[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2018

NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN VỀ CON CHÓ

Trong đời sống con người thì con chó là động vật thân thiết gắn bó từ thuở ấu thơ đến lúc “về già”.
Con người, dù thuộc chủng tộc, quốc gia, tầng lớp nào cũng muốn sống thật lâu để hưởng lộc trời nhưng như cổ ngữ có câu “Nhân sinh bách tuế vi kỳ” 人生百歲爲祇, nghĩa là “mỗi con người ta sống lâu chỉ chừng trăm tuổi”. Thế là thọ nhiều nếu so với con chó. Các giống chó nhỏ con sống lâu hơn các giống to con. Loại chó nặng 9 kg sống thọ trung bình 11 năm, nhưng chó nặng 40 kg chỉ sống trung bình được 8 năm. Tuy đời sống cá nhân cho ngắn nhưng vậy nhưng loài chó sống với con người đã từ rất lâu, nên chó và bóng dáng của nó xuất hiện nhiều trong đời sống con người cả về vật chất và tinh thần.
Hình ảnh, đức tính, giá trị dinh dưỡng của chó đã được người Việt biết đến từ lâu và khẳng định.
Nhân năm Mậu Tuất thử điểm lại vài nét cơ bản nhất.
1. TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY:
Những đức tính tốt của chó được tôn vinh như trung thành, thông minh, quan tâm đến chủ...Chó là bạn gần gũi, canh gác nhà cửa cho con người, giúp người săn thú, đuổi kẻ thù, mừng vui đón chủ về nhà.
Ở Việt Nam, nhất là miền Bắc, thịt chó được một bộ phận dân cư đặc biệt ưa chuộng. Bởi thế mới có câu: “sống trên đời ăn miếng dồi chó, xuống âm phủ biết có hay không” và trong ca dao có bài:
Con gà cục tác là chanh,
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,
Con chó khóc đứng, khóc ngồi:
“Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng!”
Cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Người ăn đầu tiên là thầy cúng, thầy phù thủy mà cũng chỉ ăn lén, ăn vào lúc tối trời, đêm hôm. Do mặc cảm tội lỗi xưa nay chẳng ai nói toạc ra là ăn thịt chó. Do kiêng kỵ nên người ta nói chệch là ăn thịt cầy, mộc tồn (mà “mộc tồn” nếu âm Hán Việt chuyển sang thuần Việt là “cây còn”, nói lái thành “con cầy” chính là “con chó!). Quan niệm người Việt mê tín dị đoan từ trước đến nay vẫn cho rằng: ăn thịt chó đầu năm, đầu tháng thì sẽ không tốt, không gặp may mắn trong cả năm, cả tháng đó; nhưng ăn thịt chó vào cuối năm, cuối tháng hoặc sau khi gặp một chuyện không hay thì lại là xua đuổi cái “vận đen” đi.
Tuy thịt chó là món khoái khẩu, nhất là đấng mày râu (RTC) nhưng khi cúng giỗ không bao giờ người Việt dùng thịt chó. Có thể việc ăn thịt chó “mới” du nhập vào nước ta từ sau khi các lệ tục đã ổn định[1]. Hơn nữa con chó là loài vật hung dữ, hay cắn người, mang bệnh dại, chó tượng trưng cho ban tối, cho tầng dưới, cho sự chết và cho pháp thuật, chó là loài vật ăn bẩn và nói đến chó là nói đến một điều xúi quẩy. Do vậy, người Việt cũng không thờ chó, không dùng thịt chó để cúng tế, cả trong cúng trừ ma tà. Lại có quan niệm rằng nói đến chó là nói đến một điều xúi quẩy, vì thế, người ta cũng phải đợi gần cuối tháng, hay ít nhất là qua ngày Rằm mới dám dùng thịt chó, và khi gặp vận hạn, người ta thường “giải đen” bằng ăn thịt chó.
Thành kiến đó được xem là bản chất xấu xa của con chó, làm mờ nhạt những tính tốt của con chó và được đúc kết trong nhiều nội dung với những khía cạnh khác nhau trong tục ngữ nói về con chó.
Con người học, mô phỏng từ chó nhiều việc: Nút chân chó là một loại nút dây dùng để rút ngắn một dây thừng hoặc thâu gọn phần dây chùng. Động tác bơi của loài chó cũng được con người học hỏi để phóng tác thành kiểu bơi chó, người bơi kiểu này thở đơn giản, thậm chí không cần ngụp đầu xuống nước. Trong quan hệ tình dục, những động tác giao phối của loài chó  được con người mô phỏng và biến thể thành một trong những tư thế kiểu chó (người cho đưa dương vật vào từ phía sau, người nhận quỳ bằng cả tay và chân, thân song song mặt sàn).
2. TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN:
2.1. Trong đời sống tâm linh:
Ở một số tộc người còn nặng “Totem giáo” thì chó vừa là tổ phụ huyền thoại vừa là anh hùng khai hoá và tộc người này không ăn thịt chó.
Ở Việt Nam, Gia Long Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎嘉隆,1762 - 1820) sau khi lên ngôi (Nhâm Tuất 壬戌, 1802) đã sắc phong cho bốn con chó Phú Quốc từng theo Ngài là “Cứu khổn phò nguy Tá quốc huân thần Thần Khuyển Đại tướng quân”[2] và lập miếu thờ (nhưng hiện không còn biết các miếu thờ này ở đâu).
