn giáo của Đại Việt. Thực tế gồm ba bước:
- Tam giáo đỉnh lập: 三敎頂立 Nho, Phật, Lão cùng ở cái thế chân vạc, mối quan hệ giữa chúng thường là phân lập, thảng hoặc có chỉ trích nhau, phê phán nhau, cũng không ngoài mục đích khẳng định bản thân;
- Tam giáo dung hợp 三敎溶合 (còn gọi là “tam giáo hỗn dung” hay “tam giáo nhất gia”): tư tưởng Nho, Phật, Lão xâm nhập vào nhau, bổ trợ cho nhau, chung sống cùng nhau;
- Tam giáo đồng nguyên 三敎同原 (còn gọi là “tam giáo nhất nguyên”, “tam giáo hợp lưu”, “tam giáo đồng quy”, “tam giáo nhất trí”, “tam giáo nhất thể”)...cho rằng điểm xuất phát của Nho, Phật, Lão từ một cội nguồn mà ra; 3 tôn giáo này gặp gỡ,  hội tụ của với nhau, được coi như cùng trở về một mối, đồng nhất với nhau, không phân biệt, không mâu thuẫn, không xung đột với nhau. Đó thực chất là Tam giáo vô dị thuyết 三敎無異說, tức  học thuyết của Tam giáo không có gì khác biệt nhau, mỗi tôn giáo có thế mạnh riêng, trong đó “Nho trị thế, Phật trị tâm, Lão trị thân” (儒治世 佛治心 道治身 lấy Nho trị đời, lấy Phật trị tâm, lấy Đạo trị thân). Chính việc tam giáo “cầu đồng tồn dị” để xích lại gần nhau trong tiến trình lịch sử đã tạo nên sức mạnh vì mục đích nhân văn, vì cuộc sống con người.
Nhưng dù sao, mỗi tôn giáo đều có một đặc trưng riêng. Với việc Hiếu, Nho giáo chủ trương trọng người chết như người sống[12] ảnh hưởng tới hành vi; Phật  giáo  coi  trọng Tứ ân (H: 四恩, A: The four favours, P: Les quatre faveurs) nên chú trọng trợ duyên cho ông bà, cha mẹ tu tập theo Phật cho vong linh được siêu thoát, tái sinh ảnh hưởng tới việc tu thân còn Lão giáo thì ảnh hưởng tới lối sống mong người chết mau về với cõi Tiên, cõi Trời. Cái chết dưới cách nhìn của người theo Công giáo thì như là một quy luật, không có gì đáng sợ. Giáo dân nhẹ nhàng khi đối diện với cái chết, coi cái chết là về với Chúa, với sự vĩnh hằng, là sự bắt đầu của một đời sống mới nơi thiên đàng. Do vậy, mục đích đầu tiên của Thánh Lễ an táng là để “thờ phượng, chúc tụng ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vì món quà sự sống mà nay đã trở về với Thiên Chúa, Ngài là tác giả sự sống và niềm hy vọng của người công chính”. Đông thời đó là việc Giáo Hội “gửi gấm người chết vào lòng từ bi của Thiên Chúa và xin Chúa tha thứ các lỗi lầm của họ”.  
Như vậy, người Việt chịu ảnh hưởng Phật Giáo về mặt tâm linh, chịu ảnh  hưởng Nho Giáo về mặt luân lý giao tiếp xã hội, chịu ảnh hưởng Lão Giáo về mặt lối sống và duy trì tín ngưỡng dân gian về mặt mê tín dị đoan. Trong Tang lễ, một biểu hiện của Tam giáo đồng nguyên rõ nét là: việc báo hiếu là của Nho giáo, các hình thức gọi hồn, phạt mộc…là của Đạo giáo, cầu siêu quy về chùa…là của Phật giáo. Điều này mạnh đến nỗi trong nghi thức tang lễ của người Công giáo ít nhiều có sự pha trộn, đan xen với nghi thức tang lễ truyền thống của người Việt.
