[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

VỀ NGHI THỨC HỘ NIỆM LÚC LÂM CHUNG

Tranh minh họa từ http://m.phatgiao.org.vn/nghien-cuu/201604/Khong-nen-ho-niem-qua-lau-cho-nguoi-mat-21746/
Đây không phải là việc mới, nhưng ít phổ cập và gần đây phục hồi nhiều ở những gia đình Phật tử (H: 佛子, A: Buddhist, P: Bouddhiste). Song ít người nắm rõ, có người còn e ngại, nhiều người hiểu sai, làm sai nên tìm hiểu giáo lý nhà Phật và qua vài đám thực tế ghi lại đây.

1. Phật giáo và Tâm linh Việt:

Lịch sử từng có giai đoạn “vô thần” (H: 無神, A: The atheism, P: L'athéisme) hay có người chủ trương “vô thần” có thái độ hoài nghi với tất cả những gì siêu nhiên; cho rằng không có Thần, Thánh, Tiên, Phật, không có Thượng Đế, không tin có thế giới siêu hình, không tin con người có linh hồn bất diệt. Nhưng, thực tế, các danh nhân, hào kiệt lừng lẫy một thời rồi cũng chết (được tôn xưng là băng hà, viên tịch, hy sinh, tạ thế, qua đời…) và trong dân gian số người còn nhớ đến họ là có giới hạn. Nhưng Ông Trời (Thượng Đế, Ngọc Hoàng, Thiên Chúa) vẫn “sống” trong khắp cõi nhân gian và bất kỳ lúc nào cả khi vui, khi buồn, cả lúc bất mãn, khi thỏa lòng hay cần kêu cứu người ta vẫn nhắc tới Ông. Hay như có thời một vài cán bộ quá tả từng tuyên bố “vô thần”, có những việc làm không hay với tín ngưỡng nhưng thực ra trong lòng họ vẫn nghĩ tới Tổ tiên, tới Trời và họ vẫn ngưỡng vọng Thần linh! Vì vậy, những người cố tình nói quá lên là không đúng!
Các Đấng Thiêng liêng đó đều là những Đấng siêu hình (H: 超形, A: Metaphysical, P: Métaphysique), không có hình tượng cho nên có người tin, có người không tin. “Linh tại ngã, bất linh tại ngã” 靈在我不靈在我 mà! Nhưng sống trong trời đất cần có đức tin. Chúa Jesus đã từng nói; “Đức tin con cứu con”; Khổng Tử (孔夫子, 551–479 tCn) chép trong Kinh Thư 書經: 太甲曰天作孽猶可違自作孽不可活: Thiên tác nghiệt, do khả vi; tự tác nghiệt, bất khả hoạt. Tức là: Những tai ách do Trời làm ra, mình còn tránh được. Những tai ách tự mình gây nên, thì mình phải chết. Cho nên muốn sống thanh thản, mọi việc hanh thông thì phải “biết mình là ai”, cần có Đức tin (H: 德信, A: The belief, P: La foi) và trong lòng mình có Trời, có Đạo, có Nhân.
Các Tôn giáo (H: 宗敎, A: The religion, P: La religion) phổ biến có sớm ở Việt Nam là: Phật  giáo (H : 佛敎 , A: Buddhism, P: Bouddhisme), Nho giáo (H: 儒敎,  A: Confucianism, P: Confucianisme)Lão giáo (H: 老敎, A: Taoism, P: Taoisme). Ba tôn giáo này đến nước ta qua những thời kỳ khác nhau và có ảnh hưởng khác nhau đến việc hình thành, phát triển văn hóa Việt, tâm hồn người Việt thay nhau giữ vai trò chủ đạo trong đời sống Tâm linh (H: 心靈, A: The soul, P: L' âme) người Việt[1]. Đồng thời từ thế kỷ X trong xã hội xuất hiện hiện tượng Tam giáo đồng nguyên[2] (H: 三敎同原, A: Three religions was originated from the same source, P: Trois religions sont provenues de même source)
Đối với người đã mất, Nho giáo chủ trương trọng như người sống[3] ảnh hưởng tới hành vi; Phật  giáo coi  trọng Tứ ân (H: 四恩, A: The four favours, P: Les quatre faveurs), trong đó có “Phụ mẫu ân” 父母恩 nhằm trợ duyên cho ông bà, cha mẹ tu tập theo Phật cho vong linh được siêu thoát, tái sinh ảnh hưởng tới việc tu thân còn Lão giáo  thì ảnh hưởng tới lối sống người Việt lại mong người chết mau về với cõi Tiên, cõi Trời.
Chính giáo lý của các tôn giáo trên đã được những trí thức, giáo sĩ của tôn giáo đó dùng giáo lý tôn giáo mình để lý giải niềm tin, tín ngưỡng, tập tục dân gian Việt cổ. Theo thời gian, người Việt  chịu ảnh hưởng Phật Giáo về mặt tâm linh, chịu ảnh  hưởng Nho Giáo về mặt luân lý giao tiếp xã hội, chịu ảnh hưởng Lão Giáo về mặt lối sống và duy trì tín ngưỡng dân gian về mặt mê tín dị đoan.
Tuy có những giai đoạn thăng trầm khác nhau nhưng Phật giáo và Lão giáo luôn đồng hành cùng dân tộc và trên nền tảng tư tưởng của Phật giáo, chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên bản địa, nhiều nghi lễ là sự kết hợp giữa Phật giáo nguyên thủy và truyền thống dân tộc. Do vậy các nghi thức việc Hiếu cũng ảnh hưởng của Phật giáo.
Phật giáo (H: 佛教, A: Buddhism, P: Bouddhisme) là những điều dạy bảo của Phật tạo thành một giáo pháp có hệ thống để dạy dỗ nhân sinh. Đó là một nền triết học về đạo đức rất cao siêu, dạy nhơn sanh tự tỉnh, tự ngộ, tự giác, để cuối cùng thì thành Phật. Đây là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới (các tôn giáo lớn khác là Do Thái giáo, Ki-tô giáo và Hồi giáo, và Ấn Độ giáo). Phật giáo được một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (zh. 悉達多瞿曇, sa. siddhārtha gautama, pi. siddhattha gotama) tức Thích-ca Mâu-ni (zh. 釋迦牟尼, sa. śākyamuni, pi. sakkamuni, dịch nghĩa là “Trí giả trầm lặng (muni) của dòng Thích-ca” sáng lập khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên. Còn Phật (H: , A: Buddha, P: Bouddha) phiên âm ra là: Phật đà, Phù đồ, Bụt..., gọi tắt là Phật, dịch nghĩa ra Hán văn là: Giác, Trí., có nghĩa là “người tỉnh thức”[4] và Phật pháp (H: 佛法, A: The doctrine of Buddha, P: La doctrine de Bouddha) là giáo lý của Đức Phật Thích Ca gồm: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập nhị Nhân duyên, cùng với những Giới luật, được ghi chép đầy đủ trong Tam Tạng Kinh (H: 三藏經, A: Tripitaka, The three great books of buddhism, P: Tripitaka, Les trois grands recueils bouddhiques)[5].