Thực tế, nhiều nơi chó đá được thờ cúng tại các đền thờ, miếu mạo, cổng làng, ngõ xóm[3]. Chó đá tuy không có vai vế như thần Thổ Địa nhưng có chức năng canh giữ yêu quái vào làng nên được tôn trọng một cách thân mật kính cẩn gọi là cụ Thạch, Thần cẩu, quan lớn Hoàng Thạch. Tục thờ chó đá ở ta có thể liên quan tới nhiều truyền thuyết lịch sử: Tục truyền An Dương Vương Thục Phán dời đô về làng Cổ Loa là do theo chân của một đoàn chó săn. Hoặc chuyện Phạm thị, trong lúc viếng chùa Tiên Sơn, nằm mơ thấy giao hoan với thần chó đá mà mang thai, sinh Lý Công Uẩn[4] vào năm Giáp Tuất 974. Nhưng vì không chồng nên mang con đến chùa Cổ Pháp để nhờ nuôi và khi đó con chó đá trước cổng chùa bỗng lên tiếng sủa mừng. Sau đó, vào năm Canh Tuất 1010, sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ[5] dời đô từ Hoa Lư về Đại La thì có con chó cái vượt sông bơi theo thuyền vua rồi lên núi Nùng làm ổ để đẻ nên nhà vua đã chọn núi Nùng làm chính điện.
Trong quan niệm của người Việt xưa, muốn canh giữ phần âm thì phải nuôi chó đá. Ngày nay, người Việt ít còn chôn chó đá ở trước cửa nhưng vẫn mua chó gốm về để bày trong nhà, vừa xua đuổi tà ma, vừa làm vật trang trí.
2.2. Trong văn hóa:
 Trong phép tính lịch âm chó được xếp vào 12 con giáp (Thập Nhị Chi 十二支, là: Tý , Sửu , Dần , Mão, Thìn , Tỵ , Ngọ , Mùi , Thân , Dậu , Tuất , Hợi ) ở vị trí thứ 11 với chi Tuất và một trong những con vật thuộc lục súc. Khi kết hợp với Thập Thiên Can (十天干, gồm: Giáp ,  Ất , Bính ,  Đinh , Mậu ,  Kỷ ,  Canh ,  Tân ,  Nhâm , Quý ) được 5 năm Tuất (trong mỗi hoa giáp 六十花甲 60 năm) là: Giáp Tuất , Bính Tuất , Mậu Tuất , Canh Tuất , Nhâm Tuất và cứ 60 năm chúng lại quay lại trùng tên Can Chi. Ví như năm nay 2018 là Mậu Tuất thì trước đó 60 năm, năm 1958 và sau đây 60 năm, năm 2078 cũng là năm Mậu Tuất trong lịch âm.
Trong quan niệm của người Việt thì chó là con vật có thể đem đến những điều may mắn, mang đến thuận lợi và nhiều niềm vui (mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang). Người Việt còn dựa vào vị trí chọn chỗ nằm, làm ổ đẻ để định nơi làm nhà, kê giường.
Trong Thiên văn người ta đặt tên chó cho một số chòm sao, như: Tiểu Khuyển (小犬座, Canis Minor, tức “con chó nhỏ”), Đại Khuyển (大犬座, Canis Major, nghĩa là “con chó lớn”), Lạp Khuyển (猎犬座,Canes Venatici tức “chó săn”).
Nhưng chó cũng là đối tượng bị khinh rẻ, coi thường, nó được xem như một con vật bẩn thỉu, ngu dốt và đáng khinh. Người ta hay thóa mạ nhau bằng những câu chửi, tiếng lóng, thuật ngữ, có nhắc đến con chó như: đồ chó, đồ con chó, đồ chó má, đồ chó đẻ, đồ chó săn, thằng chó, chó chết, thằng chó chết, đồ chó cái (ám chỉ gái mại dâm), chó ghẻ, ngu như chó, cẩu nô tài (ám chỉ những kẻ tay sai), tuồng chó lợn, đồ chó vô chủ, đám chó hoang, chó chui gầm chạn....
Hình tượng con chó được một số nhà văn, họa sĩ, nhà điêu khắc trong giới mỹ thuật quan tâm trong sáng tác, tạo thành hình tượng nghệ thuật nhưng hiếm thấy hơn các con vật khác như: Rồng, ngựa, hổ...
2.3. Thành ngữ về chó:
2.3.1. Trong số những câu tục ngữ thành ngữ có liên quan đến “chó” có thể phân thành ba nhóm:
- Ví von, nói về những hiện tượng tiêu cực của xã hội, của con người:
- Từ tập tính của loài chó liên hệ đến tính tình của con người:
- Từ con chó để nói về những kinh nghiệm của con người.
2.3.2 Người soạn sưu tầm khoảng trên 100 câu, xếp theo thứ tự a,b,c như sau:
Bán gà tránh trời gió, bán chó tránh trời mưa.
Bẩn như chó: bẩn thỉu hết mức; keo bẩn, bủn xỉn, hẹp hòi.
Bỏ đuôi bên trái thì nuôi, bỏ đuôi bên phải thì thịt: khi chó đang ở trong trạng thái tự nhiên, đuôi sẽ nghiêng về bên trái là tốt.
Bọ chó múa bấc: chỉ người không có tài cán mà học đòi phô trương thanh thế, làm việc quá sức mình nên thường không thành công, bị cười chê, khinh bỉ.
Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo.
Chỉ chó mắng mèo: ngầm ý nhắc nhở.
Chó 3 năm mới nằm, gà 3 lần vỗ cánh mới gáy: khuyên người ta trước khi làm việc gì, nói điều gì phải thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng.
Chó ăn đá, gà ăn sỏi (muối) : chỉ nơi đất đai cằn cỗi, hoang vu.
Chó ăn trứng luộc: vớ bở dễ dàng ngoài trí tưởng tượng của mọi người.
Chó ăn vụng bột: lấm lét, sợ sệt vì hành vi mờ ám bị phát hiện.
Chó ba khoanh mới nằm, người ba năm mới nói: cẩn trọng trước khi phát ngôn.
Chó bỏ giỏ cua: ở vào trong tình cảnh bị kìm kẹp, không xoay sở được.
Chó cái bỏ (cắn) con: chỉ những người mẹ không mặn mà, thiết tha gì với con cái.
Chó càn (cùng) cắn (dứt) giậu: khi bị cưỡng bức, chèn ép đẩy vào bước đường cùng, không còn cách nào khác, thường làm liều, gây gổ bừa bãi, thiếu cân nhắc.
Chó cắn áo rách, Đã khó chó cắn thêm: chỉ tình huống chớ trêu trong cuộc sống đã nghèo khó, cùng cực bị kẻ xấu làm hại, bóc lột thêm - kẻ bất lương làm hại người khốn khó.