Hiện tượng độc đáo “Tam giáo đồng nguyên” kết hợp với tín ngưỡng dân gian nên mỗi nơi mỗi vẻ, ảnh hưởng nhiều trong cuộc sống của chúng ta ngày nay khá đậm nét cả trong Tang lễ cũng như chọn ngày, xem giờ, đi chùa lễ phật, cúng ông bà… Ngay cả các vị chức sắc bây giờ, từ to đến nhỏ, không ai nói ra nhưng vẫn lặng lẽ làm, hoặc bật đèn xanh cho vợ con làm.
1.3. Phục chế và dân tộc:
“Dân tộc”, chính xác phải là “Sắc tộc” (H: 族群, A: Ethnic group, P: Ethnie) là “cộng đồng mang tính tộc người. Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người”.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, việc xác định thành phần dân tộc theo Quyết định số 421, ngày 02/3/1979 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê và theo đó, hiện nay Việt Nam có 54 dân tộc và nhóm “người nước ngoài”.
Ngoài dân tộc Kinh là dân tộc đa số chiếm 85,73% dân số (2009) còn có các dân tộc thiểu số. Đó là “các dân tộc không phải là dân tộc Kinh, có ý thức về Tổ quốc Việt Nam, có tên gọi riêng, xác định theo tiêu chí được pháp luật công nhận, phù hợp với ý thức về dân tộc hay tộc người tự giác của đồng bào”. Dân tộc thiểu số Việt Nam sinh sống tập trung hay xen kẽ tại các bản, buôn, phum, sóc (tương đương thôn) ở 3 vùng chiến lược là Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ hay ven biển Nam Trung bộ.
Do không có tình trạng cưỡng bức, kỳ thị, chia rẽ hoặc đồng hóa, thôn tính giữa dân tộc đa số với dân tộc ít người nên những phong tục, tập quán, tín ngưỡng được hình thành từ lâu đời trong đó có phong tục về tang ma vẫn được gìn giữ, lưu truyền. Bên cạnh những lệ tục mang đậm bản sắc riêng, nhân văn cũng có không ít những phong tục, tập quán mang tính hủ tục, lạc hậu chưa được xóa bỏ làm cản trở sự phát triển chung.
Nhưng đó không thuộc phạm vi của chuyên mục nên không đi sâu vào tìm hiểu phục chế của các dân tộc thiểu số.
1.4. Năm hạng bậc Tang chế theo cổ truyền 五服圖說:
Đây chỉ tìm hiểu về cổ lễ trong cộng đồng dân tộc Kinh ở vùng Bắc bộ và những nơi ảnh hưởng của nó. Trong đó bao gồm cả phục chế (服制,các hạng áo tang), phục sức (服飭,bài trí tang phòng và trang sức áo tang) theo phục tự (, tức là liệt kê quan hệ thân thuộc theo quy tắc từ thân đến sơ, từ tôn đến ti cùng hạng tang phục tương ứng). Về thời gian để tang có Đại tang (大喪, 1 bậc, tang 3 năm) và Tiểu tang (小喪, 4 bậc: 1 năm, 9 tháng, 5 tháng và 3 tháng) thành ra có 5 bậc, gọi là Ngũ phục 五服 như sau:
1.4.1. Trảm thôi 斬衰: cùng với tư thôi thuộc về Đại tang.
- Là áo tang bằng vải thô trắng thật xấu, gấu áo cắt mà không viền, bỏ xủ xuống; quần xổ lai không khâu bằng phẳng. Con trai thì đội bức cân bao trùm đầu tóc, bên ngoài có đội mũ rơm (có thể dùng dây chuối thay rơm) bện thành hình tròn bọc vải thô; Tang cha thì con trai chống gậy trúc (người quân tử, cách đốt), tang mẹ thì chống gậy vông (phía dưới cho có cạnh vuông, tượng trưng mẹ hiền, liền khúc với con). Gậy có bề dài bằng khoảng cách từ gót chân lên tới tim, gốc chống xuống đất.
Con gái thì đội mấn, cũng làm bằng vải thô gấp chéo một đầu thành hình chóp nón.
- Mặc khi con để tang cha trong thời hạn 3 năm, thực ra là để tang tới Đại tường thêm 3 tháng dư ai thì mãn.