2. Phật giáo với “đường đi” của con người sau chết:

Phật giáo cho rằng: chúng sinh tùy theo căn quả thiện hay ác mà sau khi chết chuyển vào trong LỤC ĐẠO LUÂN HỒI (H: 六道輪迴, A: Six ways of Karma, P: Six voies de Karma) là sáu đường luân chuyển trong sáu cảnh. Thực ra gặp vui sướng thì ít, gặp đau khổ thì nhiều, vì họ còn vô minh, chưa tỉnh ngộ, nên mới gọi sáu hạng ấy là Lục phàm. Đó là:
- Ba đường trên thì vui sướng dễ chịu, nên gọi là Tam thiện đạo 三善道, có thể thọ nhận giới pháp tu hành thiện đạo thủ hưởng Bồ Đề. Gồm:
+ Thiên đạo: Là cõi Trời, tức là các tầng trời trong Tam giới với người do tạo 10 nghiệp lành bậc thượng;
+ Nhân đạo: Là cõi Người, tức làm loài người ở cõi Ta Bà này, do tạo 10 nghiệp lành bậc trung mà chiêu cảm quả báo sinh làm người.
+ A Tu La đạo: Là cõi Thần, tức sinh làm thần A Tu La, do tạo 10 nghiệp lành bậc hạ mà cảm quả báo sinh làm thần A Tu La.
- Ba đường dưới thì khốn khổ, nguy nan, nên gọi là Tam ác đạo (H : 三惡道, A: Three evil ways, P: Trois mauvaises voies) tức do chúng sinh tạo nhiều ác nghiệp nên lúc mạng chung bị đọa trong ba đường dữ chịu nhiều thống khổ đớn đau. Gồm :
+ Địa ngục (H: 地獄, A: The Hades, Hell, P: L'Enfer): là nơi giam giữ và trừng phạt các linh hồn tội lỗi. Tương truyền nhà ngục nầy ở dưới đất, là cảnh giới hoàn toàn thống khổ không bao giờ có chút an vui, đáng ghê gớm sợ sệt đủ thứ cực hình, nơi tra tấn khốc liệt, tội nhân ở đó bị lửa đốt bị quăng vào vạc dầu sôi, bị cưa, bị kéo đau đớn vô cùng, chừng nào nghiệp báo hết thì mới thoát khỏi chốn này với những kẻ làm người mà gây ra 10 nghiệp cực ác. Vì ở dưới đất nên gọi là Địa ngục, gồm ba loại: Căn bản địa ngục: Bát hàn, Bát đại địa ngục; Cận biên Địa ngục: 16 du tăng địa ngục... ; Cô độc Địa ngục : Địa ngục ở trong núi, trong đồng nội, ở dưới cội cây... chúng sanh do tạo tội Thượng phẩm thập ác mà đọa địa ngục.
+ Ngạ quỉ: Là cảnh giới của loài quỉ đói khát, muốn ăn mà không được ăn, muốn uống mà không uống được, luôn bị sự đói khát bức bách lại bị đánh đập liên miên với những kẻ gây nên 10 nghiệp ác thường, tham lam bỏn xẻn, keo kiệt mà cảm lấy quả báo làm ngạ quỉ  và có hình thù rất xấu xí.
+ Súc sinh: Là chốn đầu thai làm súc sanh như ngựa, lừa, heo, chó,... Súc sanh bị người ta đày đọa làm việc khổ cực như trâu, bò, lừa,... lại còn bị chém giết, ăn thịt và chính chúng nó giết hại lẫn nhau để ăn nuốt, nên rất là đau đớn khốn khổ với những kẻ ki làm người gây nên 10 nghiệp ác vừa.
Giáo lý nhà Phật cũng cho rằng cuối nẻo đường trần có 3 lối rẽ để đi:
- Tiến thẳng lên Thánh đạo, vãng sinh Cực Lạc tức thời, lối đi này chỉ dành cho những người cực thiện;
- Đi vào Thiện đạo dù có được tốt đẹp ít khổ, nhưng vẫn còn quanh quẩn luân chuyển vào nhân đạo hoặc thiên đạo;
- Đi vào Ác đạo là con đường trầm luân, không ai muốn bước vào. Nhưng nghiệp ác hiện đời đã gây tạo, phải biết đường tránh.

3. Để được siêu thoát:

Do vậy, với người phải vào lối 2, 3 thì việc hộ niệm 護念 (được giúp Niệm Phật) trong giờ phút sắp lâm chung càng vô cùng quan yếu. Nhưng muốn có hiệu quả cần có sự chuẩn bị trước (từ lúc còn khỏe cho đến lúc bệnh) còn lúc chết rồi mới lo thì thuộc về phạm vi Cầu siêu.
HỘ NIỆM 護念nói tắt từ “Bảo hộ ức niệm”, khiến cái ác bên ngoài không xâm phạm, điều thiện ở bên trong được nẩy nở, là trợ duyên cho người còn sống (người bệnh) được thực hiện khi rõ là thấy thuốc chữa trị không còn tác dụng đối với người ấy nữa, khi mà người bệnh sắp qua đời. Sự nhất tâm của người trợ niệm cùng với công năng của sự niệm Phật 念經sẽ gia hộ cho người bệnh sớm chấm dứt đoạn hành trình cuối cùng trong cuộc đời mình. Nhờ vậy, người bệnh sẽ được tự do, thanh thản và được vãng sanh về cảnh giới của chư Phật. Việc hộ niệm với đầy đủ TÍN – NGUYỆN – HẠNH, có tác dụng:
- Đối với người chưa tin Phật Pháp, thì đem giáo lý mà giảng cho họ phát khởi lòng tin, nhớ tới sự lành;
- Đối với người mới phát tâm, thì tùy tiện giáo hóa cho họ tinh tấn tu hành;
- Đối với người tu lâu thì trợ giúp cho họ bước lên đường bất thối;
- Đối với người bệnh trọng thì cầu nguyện cho họ tránh khỏi sự đau đớn, tai ách;
- Đối với người lâm chung, thì cầu nguyện cho linh hồn họ minh mẫn, biết niệm nhớ Phật, Pháp khỏi sa đọa vào các đường tạo nghiệp ác.
Đặc biệt, người sắp chết có được chính niệm, nói cách khác là mình giúp cho họ nhớ, đồng tâm niệm Phật, không màng đến duyên trần gây trở ngại cho việc vãng sanh. Khi niệm cần chú ý VÃNG SINH THẦN CHÚ 往生神咒[6] . Đó là câu niệm bằng tiếng Phạn (H: 梵語, A: The sanskrit, P: Le sanscrit)[7] để cầu nguyện với Đức Phật A Di Đà cứu độ linh hồn người chết phá trừ tất cả nghiệp chướng căn bản, được Vãng sinh Cực Lạc và đặc biệt hú trọng tới Lục tự Di Đà (H: 六字彌陀, A: Six words of Amitabha, P: Six mots d'Amitabha): là sáu chữ: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (có nghĩa là: đầu cúi lạy Đức Phật A Di Đà, hay đầu cúi lạy Vô Lượng Quang Phật).
Vãng sinh Thần chú là câu niệm bằng tiếng Phạn (H: 梵語, A: The sanskrit, P: Le sanscrit)[8] để cầu nguyện với Đức Phật A Di Đà cứu độ linh hồn người chết phá trừ tất cả nghiệp chướng căn bản, được Vãng sinh Cực Lạc.
Nó gồm 59 chữ mà xưa nay thường trì niệm theo phiên âm Hán Việt[9]. Chúng ta có thể trì niệm theo nguyên văn tiếng Phạn (đã phiên âm) và tìm hiểu đôi chút về “ý nghĩa” của thần chú này, theo Đoàn Trung Còn có nghĩa như sau:
- Namo Amitàbhàya (Na-mô A-mi-ta-pha-gia) đọc là Nam mô A di đa bà dạ, nghĩa là: qui kính Đức A Di Đà Phật;
- Tathàgatàya (Ta-tha-ga-ta-gia) đọc: Đa tha già đa dạ nghĩa là Như Lai (H: 如來, A: Buddha, P: Bouddha) có nghĩa là nương theo cái thật của Chân tức là đã đứng vào phẩm vị Phật, là một trong 10 hiệu của Phật, là “Không từ ở đâu đến, mà cũng không đi đâu”, là tính thường trụ, thường hằng của vạn pháp;
- Tadyathà (Ta-di-gia-tha) niệm là Đa điệt dạ tha nghĩa là: Như Lai Đa diệt dạ tha, tức liền đọc bài chú dưới đây;
- Amrto dbhave (A-mờ-rật-tô đờ-pha-vê) niệm là A di rị đô bà tỳ nghĩa Cam lộ hiện lên;
- Amrta sambhave (A-mờ-rật-ta sam-pha-vê) niệm thành A di rị đa tất đam bà tỳ nghĩa Cam lộ phát sinh;
- Amrta vikrànte (A-mờ-rật-ta vi-kờ-răm-tê) niệm A di rị đa tỳ ca lan đế nghĩa Cam lộ dũng mãnh
- Amrta vikrànta gamini (A-mờ-rật-ta vi-kờ-răm-ta ga-mi-ni) niệm là A di rị đa tỳ ca lan đa già di nị nghĩa là Đạt đến Cam lộ dũng mãnh
- Gagana kìrtti kare (Ga-ga-na kít-ti ka-rê) niệm là Già già na, chỉ đa ca lệ tức Rải đầy hư không
- Svàhà (Sờ-va-ha) đọc Ta bà ha 娑婆訶: tiếng Phạn là Swâha là ba chữ chót của bài Thần chú, có nghĩa là: Thành tựu, kiết tường, tiêu tai tăng phước, viên tịch, vô trụ, kính Phật chứng minh.
Như thế 10 câu trên đều là mật ngữ, đại ý có nghĩa là: nhổ bỏ tận gốc các nghiệp chướng.