Chó cắn càn: hành động bừa bãi, liều lĩnh, không tính toán cẩn thận từ trước.
Chó cắn ma: sủa dai dẳng như chó sủa đêm khi thoáng thấy có bóng ẩn hiện nào đó.
Chó cắn trộm: hành động hung ác, vừa lén lút, vừa bất ngờ, mau chóng.
Chó cắt tai: lầm lì, lủi thủi do cảm thấy xấu xa, nhục nhã.
Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng: ỷ vào thế có lợi của mình mà hung hăng, bắt nạt người khác, không quân tử mà hèn hạ.
Chó có chê cứt thì người mới chê tiền: thói tham lam.
Chó cùng nhà, gà cùng chuồng: những người thân thích với nhau thì thương yêu nhau.
Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi.
Chó chạy (nằm, ngồi) hở (ló) đuôi: chân ruộng xấu, cây lúa không mọc tốt được, thân cây lè tè, giả như con chó chạy trong ruộng lúa thì còn bị hở đuôi.
Chó chạy cùng sào, Chó chạy đường cùng: tình thế không lối thoát.
Chó chạy trước hươu: không khiêm tốn, chẳng có tài, thiếùu hiểu biết nhưng lại lanh chanh dạy bảo, tranh đua với người khôn hơn mình.
Chó chê cơm, Chó chê cứt nát: chuyện ngược đời, không mấy khi xảy ra, ám chỉ những người khó tính, đòi hỏi quá đáng.
Chó chê mèo lắm lông: Phê phán kẻ khác không nhìn thấy lỗi mình mà chỉ nhìn thấy lỗi của người khác.
Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre: chê bai điều xấu nhưng lại gặp điều tệ hơn.
Chó chết hết cắn, Chó chết hết chuyện: diệt tham nhũng, diệt ác phải diệt tận gốc.
Chó chui gầm chạn: người rể phải nương nhờ nhà vợ, không được tự do thoải mái, chịu cảnh phụ thuộc.
Chó chực máu giác, Chó chực chuồng chồ: cam lòng chờ đợi, kiếm chút lợi lộc bẩn thỉu.
Chó dại cắn càn, Chó dại cùng đường: hung hăng, liều lĩnh, không còn đủ tỉnh táo để suy nghĩ thiệt hơn.
Chó dại có mùa, người dại quanh năm: những người đã dại khờ thì lại dại quanh năm suốt tháng, chứ chó thì chỉ dại có mùa.
Chó dữ mất láng giềng (bạn hiền): kinh nghiệm trong ứng xử, giao tiếp.
Chó đá vẫy đuôi: chỉ về chuyện không có thực.
Chó đen ăn vụng, chó trắng chịu đòn: chỉ kẻ này gây lầm lỗi để người khác (người gần gũi) phải oan uổng, gánh chịu hậu quả.
Chó đen giữ mực, Chó đen một mực, Chó đen quen ngõ: cố hữu, bản tính không thay đổi, hành động theo bản tính.
Chó già giữ xương: tham lam, không kham nổi mà vẫn cố giữ, không buông ra cho người khác.
Chó già, gà non; Gà lọt giậu, chó sáu bát: kinh nghiệm chọn thú mổ thịt.
Chó giống cha, gà giống mẹ: quy luật di truyền ở súc vật.
Chó giữ nhà, gà gáy sáng (trống canh): mỗi người một phận sự, ai có việc nấy, không nên suy bì.
Chó húp cháo nóng: không thực tế.
Chó ỉa bờ giếng không sao, chó ỉa bờ ao thì bị người ta cắn cổ: chỉ kẻ có tội thì không sao, còn người mắc khuyết điểm nhỏ lại bị tai vạ.
Chó khom lưng vãi cải, chó le lãi vãi mè: kinh nghiệm nhà nông: Thời tiết lạnh vãi cải, thời tiết đầu hè, nóng, chó le lưỡi, vãi vừng.
Chó khô mèo lạc: loại người lang thang vơ vẩn, không hiểu biết chuyện gì.
Chó khôn chẳng sủa chỗ không.
Chó khôn tha cứt ra bãi, chó dại tha cứt về nhà: chỉ việc làm ngu ngốc, dại dột (thường dùng khi la con cái).
Chó lê trôn, gà gáy gở: người mê tín coi đây là điềm xấu, báo hiệu điều dữ sắp xảy ra.
Chó liền da, gà liền xương: kinh nghiệm chăn nuôi: chó bị thương, gà bị gãy xương thì chóng lành.
Chó mái chim mồi: bọn làm tay sai cho kẻ thù, như chó săn, chim mồi trung thành với chủ nó để hại đồng loại.
Chó mặc váy lĩnh, Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi: chỉ kẻ không có đức, tài mà hợm hĩnh, kiêu kì, đua đòi, lố bịch, bản chất xấu lại làm ra vẻ tốt đẹp, đài các rởm.
Chó nào ăn được cứt thuyền chài: không thể kiếm chác được gì ở những nơi người ta không hề có sơ hở.
Chó nào chủ nấy, Chó nhà nào sủa nhà ấy: trung thành với con đường đã chọn, hãy nên lo việc của mình, đừng xía vào chuyện người khác.
Chó ngáp phải ruồi: sự may mắn ngẫu nhiên, họa hoằn, hiếm hoi của những kẻ bất tài chứ không phải do tài mà có đã được.
Chó nhà quê đòi ăn mắm mực: ở địa vị thấp hèn mà đòi hưởng những thứ cao sang.
Chó nhảy (ngồi) bàn độc, mèo ăn mâm ỉa bếp: bất tài, hèn kém mà gặp thời làm nên địa vị cao sang; chuyện trớ trêu, ngược đời.
Chó ông thánh cắn ra chữ: kẻ dốt nát mà hay nói chữ, tỏ ra tài cán hơn người khác.
Chó quen nhà, gà quen chuồng: loài chim, thú dù đi xa mấy vẫn biết tìm về nơi chốn mình ở.
Chó sủa là chó không cắn: kinh nghiệm khi gặp chó lạ.
Chó sủa trăng: chửi vu vơ, chửi mò vì không biết được điều gì cụ thể.
Chó tha đi, mèo tha lại: chỉ thứ bỏ đi không có giá trị, không ai muốn dùng, muốn nhận.