1.4.2. Tư thôi 齊衰:
- Quần áo không sổ gấu khi đó gấu áo, quần tang có lên lai, khâu lại cho bằng phẳng; Áo xô, khăn xô có giải sau lưng (gọi là khăn ngang) và nếu cha mẹ đều đã mất thì hai giải bằng nhau, nếu còn mẹ hoặc còn cha thì hai giải lệch nhau. Con trai chống gậy: tang cha gậy tre, tang mẹ gậy vông, mũ rơm quấn đầu, dây chuối, dây đai thắt lưng.
- Dùng khi Con trai, con gái, con dâu để tang cha mẹ (kể cả đích mẫu, kế mẫu, dưỡng mẫu, từ mẫu và dưỡng phụ), Vợ để tang chồng. Nếu con trưởng mất trước thì cháu đích tôn để tang ông bà nội cũng đại tang thay cha.
- Thời hạn 3 năm, đời sau giảm bớt còn 2 năm 3 tháng (sau lễ giỗ đại tường 2 năm, thêm 3 tháng dư ai)
1.4.3. Đại công 大功: từ đây trở xuông thuộc về Tiểu tang.
- Là vải đã dệt gia công thô dùng quấn khăn tròn, không gậy. Gồm:
* Đại công cơ niên 大功稘年:
- Dùng khi:  Cháu nội để tang ông bà nội; Con riêng của vợ để tang bố dượng nếu bố dượng có công nuôi và ở cùng, nếu không ở cùng thì không tang, trước có ở cùng sau thôi thì để tang 3 tháng; Con để tang mẹ đẻ ra mình nhưng bị bố rẫy (xuất mẫu), hoặc cha chết, mẹ lấy chồng khác (giá mẫu); Chồng để tang vợ và có gậy, nếu cha mẹ còn sống thì không gậy; Cháu để tang bác trai bác gái, chú, thím và cô ruột; Anh chị em ruột để tang cho nhau (cùng cha khác mẹ cũng tang một năm, cùng mẹ khác cha thì tang 5 tháng); Cha mẹ để tang con trai, con gái và con dâu cả, kể cả con đi làm con nuôi nhà người; Chú, bác, thím cô ruột để tang cho cháu (con anh em ruột); Ông bà nội để tang cho cháu trưởng (đích tôn); Đích mẫu, kế mẫu, từ mẫu, tang các con chồng, thứ mẫu tang con mình và con chồng như nhau đều một năm; Con dâu để tang dì ghẻ của chồng (tức vợ lẽ cha chồng); Rể để tang cha mẹ vợ (vợ chết đã lấy vợ khác cũng vậy); Nàng hầu để tang cha mẹ chồng, vợ cả của chồng, các con chồng cũng như con mình (các họ hàng bàng thân bên nhà chồng đều không tang).
- Thời gian để tang 1 năm, đến Tiểu tường (giỗ đầu) là mãn
* Đại công cửu nguyệt 大功九月:
- Anh chị em con chú con bác ruột để tang cho nhau.
- Thời hạn để tang 9 tháng.
1.4.4. Tiểu công ngũ nguyệt 小功五月:
- Vải trắng quấn tròn
 - Ông bà cụ kỵ cũng để tang hàng cháu hàng chắt
- Thời hạn để tang: 5 tháng
1.4.5. Ti ma tam nguyệt 緦麻三月.:
- Xưa dùng vải gai sợi nhỏ, khi: Chắt để tang cụ (Hoàng tang 黄喪) chít khăn vàng, Chít để tang can (kỵ) nội (Hồng tang 紅喪) chít khăn đỏ.
- Thời gian để tang: 3 tháng
Nhưng có thời, có gia đình vì quá nghèo không đủ tiền mua áo quan cho người chết, phải bó chiếu đem chôn. Ngay cả trong lúc túng quẫn đó, người ta cũng cố kiếm một dải vải nhỏ chít lên đầu cho đỡ tủi vong linh người chết, đỡ đau lòng người sống. Các con phải đi chân đất, sau bỏ lệ ấy mà đi dép tết bằng cói.