4. Hộ niệm theo Nghi thức:

Phật tử tin rằng:  Phật, Bồ tát, chư thiên và các vị thiện thần thường nhớ nghĩ và che chở những người tin kính Tam bảo, khiến cho họ không bị các chướng nạn làm hại. Sự nhớ nghĩ che chở của các Ngài như bóng theo hình, không cách rời, làm cho ác quỉ không thể đến gần làm hại, vì thế gọi là Ảnh hộ hộ niệm. Lại nữa, để chứng minh cho giáo pháp do đức Phật nói ra là chân thực, chư Phật và Bồ tát bèn lập thệ nguyện, nếu chúng sinh tin nhận và làm theo giáo pháp này, thì sẽ được lợi ích vô cùng, đó gọi là Chứng thành hộ niệm.
 Chúng ta phải luôn nhớ rằng người sắp chết tâm thần bị tán loạn, dễ bị tán tâm khó bề tâm niệm Phật. Bởi thế, nên họ rất cần người khác hộ niệm để giúp họ tập trung tinh thần về với chính niệm bằng cách chí thành tha thiết niệm Phật. Khi người bệnh vừa tắt thở, thì thần thức chưa hoàn toàn rời khỏi thể xác nên còn rất cần thiết cho việc hộ niệm, niệm Phật. Muốn vậy, thân quyến hay con cháu trong gia đình là những nhân tố chính giúp cho người thân của mình khỏi bị đọa lạc vào cảnh khổ nhưng lại bối rối lo buồn thêm bao việc phải lo nên không còn đủ bình tĩnh. Nên phải có người biết cách trợ niệm, để giúp đỡ chỉ bảo mọi việc cho thân nhân và bạn bè lo trợ niệm giúp đỡ cho bệnh nhân.
Muốn cho việc hộ niệm vãng sanh[10] đạt được kết quả cao, cần phải hội đủ những điều kiện cần thiết để thực hiện qua 4 yếu tố quan trọng như sau :
4.1. Người Hộ niệm:
1). Giúp cho gia đình hiểu rõ Hộ niệm khác Cầu an hay Cầu siêu; nên khuyên bảo thân quyến và sắp xếp mọi việc cần thiết trong lúc hộ niệm cho người bệnh hấp hối sắp lâm chung. Chữ nhà Phật là khai thị  開諟 (cho gia đình, người bệnh, cho oan gia trái chủ) nói rõ mục đích, ý nghĩa, nghi thức việc tụng kinh, niệm Phật. Nhấn mạnh: nếu thọ mạng chưa dứt sẽ mau lành bệnh; nếu thọ mạng không còn sẽ Vãng sanh Cực lạc[11]. Tối kỵ nhất là gây xáo trộn khóc than trong giờ phút này. Những ai không dằn lòng được xúc động, thì tốt hơn hết là nên mời họ bước ra ngoài.
2). Thái độ và cung cách, nhất là lời nói đối với người bệnh phải hiền hòa dịu ngọt, nên khuyến nhắc người bệnh nhớ niệm Phật và cần gợi lại những công hạnh mà người bệnh đã thực hiện.
3). Đặt bàn thờ Phật sao cho người được hộ niệm thấy được. Trên đó có bày Tranh hay Tượng Đức Phật A Di Đà lớn, lư hương, bình hoa, đĩa quả, ly nước và 2 cây đèn (gia đình mua).
Cho xem hình A DI ĐÀ PHẬT. Ngoài việc niệm Phật và khuyến nhắc bệnh nhân ra, tuyệt đối không được nói lời gì khác, mà gây cho bệnh nhân không vui dễ mất tín tâm và tán loạn.
4). Tùy trường hợp, hoàn cảnh nơi bệnh nhân nằm, mà linh động niệm Phật to tiếng hoặc nhỏ tiếng, tốt hơn hết là chỉ niệm Phật cho bệnh nhân vừa đủ nghe, không nhỏ quá và cũng không nên lớn tiếng quá bởi càng niệm lớn tiếng, bệnh nhân càng không nghe rõ. Tốt hơn hết, là nên niệm vừa đủ cho bệnh nhơn nghe thôi. Và khi niệm, phải niệm chậm, rõ ràng đủ 6 chữ : “Nam Mô A Di Đà Phật”.
5). Phải thay phiên nhau niệm Phật liên tục không cho gián đoạn, cần khuyến khích thân nhân cùng thay phiên nhau niệm Phật. Trong phòng bệnh, ngoài tiếng niệm Phật ra, tuyệt đối phải giữ yên lặng, không được nói chuyện ồn ào làm loạn tâm bệnh nhân vô ích.
6). Khi người bệnh đã thật sự tắt thở, cứ để như vậy mà chí thành niệm Phật liên tục, không nên sửa làm động đậy bệnh nhân, ít nhất là 2 tiếng đồng hồ.
7). Nên dặn thân thuộc chớ lộ vẻ bi thương, cùng bàn việc hay dở trong nhà. Nếu có ai đến thăm, chỉ khuyên nên vì mình niệm Phật, đừng hỏi thăm chi khác…
4.2. Người được Hộ niệm:
Nếu đã phát nguyện niệm Phật cầu vãng sanh, thì trong lúc bệnh nặng, nên buông bỏ tất cả duyên trần, không bận tâm với bất cứ vấn đề gì, nhất là đối với việc gia đình nhà cửa con cháu … Cần dốc hết tâm lực còn chút hơi tàn mà quyết lòng niệm Phật cầu sinh Tây phương, theo bản nguyện sinh tiền của mình đã phát nguyện, không sợ chết. Tốt nhất là niệm: “thân này nhơ nhớp, biết bao khổ lụy hãm vây! Nếu bỏ được thân huyễn hôi nhơ, sanh về Cực lạc thọ thân kim cương thanh tịnh sẽ thoát khỏi luân hồi khổ thú, hưởng vô sự an vui. Ví như đổi cái áo cũ rách lấy đồ trân phục, còn điều chi thích ý bằng”.
4.3. Gia đình người được Hộ niệm:
1). Chuẩn bị:
- Mời Ban Hộ niệm; nhất mực tin tưởng và làm theo hướng dẫn của Ban này; không mời nhóm khác cầu siêu, đọc kinh...
- Một phòng gọn gàng, thoáng mát, trang nghiêm; không tự ý trưng bày tranh ảnh hoặc hình tượng gì khác ngoài ảnh A DI ĐÀ PHẬT.
- Một bát cơm trắng, một đĩa muối, một cây đèn dầu lửa, tất cả để trên mâm nhỏ bên cạnh hoặc phía trước đầu của người lâm chung.
- Ở dưới đất, cách giường người lâm chung khoảng 50 cm, đốt một đĩa dầu lạc hay nến để hút những hơi độc (nếu có).
- Ghế cho đủ người Hộ niệm ngồi ngay hàng thẳng lối,  cao hơn người được hộ niệm.
- Chuẩn bị mâm chay; khi nấu tại nhà kiêng phi tỏi, hành, hẹ, kiệu, hành Tây và tránh mùi thức ăn xông nên nơi Hộ niệm.
2). Nếu có nuôi chó, mèo,... cần nhốt chúng lại, hoặc phải canh chừng không được để chúng đến gần làm cho người bệnh giật mình, tức giận, khó thành.
3). Không được xen tạp những hình thức gì khác như: tụng kinh, tụng chú, cầu an, cầu siêu, dùng bùa ngải,… kể từ lúc khởi sự hộ niệm. Không được đi qua, đi lại phía trước những người đang ngồi hộ niệm
4). Khi người bệnh tắt thở không được đụng chạm vào thân xác[12] như: thay quần áo, tắm rửa, chỉnh sửa thân xác, di chuyển, vuốt mắt, chêm đẩy cằm để miệng khép lại; không để bất cứ vật gì vào miệng-tay-túi áo quần, không đặt vật gì lên bụng, không than khóc, không đi coi ngày giờ mà phải tập trung vào niệm Phật, lạy Phật cùng với ban hộ niệm trợ niệm cho người thân của mình liên tục 8 giờ. Sau đó tùy ý gia đình coi ngày giờ tẩm liệm, thay quần áo, chỉnh sửa thân xác,...
5). Phải tỏ thái độ có lòng thương kính từ ái và tuyệt đối không được dùng lời nói mất hòa khí trong gia đình. Tuyệt đối, không nên đem việc nhà ra bàn luận. Nếu để cho người bệnh biết được những sự việc không hay xảy ra, thì sẽ gây tác hại lớn cho việc vãng sanh, vì người bệnh sẽ phiền muộn, tham, sân, si nổi lên dễ sa vào ác đạo như tên bắn.
6). Phải làm và nghe theo sự thức nhắc, sắp xếp của người có trách nhiệm hộ niệm cho thân nhân của mình. Những người nầy, họ vì thân nhân của mình mà hết lòng hộ niệm, nên chúng ta cần tôn trọng những lời chỉ bảo của họ.
7). Không nên kêu khóc lớn tiếng và kể lễ bất cứ điều gì, chỉ một bề niệm Phật. Phải gắng dằn lòng xúc động trong giờ phút nầy. Nên nhớ đây là yếu tố quan trọng mà người mới lâm chung có được vãng sanh hay không, đều tùy thuộc vào thân quyến. Bởi đây là giai đoạn của thân trung ấm, giai đoạn chuyển tiếp quan trọng nht trong kiếp chúng sinh. Đây là giai đoạn mà người lâm chung đang đứng trước ngã rẽ giữa quỷ, người, phàm Thánh. Trong giai đoạn nầy điều quan trọng nhất nên làm là cùng nhau hộ niệm. Dù cho người ấy đã có ý hướng sinh về cõi nào, có thể là cõi thiện; tuy nhiên, sự than khóc của người thân làm khơi dậy niệm luyến ái trong người ấy, do vậy người ấy có thể rơi trở về vòng sanh tử, uổng phí một đời tu
8). Tất cả nên vì người mất mà phải thành tâm niệm Phật, tụng kinh cầu siêu suốt trong thời gian từ khi mất cho đến trải qua 49 ngày.
9). Trong thời gian cư tang, nên tu tạo nhiều phúc lành để hồi hướng cho người quá cố sớm được siêu sinh thoát hóa.
Riêng đối với thân hữu bạn bè, chúng ta nếu thật thương người bạn mình thì chỉ nên hiệp lực cùng với những người khác mà đồng tâm niệm Phật. Nếu không quen niệm, thì chúng ta cũng không nên nói những chuyện gì khác.
4.4. Nghi thức Hộ niệm:
Mỗi nhóm 3-6 người thay phiên nhau 2 tiếng một kíp.
1) Hộ niệm khi người bệnh còn sống:
- Trưởng Ban thắp 3 nén hương quỳ trước bàn Phật đưa hương lên trán.
- Khấn bài giới thiệu.
- Xá 3 xá, cắm hương vào lư, đứng dậy lễ Phật.
- Trưởng ban xướng, cả nhóm cùng Niệm[13] các bài[14]: Kệ[15] tán Phật, Lễ Phật, Kệ niệm Phật, Nam mô A Di Đà Phật, Hồi hướng[16], Phục nguyện, Tự quy y (có lạy)...
2) Hộ niệm khi lâm chung:
- Khai thị cho người vừa mất.
- Trưởng Ban thắp 3 nén hương quỳ trước bàn Phật đưa hương lên trán.
- Khấn bài Nguyện hương.
- Xá 3 xá, cắm hương vào lư, đứng dậy lễ Phật.
- Trưởng ban xướng, cả nhóm cùng Niệm các bài: Kệ tán Phật, Lễ Phật, Kệ niệm Phật, A Di Đà Phật (liên tục 8-12 tiếng), Hồi hướng, Phục nguyện, Tự quy y (có lạy)...
Xin phép Hương linh kiểm tra thoại tưởng: Nếu thấy sắc diện hồng hào, cơ thể mềm mại, hơi ấm xuất ra trên đỉnh đầu là đã được vãng sanh Cực lạc. Khi đó Ban Hộ niệm ra về, gia đình lo hậu sự. Còn nếu chưa đạt Vãng sanh thì tiếp tục Trợ niệm.