Chó tháng 3, gà tháng 7: kinh nghiệm ăn uống vì tháng 7 và tháng 3 là tháng giáp hạt, gà và chó đều gầy, ăn không ngon.
Chó treo, mèo đậy: cách cất giữ thức ăn không cho chó mèo ăn vụng rộng ra là có của thì phải biết giữ gìn, bảo vệ.
Chơi (giỡn) chó, chó liếm mặt: khình nhờn do quen biết, chơi thân, đùa giỡn với kẻ xấu (kẻ dưới), chúng đâm ra nhờn, không nể mặt hay thậm chí, còn làm hại đến ta.
Chực như chó chực cối (máu giác): chầu chực như chó canh người ta giã thức ăn trong cối, mong được chút gì.
Chửi chó chửi (mắng) mèo: mượn cớ mắng cái này để biểu hiện sự tức giận với cái khác.
Chửi như chó ăn vã mắm: chửi nhiều, chửi tới tấp, xối xả.
Đánh chó đá vãi cứt: bất tài, không làm nên công cán gì mà còn khoe khoang, hợm hĩnh.
Đánh chó ngó chủ, Đánh chó không nể chủ: phê phán, trừng phạt người/vật khác mà không kiêng dè người cấp trên của người/vật đó.
Đen như chó mực.
Đồ chó đểu ( chó ghẻ, chó chết, chó má, chó đẻ....), Đừng chõ mõm vào việc của người khác: mượn chó để chửi rủa, phê phán kẻ khác hoặc bực bội thân phận.
 Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt: chó mà có đốm ở trên đầu thì tốt nên để nuôi, còn chó mà có đốm ở đuôi thì không tốt.
Giả cầy người ăn như chó.
Giậm giật như chó tháng bảy: bản năng.
Giậu nát chó ỉa: nhân khi có người gặp vận rủi, kẻ xấu lấn tới kiếm chác hay làm hại thêm.
Hàm chó, vó ngựa: thuộc hạng phàm phu tục tử, hay gây sự, độc địa, cũng như chó và ngựa là những loài vật phàm ác.
Hục hặc như chó với mèo: thói hay tranh giành.
Khoang cổ, lổ đuôi, hại chủ nhà: kinh nghiệm chọn chó để nuôi.
Không có chó bắt mèo ăn cứt, Trâu không có bắt chó kéo cày: thích nghi với tình thế, buộc phải thay thế một cách gượng ép dù biết rằng không hợp lý.
Khuyển mã chí tình: Tức là chó và ngựa là hai con gắn bó với người nhất.
Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu: trí nhớ của chó.
Làm người thì khó, làm chó thì dễ: tổng quát về cách sống.
Lang lảng như chó cái trốn con: lảng tránh, không muốn gặp ai để tránh phiền toái, ví như chó mẹ trốn đàn con đang bú.
Lắt nhắt như chó đái: không việc gì ra tấm ra miếng.
Lẩu bẩu như chó hóc xương: nói nhỏ, lầm bầm trong miệng với vẻ bực tức, khó chịu.
Lên voi xuống chó: những chuyện thăng trầm trong cuộc đời, lúc phất lên, lúc thất thế.
Lơ láo như chó thấy thóc: ngỡ ngàng, thờ ơ trước việc không liên quan đến mình, như chó khi nhìn thấy thóc, không biết làm gì vì chó không ăn thóc.
Lợn rọ, chó thui: tình thế bất khả kháng.
Mang chết chó cũng lè lưỡi: làm hại được người khác thì mình cũng thiệt thòi, ví như chó cắn chết được rắn hổ mang thì cũng hết hơi.
Mèo đàng chó điếm: kẻ vô lại, ma mãnh hay sống lang thang, không nhà cửa.
Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang: kinh nghiệm sống.
Nói dai như chó nhai giẻ rách: chỉ người nói dai, nói dài, nói dại.
Nói như chó cắn ma: ăn nói dấm dẳng, không liền mạch, nói từng tiếng một.
Nói như chó ngậm cám, Nói như chó ăn vụng bột: ăn nói thiếu chững chạc,
Ngay lưng như chó trèo chạn: lười biếng, không chịu siêng năng làm việc.
Ngồi xó ró như chó tiền rưỡi: ngồi co rúm như không còn chút sức lực nào nữa.
Ngu như chó: quá ngu ngốc.
Nhất một, nhì chín: chó mẹ chỉ đẻ có một con thì con chó con đó rất quý, bởi lẽ chó mỗi lần sinh ra năm bảy con là chuyện bình thường.
Nhất mực, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm: phân biệt màu lông để biết thịt có ngon hay không.
Nhục như con chó: nhục nhã quá mức, như thân phận hèn mọn của con chó.
Như chó với mèo: Chỉ sự xung khắc
Ra sức khuyển mã: tận lực với chủ.
Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa: kinh nghiệm xem thời tiết.
Tâng hẩng như chó cụt tai: ngớ người vì mọi chuyện xảy ra không như dự tính.
Tuồng chó lợn, Phường chó lợn: Chỉ những hạng người đáng khinh.
Thắt cổ mèo treo cổ chó: chỉ người hà tiện, đến thú nuôi mà cũng không cho ăn.
Thịt chó chấm nước chó: sử dụng ngay nguồn sẵn có vì không có gì hơn, thường chỉ người mới học xong thì bắt đầu dạy lại người sau những gì mới học.
Trâu đeo mõ, chó leo thang: vùng núi hẻo lánh người dân cho trâu đeo mõ để dễ tìm khi nó đi xa vào rừng, nhà cửa ở đây cũng thường là nhà sàn có thang đi lên.
Treo đầu dê, bán thịt chó: mua gian bán lận.
Voi đú, chó đú, lợn sề cũng hộc: đua đòi, bắt chước kẻ khác đến độ lố bịch, làm trò cười cho thiên hạ.
Xuỵt chó bụi rậm, Quăng xương cho chó cắn nhau: cơ hội, xui nguyên giục bị.
2.3. Hình ảnh con chó trong Ca dao:
Chó chê rằng khỉ lắm lông,
Khỉ lại chê chó ăn dông nằm dài.