2. Phục chế thời nay:
2.1. Biến đổi theo thời cuộc:
Những năm 1945-1975, do chiến tranh, cuộc sống gian khó nên có thời gian việc hiếu bị hiểu lầm và sao nhãng.  Đã một thời chúng ta ngộ nhận chữ hiếu là của phong kiến, cần phải “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Hậu quả là chúng ta phải gánh chịu loạn từ trong nhà loạn ra, thậm chí có chỗ thành “họ nhà tôm”.
Trong số những lệ tục xưa, theo thời gian và do thời cuộc, có cái nay đã đi vào quên lãng, không còn phù hợp. Ngược lại,với người Việt, đã trở thành “Lễ nghi phong hóa” (H: 禮儀風化, A: Ceremonies and manners, P: Cérémonies et moeurs) tức là cách thức bày ra trong sự cúng tế cho được trật tự, trang nghiêm, kính cẩn đã thành phong tục tạp quán của cả dân tộc.  những lệ đã trở thành “Thuần phong mỹ tục” thì vẫn được duy trì cho phù hợp hơn, đặc biệt Ngũ phục chế ít thay đổi.
 Từ sau khi Đảng, nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, mọi mặt KT-CT-XH đều phát triển theo chiều hướng tích cực thì công việc đó mới được khơi dậy và ngày càng được quan tâm hơn. Nhiều vấn đề thực thi việc Hiếu đã dần được “luật hóa”. Trách nhiệm con cái với cha mẹ, ông bà được đề cập ngay từ đạo luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta là Luật hôn nhân gia đình được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa thứ nhất, kỳ họp thứ 11 thông qua trong phiên họp ngày 29 tháng 12 năm 1959 và hiện nay là Luật hôn nhân gia đình được Quốc hội nước Cùng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000. Về tang lễ có Nghị định Số: 105/2012/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2012 của Chính phủ Về tổ chức lễ tang cán bộ, công chức, viên chức.   
Nhưng dân ta vốn nặng tư tưởng lệ cổ nên cái mới chưa thành nếp. Trong số những lệ tục xưa, theo thời gian và do thời cuộc, có cái nay đã đi vào quên lãng, không còn phù hợp. Tất nhiên những lệ đã trở thành “Thuần phong mỹ tục” thì vẫn được duy trì cho phù hợp hơn. Đáng tiếc, do mặt trái của cơ chế thị trường, do điều kiện kinh tế phát triển trong khi một số mặt VHXH lại có biểu hiện không theo kịp nên xuất hiện nhiều lệ mới kiểu “Phú quý sinh lễ nghĩa” mà không phú quý cũng đua đòi, nhân danh “Thọ Mai Gia Lễ” phục hồi làm biến dạng nhiều tục cũ. Đặc biệt gần đây xuất hiện khá nhiều sách, tài liệu đều nói là dựa theo truyền thống có cải biên nhưng xem ra chỉ là sao chép lẫn nhau[13] và nhiều chỗ rất lạc hậu, sai lầm ngớ ngẩn. Do vậy, đa phần khi thực hiện các nghi thực chỉ là “làm theo” mà không hiểu vì sao cần làm như thế nên dẫn tới bị thô lược hay lạm dụng, hoặc làm sai lệch, không còn ý nghĩa gì. Do vậy nhiều việc làm trái khoáy, chướng mắt, tốn kém, phiền hà mà hỏi ra thì chả ai rõ ngọn ngành, trả lời vu vơ hoặc rất chi là phản khoa học, phản cả tâm linh. Tât cả do thiếu hiểu biết, thiếu tri thức mà ra!
Đó chỉ là phần nghi thức còn quy định về tang phục ít biến đổi.