5. Hộ niệm dưới góc nhìn khoa học:

Theo nghiên cứu của y khoa, sau khi chết thi xác bắt đầu lạnh, đông cứng, co quắp rồi khoảng từ 15 đến 20 giờ trở đi xác chết dần mềm trở lại để bắt đầu quá trình phân hủy. Như vậy, việc thân thể từ tím tái và co quắp sau một thời gian chuyển thành “mềm mại, tươi nhuận hơn” là sự chuyển biến bình thường của mọi xác chết, những ai xem sự biến chuyển tự nhiên đó là kết quả nhiệm mầu của quá trình hộ niệm là một nhầm lẫn nghiêm trọng, cần nhanh chóng sửa sai và khắc phục.
Do đó, việc “Ban hộ niệm bắt buộc phải niệm đến khi nào người chết được vãng sanh mới thôi” là điều hoàn toàn không đúng và họ đã tự tin vào năng lực tiếp dẫn của mình một cách thái quá. Vì như đã nói, vãng sanh hay không tùy thuộc vào nhiều nghiệp duyên của người chết, việc hộ niệm thì rất cần, nhưng hộ niệm trong khoảng 8 đến 10 giờ sau khi mất là lý tưởng nhất. Đây là khoảng thời gian cần thiết để thần thức lưu xuất ra khỏi xác thân. Mặt khác, sau khoảng thời gian này thì tiến trình phân hủy sẽ bắt đầu. Nếu không khâm liệm kịp thời sẽ ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường cũng như an toàn sức khỏe cho thân nhân và cộng đồng, vi phạm quy định về nếp sống mới.
Đồng thời, Phật giáo có quan niệm rõ về Nhân-Quả nên nếu quá trình sống không chịu tu nhân tích đức, luôn làm điều xấu thì dù có mặc áo Lục thù, được Hộ niệm chu toàn đến đâu thì người vừa thọ mạng cũng không thể Vãng sinh về chốn Cực Lạc được!
Người học Phật cần nêu cao tinh thần Chính kiến, tin sâu Nhân quả-Nghiệp báo nên sống cần chân tu, lúc hấp hối, qua đời “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” mới mong sớm siêu thoát. Gia đình, thân thuộc nên biết điều đó để trự duyên, quyết không rơi vào tà kiến và chấp thủ sai lạc.