Con chó khóc đứng khóc ngồi,
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

Con không chê cha mẹ khó,
Chó không chê chủ nghèo.

Con mèo trèo lên cây vông,
Con chó đứng dưới ngó mông con mèo.
Mèo rằng sao chó chẳng theo,
Lên đây tao dạy leo cho mày.

Cơm đâu nuôi chó nuôi mèo,
Để nuôi em vợ mà rèo mà chim.

Chó đâu chó sủa chỗ không,
Chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày.

Chó nằm hè gặm vỏ khoai,
Lợn nằm ủi đất ngâm hơi gầy gò.

Chuột chê xó bếp chẳng ăn,
Chó chê nhà chật ra nằm bụi tre.

Em như cục cứt trôi sông,
Anh như con chó đứng trông trên bờ.

Hát cho chó cắn bò lông,
Hát cho con gái bỏ chồng mà theo.

Hôm qua anh đến nhà chơi,
Thấy mẹ vét chảo, thấy cha vét nồi.
Thấy em dựa cột liếm môi,
Anh tưởng con chó anh lùi chân ra.

Nào ai buôn bán trăm bề,
Chẳng bằng nuôi chó huyền đề 4 phân.

Nhà bà có con chó đen,
Người lạ nó cắn, người quen nó mừng.

Người ta thách lợn thách gà,
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.
Củ to thì để mời làng,
Còn như củ nhỏ họ hàng cùng xơi.
Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi !
Để cho con chó ăn chơi giữ nhà.

- Lương Đức Mến, biên soạn từ nhiều nguồn tham khảo-


[1] Có người nói tục ăn thịt cho là từ bên Bắc Quốc sang.
[2] Chuyện rằng: Thuở đang bôn tẩu, Phúc Ánh nuôi 4 con chó Phú Quốc (2 đực, 2 cái), 4 con chó này đã theo ông trong suốt những năm bôn tẩu, từ miền biển lên miền núi, từ nơi bình an đến chốn hiểm nghèo và từng cứu ông 2 lần thoát chết:
- Lần thứ nhất, khi bị quân Tây Sơn truy đuổi ở dưới chân phía Nam dốc Gành Đỏ (vùng Bằng Lăng, Phú Yên), ông trốn vào một lũy tre, xung quanh là bụi rậm. 4 con chó vây quanh bảo vệ ông. Không ngờ trong bụi rậm này có một hang rái cá (khoảng 10 con lớn nhỏ). 4 con chó khống chế đàn rái cá, khiến chúng im thin thít. Khoảng 1000 quân Tây Sơn cùng một bầy chó Ngao siết chặt vòng vây. Khi vòng vây khép lại còn đường kính khoảng 30 mét, những con chó Phú Quốc khôn ngoan lập tức mở đường cho bầy rái cá chạy để đánh lạc hướng bầy chó Ngao. Quả nhiên bầy chó Ngao rượt đuổi theo bầy rái cá và quân Tây Sơn chuyển cuộc truy lùng theo hướng bầy chó Ngao, nhờ đó mà Phúc Ánh thoát nạn.
- Lần thứ 2, khi ông bị truy đuổi ở Cà Tang hạ (Quế Sơn, Quảng Nam), cùng đường phải chui vào một bụi rậm, 4 con chó cũng vây quanh bảo vệ. Khi quân Tây Sơn hãm sát nơi ông trú ẩn, họ dùng giáo chọc khắp nơi. Một con chó đã lấy thân mình đỡ ngọn giáo đâm vào ông, 3 con còn lại ở đường cho ông chạy thoát.
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long khi bình công phong thưởng cho tướng sĩ, đã không quên sắc phong cho 4 con chó Phú Quốc danh hiệu: “Cứu khổn phò nguy Tá quốc huân thần Thần khuyển đại tướng quân”. Sau khi 4 con chó qua đời, ông đã cho an táng và lập miếu thờ trọng thể.
[3] Hồi nhỏ ở quê tôi gặp nhiều.
[4] Theo sách Việt sử tiêu án:  năm 20 tuổi Phạm thị nghèo hèn không có chồng, nương tựa người lão Sa môn ở chùa Ứng Thiên, làm việc thổi nấu, khi lửa tắt và bà đương ngủ lơ mơ, lão Sa môn ngẫu nhiên chạm phải, giật mình trở dậy rồi có thai mà sinh ra Lý Công Uẩn (李公蘊, 974-1028). Về sau Công Uẩn nương nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, Vạn Hạnh dạy dỗ.
[5] Khi Lê Long Đĩnh (黎龍鋌, 986 – 1009) băng, con trai là Sạ còn bé, dưới sự sắp đặt của quan Chi Hậu Đào Cam Mộc, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế vào tháng 11, ngày Quý Sửu, năm Kỷ Dậu (tức 21 tháng 11 năm 1009), đặt niên hiệu là Thuận Thiên, nghĩa là "theo ý trời". Khi băng được tôn là  Lý Thái tổ 黎太祖.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Đọc lại 14 KẾ SÁCH TRỊ BÌNH