2.2. Ngũ phục thời @ :
Theo tôi, người có tâm, có tri thức, có bản lĩnh không hành động a dua theo đám đông, hầu tránh gánh nặng không đáng có; tránh những tín điều lầm lạc, ngu muội. Trước mỗi lễ nghi, phong tục, tập quán ta cần có ý thức tìm hiểu nguyên nhân sâu xa để rõ ý nghĩa tâm linh, cơ sở khoa học, thực tiễn của hành vi cần phải thực hiện. Điều đó vừa giữ được truyền thống của ông cha, của “nếp nhà” vừa là một hành vi văn hóa, khiến cuộc sống thêm thi vị đúng với nghĩa cuộc sống của con người. Tại sao mỗi người không tực học hỏi, rút kinh nghiệm để nhớ và thực hiện trong gia tộc, bạn bè thân hữu nhằm “Gia sự hà tất vấn ngoại nhân” 家事何必問外人 mà có hỏi thì cũng có cơ sở cân nhắc, xem xét trước khi áp dụng.
Ngày nay, đồ tang đã được cải tiến và đơn giản nhiều. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều gia đình giữ phong tục cũ theo đúng 5 loại tang phục. Do đó cần lên danh sách con cháu, tính số người chịu tang mà làm, không được làm thừa. Đồ tang được may bằng vải xô hoặc vải phin trắng sử dụng đúng khi nhìn vào bộ trang phục, người ngoài có thể phân biệt ai là con trai, con rể, con dâu, ... của người chết:
- Con trai: áo xô, nùn rơm[14] quấn đầu, dây chuối, dây đai thắt lưng, gậy tang (để tang Cha: gậy tre, để tang Mẹ: gậy vông[15]), khăn ngang buộc đầu (nếu cả bố mẹ đã mất thì 2 dải buông bằng nhau, nếu 1 người còn thì để lệch).
- Con gái, con dâu: áo xô, đội mũ mấn là miếng vải xô chiều ngang khoảng 30 cm chụp lên đầu[16].
- Con trai, con gái và vợ người chết còn có một dải xô trắng chiều ngang khoảng 30 cm, dài hơn 1m, theo chiều dài gập lại vài lần để hình thành một chiếc khăn có chiều ngang khoảng 5 cm, chít quanh đầu, buộc múi ở phía sau, bỏ thõng hai đầu khăn xuống lưng, gọi là khăn ngang[17].
- Con rể: áo phin, khăn buộc đầu song hiện nay các gia đình đều chỉ có 1-2 con, có khi lại toàn gái nên nhiều nơi con rể cũng có tang phục như con trai[18].
- Anh chị em, người ngang hàng: khăn trắng bản to quấn quanh đầu.
- Các cháu: khăn trắng, bản nhỏ quấn quanh đầu.
- Chắt: khăn màu vàng quấn quanh đầu.
- Chít: khăn mầu đỏ quấn quanh đầu.
Trong trường hợp người chết, bố mẹ còn sống thì gia đình phải để khăn chịu tang bố mẹ cho người chết.
Chú ý :
- Sau ngày lễ tang, vợ con người chết còn chít khăn ngang cho tới 100 ngày, áo quần để xổ gấu, sống áo dài để hai nẹp máy ra ngoài (như mặc áo trái). Khi đội mũ cát hay mũ phớt, phải quấn khăn trắng quanh mũ hoặc may một khoanh băng đen (rộng khoảng 4 cm) có thừa ra hai đuôi ngắn về phía sau, lồng vào mũ.
- Hiện nay, tang phục đơn giản nhiều: dùng áo xô nhưng bỏ hai tay áo, đi giày dép bình thường; nhiều người không đội mũ rơm, không chống gậy. Ngày thường để trở bằng cách dùng miếng vải đen rộng chừng 8 cm máy thành nhiều nếp đeo quanh cánh tay hay đính ở trước ngực một miếng vải đen nhỏ.
- Việc sử dụng quần áo đen mới phổ biến ở vùng thành thị, nơi có sẵn dịch vụ cung cấp, vùng nông thôn lác đác vài gia đình có điều kiện hay con cái thoát ly nhiều biết đến.
“Nghĩa tử là nghĩa tận”, trong tang lễ, việc bài trí tang phòng, việc dùng tang phục của con cháu rất quan trọng. Nó thể hiện sự trang nghiêm và lòng hiếu thảo của con cháu. Những gì đầy tính nhân văn đã được tổ tiên chắt lọc, lưu truyền từ bao đời thiết nghĩ không nên bỏ, cần áp dụng sao cho hợp thời, hợp cảnh.