[1] Ví như nhà Lý (李朝, 1009 - 1225) nhờ thế lực của Phật giáo mà lên nhưng lại quá thiên về đạo Phật, xây quá nhiều Chùa Tháp dẫn đến hao phí rồi mất Vương quyền về tay họ Trần (陳朝,1225 - 1400)
[2] Trong một phạm vị lịch sử nhất định, Tam giáo có tạm thời thay thế nhau giữ vai trò hàng đầu, trở thành Quốc giáo nhưng trong đời sống xã hội và sinh hoạt tâm linh, tình cảm, Tam giáo vẫn là ba mà một (Trinity)  ảnh hưởng nếp ăn ở  tư duy của cộng đồng người Việt, hòa với tập tục, bản sắc riêng của văn hóa bản địa VN. Cái vạc ba chân là cái thế  vững chắc đỡ nâng và dẫn dắt cuộc sống trong các mối quan hệ  ràng buộc cá nhân - gia đình - xã hội - quốc gia.
[3] Nguyên văn “kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã  敬其所尊, 愛其所親, 事死如事生, 事亡如事存, 孝之至也. Tức là “Kính người trên, thương người thân, thờ người chết như người còn sống, trọng người đã khuất như người hãy còn. Đó là trọn hiếu vậy!”
[4] là danh hiệu Tất-đạt-đa Cồ-đàm có được sau khi tỉnh thức, giác ngộ được Pháp (zh. , sa. dharma, pi. dhamma), nguyên lí của vạn vật
[5] Tam Tạng Kinh không do Đức Phật Thích Ca viết ra, mà do 500 vị A-La-Hán, đệ tử của Đức Phật, kết tập giáo pháp của Phật dưới sự chủ tọa của Nhứt Tổ Ma Ha Ca Diếp, lập thành ba bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo, chép lại tất cả lời thuyết pháp của Đức Phật Thích Ca trong suốt 45 năm hoằng pháp của Ngài, tạo thành một nền giáo lý và triết lý rất cao siêu của Phật giáo:
• Kinh Tạng ghi chép lại những lời Phật thuyết .
• Kinh Luật ghi chép những giới luật do Đức Phật chế định làm khuôn phép tu học và sinh hoạt cho tăng chúng.
• Tạng Luận ghi chép tất cả những bài do các Luận sư trình bày, giải thích giáo lý của Phật một cách có hệ thống.
[6] Tương truyền do Phổ Hiền Đại Bồ tát đặt ra gọi là Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh Tịnh độ Đà la ni mà có thể dịch thành là thần Chú, có nghĩa là ”tổng trì”.  Tức tuy chỉ có vài chữ, nhưng có thể bao gồm hết thảy ý nghĩa của Phật Pháp, cho nên Thần Chú có công đức vô lượng..
[7] Phạn ngữ hay Phạm ngữ là tiếng Phạn, tức là ngôn ngữ của xứ Phật, ngôn ngữ của nước Thiên Trúc (H: 天竺, A: Ancient name of India, P: Ancien nom de l'Inde) ở miền bắc Ấn Độ mà  Đạo Bà La Môn và Đạo Phật dùng để thuyết pháp và chép kinh sách. Nó phân ra làm hai loại: Bắc Phạn là tiếng Sanscrit  dùng trong Bắc Tông tức Phật giáo Đại thừa còn Nam Phạn là tiếng Pali do Nam tông tức Phật giáo Tiểu Thừa dùng.
[8] Phạn ngữ hay Phạm ngữ là tiếng Phạn, tức là ngôn ngữ của xứ Phật, ngôn ngữ của nước Thiên Trúc (H: 天竺, A: Ancient name of India, P: Ancien nom de l'Inde) ở miền bắc Ấn Độ mà  Đạo Bà La Môn và Đạo Phật dùng để thuyết pháp và chép kinh sách. Nó phân ra làm hai loại: Bắc Phạn là tiếng Sanscrit  dùng trong Bắc Tông tức Phật giáo Đại thừa còn Nam Phạn là tiếng Pali do Nam tông tức Phật giáo Tiểu Thừa dùng.
[9]  Đó là: “Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha”.
[10] VÃNG SINH: 往生 là chết ở cõi trần này để sanh qua một thế giới khác. Tức bỏ thế giới ác này mà qua cõi thanh tịnh yên vui của Đức Phật A Di Đà, đó là “vãng” và khi qua đó rồi thì sinh vào hoa sen, đó kêu là sinh.
[11] CỰC LẠC còn gọi là Cực Lạc Niết bàn - Cực Lạc Thế giới - Cực Lạc quốc (H : 極樂涅槃- 極樂世界- 極樂國, A: Nirvana - Paradise - Kingdom of happiness, P: Nirvana - Paradis - Royaume de bonheur,  S. Sukhavati) hay Tây phương Cực lạc 西方極樂 là chỉ cõi hoàn toàn an vui, hạnh phúc, không còn mê lầm hay phiền não, là nơi Phật A Di Đà đang giáo hóa. Ðó là cõi của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, của những người đắc đạo.
Theo Phật giáo, ở cõi CLTG, nhà cửa, đền đài, cung điện, ao hồ đều rất đẹp được làm bằng bảy món quí báu gọi là Thất bảo, có hoa Tiên rơi xuống như mưa, có chim linh hót thanh tao. Người ở cõi nầy muốn gì có nấy, chỉ cần tưởng là có liền. Mục đích của người tu Phật giáo là được đắc quả lên Cực Lạc Niết Bàn, giải thoát khỏi luân hồi. Cõi này ở từng Trời thứ 10, đó là từng Trời Hư Vô Thiên, do Ðức Nhiên Ðăng Cổ Phật chưởng quản..
Các nước thuộc Phật giáo Bắc tông như Việt Nam có tông phái Tịnh Độ rất thịnh hành, lấy việc niệm danh hiệu Phật A Di Đà làm pháp môn tu cơ bản, cầu sau khi chết được vãng sinh qua cõi Cực Lạc, để có điều kiện tu học thuận lợi, dễ dàng hơn cõi Sa Bà này.
[12] Khi vừa ngừng thở thân xác rất đau đớn lại đụng chạm vào thân xác gây đau đớn gấp ngàn lần sinh tâm sân hận sinh vào ác đạo; than vãn khóc lóc hương linh lưu luyến, tiếc nuối thì không vãng sinh Cực Lạc được.
[13] Niệm :  là nghĩ nhớ, nhớ rõ. Sách Phật cũng nói tới phép sáu niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng là luôn luôn nghĩ nhớ tới Phật, Pháp, Tăng là Tam bảo; Niệm Giới là nghĩ tới giới luật phải gìn dữ không được sai phạm ; Niệm Thí là nghĩ tới việc bố thí, giúp đỡ người khác ; Niệm Thiên là luôn luôn nghĩ tới điều thiện phải làm để được tái sinh lên các cõi trời Trời.
Niệm Phật là hành động phổ thông nhất trong hàng ngũ Phật tử tại gia cũng như xuất gia. Phật tử gặp nhau chào nhau bằng “Nam mô A Di Đà Phật”.
Còn Tụng niệm (H : 誦念, A: To pray, P: Prier) là tụng kinh thành tiếng và tưởng nghĩ tới Phật.
[14] Có trong cuốn NGHI THỨC HỘ NIỆM của Thích Chiếu Nguyện do Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát hành năm 2013 (2557 Phật lịch).
[15] Kệ là những bài thơ ngắn để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một bài kinh, hoặc để răn dạy đệ tử, hoặc để cầu nguyện. Mỗi câu từ ba đến 8 chữ  và cứ bốn câu thành một bài kệ. Kệ tán là bài kệ để tán thán công đức.
[16] Nguyện chuyển kết quả những việc làm thiện lành cho người khác, như cho cha mẹ, họ hàng, bè bạn, hay là cho tất cả mọi người, tất cả chúng sinh. Bài này thường đọc cuối mỗi thời tụng kinh.
đăng Phần còn lại

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Chuẩn bị cho CHÁU GÁI XUẤT GIÁ