Lương Đắc Bằng dân 14 kế sách trị bình (tranh Sưu tầm)
Cuối năm Hồng thuận thứ 2 洪順二年 (Canh Ngọ 庚午, 1510), Lương Đắc Bằng (梁得朋, 1472 – 1516)[1] ) được Lê Tương Dực (黎襄翼, 1495 - 1516, trị vì từ năm 1509 đến năm 1516) triệu về triều phục chức Lại bộ Thượng thư 吏部尚書 (như Bộ trưởng Nội vụ nay) kiêm Đại Học sĩ Đông các coi sóc tòa Kinh Diên (nơi Vua đọc sách) 東閣大學士入侍經筵.
Thấy tình hình đất ước rối ren, giặc ngoài chưa yên, quyền thần đánh, chém giết nhau, chốn Kinh sư đẫm máu, cái điềm vận nước ngày một suy đã xuất hiện, ông không nhận chức mà nhân đó soạn kế sách “Trị Bình” 14 chước 治平十四策 dâng lên Lê Tương Dực. Vua nhận, khen nhưng không áp dụng.
Tuy kế sách trên không thể thực hiện được do hạn chế của thời cuộc, song lịch sử vẫn ghi nhận Lương Đắc Bằng là một nhà cải cách xuất sắc hồi thế kỷ XVI. Những đề xuất của Lương Đắc Bằng mà ngày nay suy ngẫm ta vẫn thấy nhiều điều còn mang tính thời sự nóng hổi.
NGUYÊN VĂN VÀ NGẮT ĐOẠN:
.
󰔄 .
.
.
.
.
.
𠆳   .
調 朝 綱 󰁮 .
𭛁 .
𨿽 .
退 祿 .
.
󰦛 .
.
.
.
.
󰦛 .
.
.
.
󰱑 .
.
.
.
.
.
.
.
PHIÊN ÂM:
Đắc Bằng nhân hiến trị bình thập tứ sách kì lược viết:
“Thần văn, cổ chi thánh quân, bất dĩ thiên hạ ký trị nhi hốt cảnh giới chi niệm, cổ chi hiền thần bất dĩ kì quân ký thánh nhi vong châm quy chi tâm.
Thị dĩ, Ngu Thuấn chi thời ký hi hạo hĩ nhi Bá Ích chi thỉ mô tắc viết võng du vu dật, võng dâm vu lạc, vô đãi vô hoang, lật lật hồ như nguy vong chi tương chí.
Đế Thuấn nạp kì ngôn nhi giới kì sở đương giới thử sở dĩ vi đại thánh dã.
Hán Văn chi thời ký phú thứ hĩ, nhi Giả Nghị chi hiến sách tất viết thố hoả tích tân, khả vi lưu thế, khả vi thống khốc nhu nhu hồ, nhược hoạ hoạn chi dĩ hình.
Văn Đế nạp kì ngôn nhi ưu kì sở đáng ưu, thử sở dĩ vi hiền quân dã.
Cái dĩ thần chi tiến ngôn bất truân cần, bất khích thiết, tắc vô dĩ trợ nhân quân nạp gián chi.
Minh quân chi thính ngôn bất thái nạp, bất khoan dung tắc vô dĩ khai nhân thần tiến gián chi lộ.
Kim bệ hạ khoan nhân đại độ, bất thị sát nhân, phục Cao Tổ chi nghiệp, cứu vạn dân chi mệnh.
Tứ hải chi nội, như giải đảo huyền, mạc bất diên cảnh trùm chủng ngưỡng vọng tân chính chi thành cổ vũ thái bình chi trị.
Nhiên nhi tức vị dĩ lai, hoà khí vị điều, can qua vị tập, triều cương vị cử, quân chính vị tu, tai dị lũ kiến, khủng thiên đạo chi vị thuận, sơn thạch bác tước, khủng địa đạo chi vị ninh.
Gian quỹ thiết phát, nghịch tặc tiềm manh, khủng nhân đạo chi vị an dã.
Nhi tại triều chi thần, tri nhi bất ngôn, kì tự kế đắc hĩ, như quốc kế hà? Thần thiểm dĩ cựu thần, nghĩa đồng hưu thích, tuy tại suy điệt chi trung, thông táng vị tất, nhi bệ hạ dĩ nghĩa đoạt tình, trí chi thị tung, cái dục thần hữu sở nghị luận du vi ti ích thiên hạ phụ tán thái bình hĩ.
Như thần bất ngôn lữ tiến lữ thoái, lục lục tuỳ nhân cẩu dung thiết lộc, tắc thần chi trung hiếu lưỡng khuy hà dĩ báo bệ hạ chi ân, tận nhân thần chi chức? Mỗi niệm thời sự tắc chung dạ bất tẩm, lâm thực bất san, khuyển mã chi tâm tự bất năng dĩ.
Cẩn điều trị bình thập tứ sách dĩ văn
Nhất viết: Trí cảnh giới dĩ nhĩ tai dị chi biến.
Nhị viết đốc tư hiếu dĩ đôn trung hậu chi tâm.
Tam viết viễn thanh sắc dĩ chính nhất tâm chi bản.
Tứ viết Khứ tà nịnh dĩ thanh vạn hoá chi nguyên.
Ngũ viết tích quan tước dĩ cẩn khuyến trừng chi điển.
Lục viết công thuyên tuyển dĩ thanh sĩ tiến chi đồ.
Thất viết tiết tài dụng dĩ đôn kiệm phác chi phong.
Bát viết bao tiết nghĩa dĩ trọng cương thường chi đạo.
Cửu viết cấm hối lộ dĩ cách tham mặc chi phong.
Thập viết tu vũ bị dĩ tráng kim thang chi thế.
Thập nhất viết trạch đài luyện dĩ tác cảm ngôn chi khí.
Thập nhị viết khoan lực dịch dĩ phù hề vọng chi tình.
Thập tam viết tín hiệu lệnh dĩ nhất tứ phương chi chí.
Thập tứ viết cẩn pháp độ dĩ khai thái bình chi trị.
Dĩ thượng đẳng sách thượng can duệ lãm.
Thần hựu văn cổ ngữ vân: "Su nghiêu chi ngôn, thánh nhân trạch yên".