- Lương Đức Mến, tháng 7/2016-



[1] Không phải “Phục chế” là  làm lại cho đúng hình dáng ban đầu của hiện vật, ví dụ phục chế hiện vật cổ, phục chế ảnh...mà Hán tự viết là :復製
[2] Nền văn hóa cổ ở Thời đại đồ sắt, tồn tại ở một số tỉnh miền bắc và bắc trung bộ Việt Nam  (700 tCn - 100)
[3] Nền văn minh Ấn Độ thời cổ đại (còn được gọi là Văn hóa Harappa, 3.000-1.800 tCn) là một nền văn minh nổi tiếng bao gồm cả vùng đất ở các nước như: Ấn Độ, Pakistan, Nêpan, Bangladesh ngày nay. Nền văn minh này sản sinh ra chữ Ấn cổ, chữ Brami, chữ Sanskrit (là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam Á sau này) và sản sinh ra nhiều tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jaina và đạo Sikh.
[4] Hồ Sĩ Dương là quan nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Ông là cháu xa của Trạng nguyên Hồ Tông Thốc 胡宗簇.
[5] Hai cuốn Gia lễ này tôi chưa được biết, chỉ được đọc trong sách của Hoàng Công Tuấn..
[6] tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu (允厚), hiệu Quế Đường; làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam; nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Đỗ Bảng nhãn khóa thi Nhâm Thân, 1752, được bổ làm Thị thư ở Viện Hàn Lâm dần lên đến  Thượng thư bộ Công. .là quan thời Lê trung hưng, là nhà thơ, và là "bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến". Ông là tác giả nhiều: Các sách bàn giảng về kinh, truyện; Các sách khảo cứu về cổ thư; Các sách sưu tập thi văn; sách khảo về sử ký địa lý đến nay còn giá trị và nhiều tập thơ văn.
[7] Hồ Sĩ Tân (1691-1760) là con trai thứ hai Tham nhị Hồ Sĩ Tông (con ruột Duệ Quận Công Hồ Sĩ Dương). Năm Gíap Ngọ, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ mười (1714), Sĩ Tân dự thi Hương đậu ngay Giám sinh (Cử nhân); năm ất Mùi (1715) thi Hội đậu Phó bảng. Mùa xuân Nhâm Dần niên hiệu Bảo Thái thứ ba (1722) đời Lê Dụ Tông, Sĩ Tân dự thi Đình đậu Tiến sĩ. Bước đầu Sĩ Tân nhận chức Công khoa Cấp sự trung, sau được bổ nhiệm chức Gíam sát Ngự sứ đạo Quảng Yên, rồi thăng Hiến Sát sứ tỉnh Thanh Hóa. Trong khi làm quan ông thường bênh vực người nghèo khó và kẻ thất thế, thẳng tay trừng trị bọn tham quan ô lại , nên không được cấp trên mến phục, lại bị đồng sự chèn ép, ông xin về hưu .
[8] Trước đây  do viết và in bởi Hán tự nên sách ít phổ biến, mọi người chỉ truyền khẩu nên dễ tam sao thất bản. Ngay như tôi mãi năm 2001 mới kiếm được cuốn dạng Photocoppy mà sau này kiểm lại thấy nó không đúng về bố cục, chi tiết so với bản có trên mạng và được giới thiệu là dịch năm 1927.
[9]  Tên chữ là Tùng Niên 松年, Bỉnh Trực 秉直, hiệu: Đông Dã Tiều 東野樵, tục gọi là Chiêu Hổ; người làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông là nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn và nhà thơ của Việt Nam ở khoảng cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Tế tửu Quốc Tử Giám Thị giảng học sĩ. Và nhờ đọc nhiều, đi nhiều, ông đã để lại nhiều công trình khảo cứu, biên soạn có giá trị thuôc đủ mọi lĩnh vực: văn học, triết học, lịch sử, địa lý,... Đồng thời sáng tác nhiều tập ký, thơ có giá trị. Đặc biệt là Vũ trung tùy bút (雨中隨筆, Tùy bút trong mưa) là một tập truyện bằng chữ Hán, theo thể loại ký nổi tiếng tại Việt Nam.