1. Sinh ngày 12 tháng 4 năm 1991 (thứ Sáu ngày 28 tháng Hai năm Tân Mùi). Tức ngày ngày Nhâm Tý, tháng Tân Mão, năm Tân Mùi, giờ đầu ngày: Canh Tý;  mệnh Lộ Bàng THỔ, có Can Tân (Kim) được chi Mùi (Thổ) sinh.
1.1. Tuổi này hợp với tuổi Ngọ, Hợi, Mão, Mùi - Khắc với tuổi Ất, Sửu, Mùi, Tý, Tuất; tránh ngày Tân Mùi, Tân Sửu, Đinh Mùi, Đinh Sửu. Hợp với màu vàng, vàng đất, đỏ, hồng - Khắc với màu xanh.
1.2. Ngày thuộc hành MỘC khắc hành Thổ,  kị tuổi: Bính Ngọ, Canh Ngọ; Ngày Tý lục hợp Sửu, tam hợp Thìn và Thân thành Thủy cục; xung Ngọ, hình Mão, hại Mùi, phá Dậu, tuyệt Tỵ.
2. Năm nay 27 tuổi :
Không phạm Kim Lâu, không gặp hạn Tam tai (tuổi Mùi gặp Tam tai vào năm Tỵ, Ngọ, Mùi); gặp sao Thủy Diệu, hạn Tán tận, ít kị cho nữ giới ;
Do vậy làm ăn luôn có người giúp đỡ và trong năm nay cũng là năm có nhiều tin vui về cưới xin và về đường con cái !
3. Như thế cưới được nhưng chú ý :
3.1. Tuổi Mùi tránh gả vào tháng 7 (Phu), 12 (Thê) nên vào tháng 10, 11.
Đặc biệt, tháng 11: Tiền tài mỹ mãn có lộc ở xa đưa tới và gặp được nhiều người bạn trai và có tin vui trong tình yêu hay hỷ sự.
Tuổi đương số cần tránh ngày: Quí Sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mão, Tân Mùi, Tân Sửu, Đinh Mùi, Đinh Sửu, Bính Ngọ, Canh Ngọ.
3.2. Chọn ngày :
- Nhiều sách, lắm thầy mỗi người một kiểu. Mặt khác với nhiều tiêu chí đánh giá: theo Can Chi (Ngũ hành, Bát quái), theo chỉ Trực, theo Thập nhị bát Tú, Sao chiếu,...mỗi tiêu chí cho một kết quả khác nhau, đôi khi mâu thuẫn. Do vậy cứ nhiều tiêu chí thuận là chọn.
- Trước mắt cứ chọn ngày TỐT CHUNG cho cưới HỎI: Tuổi Mùi, cưới hỏi Đại lợi tốt ở tháng 5, 11, Tiểu lợi ở tháng 4, 10. Cụ thể :
+ Tháng 10 âm, tức tháng Kỷ Dậu có một số ngày là:
* Ngày Tân Hợi tức ngày mùng 3 tháng 10 âm lịch hay ngày 20/11 dương lịch vào thứ Hai. Trong ngày này, có hướng Tài Thần là hướng Tây Nam, thuộc trực Kiến, Lục Diệu Không vong. Nếu chọn ngày này thì nên chọn các giờ : Sửu (1-3), Thìn (7-9), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
* Ngày Giáp Dần là ngày 23 tháng 11 năm 2017 hay ngày mùng 6 tháng 10 âm lịch, vào thứ Năm, có trực Bình. Các khung giờ hoàng đạo trong ngày là Tý (23-1), Sửu (1-3), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Mùi (13-15), Tuất (19-21).
* Ngày Đinh Tỵ nhằm ngày 9 tháng 10 âm lịch hay ngày 26/11 dương lịch, vào Chủ Nhật, trực Phá . Những khung giờ tốt của ngày Đinh Tỵ này là Sửu (1-3), Thìn (7-9), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
* Ngày Kỷ Mùi 28/11 dương lịch tức ngày 11 tháng 10 âm lịch, trực Thành vào thứ Ba. Khi chọn ngày này, hãy chọn các giờ : Dần (3-5), Mão (5-7), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
  * Ngày Bính Dần 5/12/2017 hay ngày 18 tháng 10 âm lịch. Nhằm thứ Ba, trực Bình , Lục diệu Tốc Hỷ. Nếu chọn ngày này, hãy chọn các giờ hoàng đạo : Tý (23-1), Sửu (1-3), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Mùi (13-15), Tuất (19-21).
* Ngày Mậu Thìn 07/12/2017 nhằm ngày 20 tháng 10 âm lịch, tức thứ Năm, trực Định. Chọn ngày này để làm đám cưới hỏi rất đẹp. Khung giờ tốt :  Dần (3-5), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Dậu (17-19), Hợi (21-23).
* Ngày Kỷ Tỵ 08/12/2017 tức ngày 21 tháng 10 âm lịch, vào thứ Sáu, trực Chấp. Khung giờ hoàng đạo : Sửu (1-3), Thìn (7-9), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
* Thứ Bảy 9/12/2017, tức ngày 22/10 âm lịch, là ngày Canh Ngọ, trực: Phá, Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Thân (15-17), Dậu (17-19)
* Ngày 11/12/2017 tức ngày 24 tháng 10 âm lịch hay ngày Nhâm Thân vào thứ Hai, trực Thành. Hoàng đạo : Tý (23-1), Sửu (1-3), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Mùi (13-15), Tuất (19-21).
+ Tháng 11 âm, tức tháng Canh Tuất:
* Ngày 18 tháng 12/2017 vào thứ Hai, ngày 1/11 âm lịch, ngày Kỷ Mão, trực: Bình, Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Dần (3-5), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Dậu (17-19).
* Thứ Tư 20/12/2017 tức 3/11 âm lịch, ngày Tân Tỵ, trực: Chấp ; Hoàng Đạo: Sửu (1-3), Thìn (7-9), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Tuất (19-21), Hợi (21-23)
* Thứ Năm 21/12/2017, tức ngày 4/11 âm lịch, ngày Nhâm Ngọ với trực: Phá, Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Thân (15-17), Dậu (17-19)
* Chủ nhật 24/12/2017 -  7/11 âm lịch, là ngày Ất Dậu, có trực: Thu, Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Dần (3-5), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Dậu (17-19).
* Thứ Năm 28/12/2017 - Ngày 11/11 âm lịch, là ngày Kỷ Sửu, trực: Trừ, Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Mão (5-7), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Tuất (19-21), Hợi (21-23).
- Sau đó chọn đến tuổi đương số và thuận cho 2 nhà, nhớ trừ ngày, giờ: Bính Ngọ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Tân Sửu, Đinh Mùi, Đinh Sửu (khắc cô dâu).
+ Chọn ngày trực Định, Chấp; ngày có sao: thiên đức, nguyệt đức, thiên đức hợp, nguyệt đức hợp, thiên nguyện, thiên xá, thiên hỉ, thiên thương, tam hợp, lục hợp.
+ Tránh ngày trực Phá, Bế, Thu ; ngày có sao kiếp sát, tai sát, nguyệt sát, nguyệt hình, nguyệt áp, nguyệt hại, nguyệt phá, nguyệt kị, nguyệt hối (ngày 30), thiên lại, tứ phế, tứ li, tứ tuyệt, đại thời, cửu sửu, nhân chuyên, quy kị, hồng sa, vãng vong, khí vãng vong, nhị phân nhị chí.
4. Lệ tục và nghi thức:
4.1. Chung : Trong đại gia đinh đã tổ chức nhiều đám, trong nhà có đám chị nên cứ thế mà làm, rút kinh nghiệm những gì chưa được của đám trước (tổ chức 2 lượt, nhà trai thay TĐ bên TĐ nhà Gái không biết mặt, khó đón ; giờ giấc đi rõ sớm nhưng đến nơi phải chầu chực !).
4.2. Chọn ngày, giờ lên lịch sao cho gọn, đủ thủ tục nhưng tránh phiền phức !
Tốt nhất : Ăn hỏi, Xin cưới và Vu quy; Đón dâu và Thành hôn chỉ trong 2 ngày sát hoặc gần nhau !
Vì ở xa nên nếu giờ giấc có du di chút ít 2 bên nên châm chước tránh bắt bí chầu chực không hay về sức khỏe và tâm lý !
Khi bắt buộc chọn ngày nghỉ (thứ Bẩy, Chủ Nhật)  thì phải chọn lại sao cho hợp gần nhất.
4.3. Lễ : Ăn hỏi (7hay 5  tráp), Xin cưới (3 phong bì), Xin dâu (1 khay trầu cau, rượu).
4.4. Thành phần dẫn, đón lễ : bậc cha mẹ, anh chị em và cháu.
TÓM TẮT CÁC PHẦN TRÊN
XEM
NAM
NỮ
SO
Dương Lịch
17/02/1991
12/4/1991