Thư viết: "Tri chi phi gian, hành chi duy gian".
Thần nguyện bệ hạ vật dĩ thần ngôn vi vu khoát, trạch nhi hành chi, giới kì sở đương giới, ưu kì sở đương ưu thứ hồ? Thiên đạo khả thuận, địa đạo khả ninh, nhân đạo khả an, thái bình khả trí dã.
DỊCH NGHĨA:
(Lương) Đắc Bằng nhân đó dâng 14 kế sách trị bình, đại ý là:
 "Thần nghe: Bậc thánh nhân thuở trước, không vì thiên hạ đã trị mà lơ là việc cảnh giác ngăn ngừa, người hiền thần đời xưa không vì vua mình đã thánh mà quên lãng niềm khuyên răn, can gián. Cho nên, đời Ngu Thuấn[2] đã thịnh vượng rồi mà Bá Ích[3] lúc bày mưu mô thì nói chớ ham mê nhàn rỗi, chớ đắm đuối vui chơi, không lười biếng, không trễ nải, phấp phỏng như nguy vong sắp đến. Đế Thuấn nghe lời khuyên mà răn ngừa những việc đáng răn, do đó đã trở thành bậc đại thánh. Thời Hán Văn[4] đã phú cường rồi, nhưng Giả Nghị[5] khi dâng kế sách lại khuyên điều để lửa gần của, đáng phải chảy nước mắt, đáng phải khóc phải thương, lo lắng như hoạ hoạn đã thành. Văn Đế[6] nghe lời khuyên mà lo nghĩ việc đáng lo, do đó đã trở nên bậc hiền nhân.
Vì là người bề tôi dâng lời khuyên không khẩn khoản, không thiết tha thì không thể giúp vua sáng suốt tiếp thu lời can gián. Vua nghe lời khuyên mà không tiếp thu, không độ lượng thì không thể mở rộng đường cho bề tôi dâng lời can gián.
Nay bệ hạ khoan nhân đại độ, không thích giết người, khôi phục cơ nghiệp của Cao Tổ[7], cứu giúp sinh mệnh cho muôn dân. Khắp trong bốn biển như gỡ được nạn treo ngược, ai cũng vươn cổ kiễng chân, ngóng trông chính sự mới được hoàn thành, hân hoan mừng thái bình thịnh trị.
Nhưng từ khi lên ngôi tới nay, hoà khí chưa thuận, can qua chưa dứt, kỷ cương triều đình chưa dựng đặt, việc quân, việc nước chưa sửa sang; tai dị xảy ra luôn, sợ đạo trời chưa thuận, núi đá bị sụt lở, e đạo đất chưa yên. Tệ tham nhũng ngầm ngầm phát triển, bọn nghịch tặc lén lút manh nha, sợ đạo người chưa ổn. Thế mà quan trong triều biết mà không nói, họ tự lo cho mình thì được rồi, còn lo cho nước thì ra sao?
Thần thẹn là một bề tôi cũ, nghĩa phải cùng vui buồn với nước, tuy còn trong lúc xô gai, tang trở chưa hết, nhưng bệ hạ đã vì nghĩa công nén tình riêng, cho làm chức thị tung, có ý muốn thần bàn luận mưu kế lui tiến, hèn kém theo người để dựa dẫm giữ lấy tước lộc, thì lòng trung hiếu của thần đôi đường đều thiếu cả, lấy gì báo đáp được ân đức của bệ hạ, làm trọn chức phận của kẻ làm tôi?
Thần mỗi khi nghĩ tới việc ngày nay thì suốt đêm không ngủ, đến bữa không ăn, tấm lòng khuyển mã trung thành không sao nguôi được. Kính xin trình bày 14 kế sách trị binh tâu lên như sau:
1- Phải cảnh giác, răn ngừa để chấm dứt tai biến,
2- Dốc lòng hiếu thảo để khuyến khích lòng trung hậu,
3- Xa thanh sắc để làm chân chính gốc của tâm,
4- Đuổi tà nịnh để làm trong sạch ngọn nguồn muôn việc,
5- Dè dặt trao quan tước để thận trọng việc khuyến khích răn đe,
 6- Tuyển bổ công bằng để đường làm quan trong sạch,
7- Tiết kiệm tiêu dùng để khuyến khích phong tục kiêm phác,
8- Nêu khen người tiết nghĩa để coi trọng đạo cương thường,
9- Cấm hối lộ để trừ bỏ thói tham ô,
10- Sửa sang võ bị để vững thế thành đồng hào nóng,
11- Lựa chọn quan can gián để gây khí thế dám nói,
12- Nới nhẹ việc lực dịch để thoả lòng mong đợi của dân,
13- Hiệu lệnh phải tín thực để thống nhất ý chí của bốn phương,
14- Luật pháp, chế độ phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình.
Những kế sách trên đây, xin bệ hạ soi xét. Thần lại nghe cổ ngữ có câu: "Lời nói của kẻ cắt cỏ, kiếm củi, thánh nhân cùng cân nhắc lựa dùng" . Kinh Thư nói: "Biết được không khó, làm được mới khó".
Thần xin bệ hạ đừng cho những lời của thần là vu khoát, xin lựa chọn mà thi hành, răn những điều đáng răn, lo những điều đáng lo, may ra đạo trời có thể thuận, đạo đất có thể yên, đạo người có thể ổn, có thể đạt đến thái bình".