[10] Phan Kế Bính (1875 – 1921), quê ở làng Thụy Khê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phố Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội), hiệu là Bưu Văn, bút hiệu Liên Hồ Tử, là một nhà báo, nhà văn nổi tiếng  hồi đó.
[11] Khi tiếp xúc với văn minh Phương Tây ông nhận ra: Kinh tế thay đổi thì phong tục phải thay đổi nên đã viết nhiều bài ngắn đăng từng kỳ trên Đông Dương Tạp Chí, vào năm 1913 – 1914. Sau đó tập hợp thành sách “Việt Nam phong tục. Cuốn này năm 2005 tôi mới mua được. Xem kỹ thì ra, chính trong cuốn sách này ông cũng chỉ ra những điều giả dối, phiền phức lố bịch trong nghi thức tang ma đương thời. Thế mới biết nói nhà Nho cổ hủ là nói liều!
[12] Nguyên văn “kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã  敬其所尊, 愛其所親, 事死如事生, 事亡如事存, 孝之至也. Tức là “Kính người trên, thương người thân, thờ người chết như người còn sống, trọng người đã khuất như người hãy còn. Đó là trọn hiếu vậy!”
[13] Bản thân tôi từng đi mua sách vớ phải những nội dung sai của...chính mình! Ví dụ cuốn “Tìm hiểu văn hóa tâm linh của người Việt” tác giả GsTs Cao Ngọc Lân, NCS Cao Vũ Minh-NXB Lao động xuất bản 2013 tại T38, 39, 40, 41 (Đôi điều về Bát hương) giống hệt (có đổi vài chữ nhưng phần mang tính “duy tâm” tôi nghe thầy tôi truyền lại vẫn giữ nguyên!) bài tôi đăng từ 02/02/2011 ở:  http://holuongduclaocai.blogspot.com/2011/02/bat-huong-viec-boc-bat-huong-va-su-dung.html. Hay các ảnh minh họa, bảng tôi tự thiết kế và ngày 10/02/2011 đưa lên tại http://holuongduclaocai.blogspot.com/2011/02/so-o-cam-nen-mau-va-chu-viet-tren-bai.html đã được 2 tác giả trên ưu ái sao lại ở T 180, 181 (chắc cóp sau khi tôi sửa ngày 14/02/2011) mà lẽ ra bảng chỉ gõ trực tiếp cũng được!
[14] Mũ rơm hình vành bánh xe, tết bằng rơm hay lá chuối khô, ở trên có chằng hai dải vải xô hình chữ thập, có một quai cũng bằng vải xô để đeo dưới cằm.
[15] Chống gậy để tỏ ra là người con có hiếu, vì quá buồn thương, khóc lóc đến nỗi ốm yếu, không đủ sức đi đứng như bình thường và thực tế là tránh ngã, nhất là khi đi lùi, đoạn đường khó đi.
Tre tượng trưng cho người quân tử và cây tre bốn mùa không đổi mầu, ví như tình cảm thương đau của người con không bao giờ giảm sút. Nhưng cha-con phải “cách đốt” qua người mẹ nên là cây tre và gậy tre để tròn, tượng trưng cho trời, ý coi cha như trời cao. Còn mẹ-con là “liền khúc ruột” nên dùng cây Vông không đốt và vông còn tên là « Đồng »  nghĩa là cùng, ý rằng lòng mẹ vẫn cùng hợp với cha. trường hợp không kiếm được cây vông có thể dùng thân cây sắn đầu trên vót tròn, đầu dưới vuông, theo ý “trời tròn đất vuông”.
[16] Trước kia còn quy định: nếu đã đi lấy chồng mà bố mẹ chồng còn phải về xin phép trước!
[17] Còn bố (hoặc mẹ) buộc múi lệch, cả 2 đã quy tiên để múi bằng.
[18] “Rể cũng như giai” có lẽ mãi mãi chỉ là ước muốn dù có tới xã hội “công bằng dân chủ văn minh” bao nhiêu thì bao giờ vấn đề “rể là khách” vẫn hiện hữu!.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!