Dẫn theo           (ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ) do Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên... soạn thảo (1272 - 1697), Bản in Nội các quan bản MỘC BẢN KHẮC NĂM CHÍNH HOÀ THỨ 18 (1697) được Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 - 1992), Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) ấn hành (1993), với Thiết kế và thực hiện Văn phòng Nôm Na (Hà Nội): Tô Trọng Ðức, Vũ Xuân Lương, Lê Văn Cường, Lương Thị Hạnh, & Ngô Thanh Giang (http://www.nomfoundation.org/nom-project/history-of-greater-vietnam/Fulltext/65-Tuong-Duc-De?uiLang=vn).
Chú thích trong bài là của người chép lại 14 kế sách trị bình.
-Lương Đức Mến, Xuân 2018-



[1] Có tài liệu viết (1475) 1477-1526, tức cụ mất năm Bính Tuất, 1526 đời Lê Cung Hoàng vào dịp Trần Cảo đã kéo quân uy hiếp kinh thành. Sẽ bàn về việc này ở đoạn sau.
[2] Ngu Thuấn 虞舜 là một vị vua huyền thoại thời Trung Quốc cổ đại, nằm trong Ngũ Đế (五帝, năm vị quân chủ nối tiếp theo Tam Hoàng, có công khai hóa dân tộc Trung Hoa, đưa dân tộc này thoát khỏi tình trạng sơ khai). Ông được Đế Nghiêu nhượng vị trở thành vua Trung Hoa, được khắc họa qua sự tích Thiện nhượng 禅让 đầu tiên trong lịch sử. Cùng với các Đế Nghiêu và Đại Vũ, Đế Thuấn được Nho giáo coi là một trong những vị Quân vương kiểu mẫu, và là những tấm gương đạo đức trong văn hóa Trung Hoa.
Đạo giáo trung nhận Thuấn là Địa Quan Đại Đế 地官大帝
[3] Bá Ích 伯益 là 1 nhân vật lịch sử sống vào thời Ngu Thuấn và Hạ Vũ, tên thật là Đại Phí.
Cha ông là Đại Nghiệp tức Cao Dao làm pháp quan rất có uy tín lúc bấy giờ, mẹ ông là Nữ Hoa- con gái bộ lạc Thiếu Điển. Lớn lên Bá Ích có tài cao được vua nước Hữu Ngu là Diêu Trọng Hoa trọng dụng làm quan ở đó lập nhiều công lớn, sau khi Diêu Trọng Hoa lên ngôi thiên tử "tức Đế Thuấn" thì ban cho ông Diêu Khương Nữ và thưởng cho ông ấp Doanh - từ đó Bá Ích mang họ Doanh.
Bấy giờ Hoàng Hà lũ lụt triền miên, Đế Thuấn cử Bá Ích theo Hạ Vũ trị thủy. Sau khi vua Vũ lên làm thiên tử có ý định nhường ngôi cho cha của Bá Ích là Cao Dao nhưng không may Cao Dao qua đời trước Vũ, Vũ bèn quyết định truyền lại ngôi vị cho Bá Ích. Vua Vũ băng hà Bá Ích đứng ra chủ trì quốc tang cho nhà vua và chấp chính trong 3 năm, sau khi mãn tang Bá Ích trao lại ngai vàng cho Hạ Khải là con vua Vũ. Hạ Khải cảm động trước hành động này nên phong cho con trai Bá Ích là Đại Liêm tức Nhược Mộc làm vua nước Từ, nước Từ truyền đến đời Mạnh Sác tức Từ Câu vương ở vào thời kỳ vua Thái Mậu nhà Thương. Em Mạnh Sác là Trung Diễn giữ chức quan trong triều đình rất có danh vọng, hậu duệ Trung Diễn là Phi Liêm phục vụ Trụ Vương bị Chu Vũ Vương giết chết. Phi Liêm có hai con trai: một là Ác Lai chính là tổ tiên nước Tần thời Xuân Thu Chiến Quốc - đời sau là Doanh Chính đã thống nhất thiên hạ, hai là Quý Thắng là tổ tiên nước Triệu thời Chiến Quốc.
Một thuyết khác nói rằng khi Hạ Vũ chọn Bá Ích thị con Vũ là Hạ Khải không phục ông nên ngấm ngầm xây dựng lực lượng củng cố niềm tin dân chúng, sau khi vua Vũ mất Hạ Khải đã cất binh tấn công và giết chết Bá Ích mà đoạt lấy ngôi thiên tử tái lập lại chế độ thế tập đã bị vua Nghiêu hủy bỏ trước đó.
Còn theo Doanh thị tông tộc 嬴氏宗族 thì: Thời viễn cổ 遠古時代 có Cao Đào 皋陶, người vùng mà nay là An Huy 安徽 là một hiền thần từng được vua Vũ (大禹,2205 tCn – 2198 tCn hoặc 2200 tCn - 2100 tCn)có ý nhường ngôi nhưng Cao Đào mất sớm, con là Bá Ích 皋伯益 được chọn. Sau triều thần tôn con Vũ là Khải nối ngôi , mở ra chế độ “cha truyền con nối” 王位世袭制. Tuy vậy các con của Cao Đào đều được trọng dụng: Con thứ là Trọng Chân 仲甄, còn gọi là Trọng Yển 仲偃 làm quan nhà Hạ (, 2205–1767 tCn), ăn lộc ấp Yển (vùng Khúc Phụ Tây ngày nay) sau con cháu sau lấy chữ “Yển” làm họ, dòng này phát triển mạnh ở An Huy, Sơn Đông. Con trưởng là Bá Ế 伯翳, tức Bá Ích 伯益, làm quan nước Ngu (, 2697-2033tCn) từng trị thủy có công nên được vua Thuấn (帝舜, mất năm 2181 tCn)ban họ Doanh 嬴姓 là tên ấp ăn lộc, theo dạng “Lấy tên chư hầu hay quý tộc làm họ” 侯君主贵族的字为氏. Đây là một trong 8 dòng họ quý tộc thời đó. Sau này hậu duệ Bá Ích được phong ấp Tần, hợp xưng Doanh Tần 嬴秦. Bá Ích được suy tôn là Thủy tổ Doanh Tần 嬴秦肇之祖 và dòng này phân bố rộng ở vùng Sơn Đông 山東. Chính thị tộc Doanh đã lập nên nước Tần  và sau là triều đại Tần nổi tiếng và có công thống nhất Trung nguyên từ thời nhà Chu, mở ra thể chế đế quốc Trung Hoa từ đó.
Con cháu “Doanh Tần” 嬴秦 ngày một đông, khi phân phong, áp dụng nguyên tắc “dĩ quốc vi tính” 以國為姓 sinh ra Hữu từ thị 有徐氏, Đàm thị 郯氏, Cử thị 莒氏, Chung lê thị 終黎氏, Vận yểm thị 運奄氏,  Thỏ cừu thị 菟裘氏, Tương lương thị 將梁氏, Hoàng thị 黃氏, Giang thị 江氏, Tu ngư thị 修魚氏, Bạch minh thị 白冥氏,  Phỉ liêm thị 蜚廉氏, Tần thị 秦氏. Đến giai đoạn chế độ tập quyền cao, có tông pháp tính danh được lấy làm tộc danh 以姓为氏 thì chỉ ngành trưởng 長族 nối ngôi 繼位 mới mang họ Doanh 嬴氏, còn các ngành thứ mang họ khác, sinh ra tổ 14 họ 十四姓 hiện nay, gồm: Triệu ,  Mã  ,  Tần , Lương , Giang , Liêm  , Hoàng , Chung ,  Cát ,  Từ  ,  Phí ,  Đàm ,  Cốc , Mâu  , Cù . Một số họ khác cũng được cho là khởi từ Doanh thị, như: An , Ích ,  Cốc , Kim , Tô , Anh , Bùi ...
[4] Chỉ nhà Tây Hán (西漢, 202 tCn-9) với kinh đô ở Trường An 長安.
[5] Giả Nghị (賈誼, 201 tCn - 169 tCn) là người giỏi từ phú nghị luận, làm tới Thái Trung Đại Phu 太中大夫 đời Tây Hán. Ông chủ trương cải cách nhưng bọn gian thần bài xích nên bị giáng làm Thái phó Trường Sa Vương (nay là tỉnh Hà Nam). Khi Lương Hoài Vương ngã ngựa chết, ông buồn phiền rồi sinh bệnh đến năm sau thì qua đời.
[6] Hán Văn Đế (漢文帝, 202 tCn-157 tCn), tên thật là Lưu Hằng  劉恆, trị vì 23 năm.
[7] Chỉ Lê Lợi 黎利 tức Lê Thái Tổ (黎太祖, 10/9/1385– 5 /10/1433), người mở đầu nhà Lê sơ  (初黎朝, 1428–1527) sau Khởi nghĩa Lam Sơn (起義藍山, 1418-1427) toàn thắng giành lại độc lập cho Đại Việt 大越 từ nhà Minh (明朝, 1368 - 1644), kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư (屬明時期, 1407–1427).

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!