Âm Lịch
03/G Ngày Mậu Ngọ, tháng Canh Dần năm Tân Mùi
28/02 Ngày Nhâm Tý, tháng Tân Mão năm Tân Mùi
xem ở dòng dưới cùng
Can
Tân  hành Kim
Tân  hành Kim
Tương Đồng
Chi
Mùi  hành Thổ
Mùi  hành Thổ
Tương Đồng
Nạp Âm
Lộ bàng Thổ
Lộ bàng Thổ
Lưỡng Thổ thành Sơn
 Ngũ Hành
Thổ
Thổ
Tương Đồng
Cung Phi
Ly  hành Hỏa
Kiền  hành Kim
Tuyệt Mệnh
Tứ Mệnh
Đông
Tây
Hỗn hợp
Kim Lâu
Hoang Ốc
Tam Tai
Nam tuổi Mùi kỵ cưới vợ những năm Dần. Năm Đinh Dậu 2017 Không kỵ cưới hỏi
Nữ tuổi Mùi kỵ cưới chồng những năm Thân. Năm Đinh Dậu 2017 Không kỵ cưới hỏi
 Năm nay cưới được
Tháng cưới
Tính theo tuổi cô dâu. Tháng 05, 11 (âm lịch) là Đại lợi; tháng 04, 10 (âm lịch) là Tiểu lợi
Ngày
Sao cho hợp tuổi đương số và thuận cho 2 nhà, nhớ trừ ngày, giờ: Bính Ngọ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Tân Sửu, Đinh Mùi, Đinh Sửu (khắc tuổi cô dâu).
·                     So Can Chi: Chồng tuổi can Tân cưới vợ tuổi Mùi: người vợ dễ đau ốm. Có con cái đông đủ, con trai phát đạt công danh. Tiểu vận 31 tuổi gặp tai ách nhẹ. Vợ chồng chung sống đến già.
·                     So Ngũ hành: Song thổ phu thê hảo nhân duyên, cộng hoan nhất thế phúc song toàn. Nhân nữ thông minh đa hưng vượng, vinh hoa phú quý hảo gia viên.
5. Kế hoạch chi tiết : thống nhất  đã thông qua 2 cháu.
5.1. Chọn ngày vào ĐÀU THÁNG 10 ÂM LỊCH:
5.1.1. Thứ Bẩy ngày 25 Tháng 11 Năm 2017 (08/10 âm) ngày Bính Thìn THỔ trực CHẤP, tháng Tân Hợi, năm Đinh Dậu.
Ngày này xung với người có tuổi: Mậu Tuất, Nhâm Tuất, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý nên cẩn thận  làm các việc đại sự.
Đây là Trực CHẤP: Tốt cho các việc tạo tác, sửa giếng, thu người làm, đính hôn. Xấu cho các việc xuất nhập vốn liếng, khai kho, an sàng.  
Giờ Hoàng Đạo: Dần (3-5), Thìn (7-9), Tỵ (9-11), Thân (15-17), Dậu (17-19), Hợi (21-23).
5.1.2. Chủ nhật, ngày 26 Tháng 11 Năm 2017, Ngày 9/10 âm lịch tức ngày Đinh Tỵ
Giờ Hoàng Đạo: Sửu (1-3), Thìn (7-9), Ngọ (11-13), Mùi (13-15), Tuất (19-21), Hợi (21-23)
Nhưng là ngày trực PHÁ lại có sao Ly Sàng kị việc Giá thú.
5.1.3. Thứ Hai 27/11/2017 là ngày 10/10 âm lịch, tức ngày Mậu Ngọ, trực: NGUY, Thanh Long  Hoàng Đạo.
Ngày 10 tháng 10 âm là Trực NGUY: Tốt cho các việc cúng lễ, may mặc, từ tụng. Xấu cho các việc hội họp, châm chích, giá thú, làm chuồng lục súc, khai trương.
Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Thân (15-17), Dậu (17-19)
5.2. Nếu nhà trai đã chọn 10/10 âm làm lễ thành hôn (tuy không thật đẹp) nhưng có sao Phổ Hộ, Thanh Long nên làm Lễ Thành hôn được. Song nên:
- Xuất hành đi đón dâu khoảng 9-11 giờ tức giờ Đinh Tỵ có sao Thiên Xá; Ngũ Phù; Nhật Lộc; Thủy Tinh hợp việc Xuất hành, Gía thú.
- Tiến hành vào khoảng 11-13 giờ là giờ Mậu Ngọ, có sao Tứ Đại giải Hung thần, sao Đế Vương hợp Giá thú và Đính hôn.
5.3. Khi đó thực hiện việc Ăn hỏi và nhà Gái làm Lễ Vu quy vào 08/10 âm.
6. Sau đây là PHƯƠNG ÁN LĐ. MẾN ĐỀ XUẤT :
6. 1. Nhà trai sang nhà gái thăm (chạm ngõ)
- Thời gian:  đã tiến hành vào Chủ nhật ngày 01/10/2017, tức 12/8 âm lịch.
- Nội dung: thăm gia cảnh, họ hàng nhà gái, bàn về thủ tục, nghi lễ:
+ Thống nhất ngày giờ ăn hỏi, Xin cưới, Vu quy, Xin dâu, Thành hôn như đã dự kiến ở trên.
+ Về thành phần nhà trai đi ăn hỏi cần cụ thể vai vế để nhà gái đón tương xứng.
+ Thống nhất thủ tục: Cổ xưa 6 lễ (Lục lễ bất chi trinh nữ bất xuất) nay đơn giản bớt và theo phong tục địa phương cũng như truyền thống gia đình xin 3 lễ:
>. Lễ Ăn hỏi 5 tráp, nội dung cụ thể ở phần ăn hỏi.
>. Lễ xin Cưới: 1 tráp nhỏ, nội dung ghi ở dưới.
>. Lễ xin Dâu: 1 tráp nhỏ, nội dung ghi ở dưới.
6.2. ĂN HỎI còn được gọi là lễ đính hôn :
- Thời gian: Thứ Bẩy ngày 25/11/2017 (08/10 âm) với giờ Hoàng đạo là: Canh Dần (3h-5h), Nhâm Thìn (7h-9h), Qúy Tỵ (9h-11h), Bính Thân (15h-17h), Đinh Dậu (17h-19h), Kỷ Hợi (21h-23h) và không có giờ nào kị tuổi cô dâu.
- Địa điểm: tại nhà gái.
- Lễ vật: 5 tráp có phủ khăn điều bên trong đựng: trầu cau, chè, mứt hạt sen, rượu và thuốc lá, bánh cốm, lợn sữa quay theo nguyên tắc “ngoài lẻ trong chẵn”: số lượng tráp luôn là số lẻ, vì số lẻ tượng trưng cho yếu tố “dương” nhưng số lượng lễ vật trong từng tráp thì lại luôn là số chẵn, với ý nghĩa là có đôi có cặp. Nhà Trai đặt ở Phố Lu mang vào hoặc nhờ nhà Gái đặt ở Bắc Ngầm.
- Thành phần tham gia:
+ Nhà trai: Chú rể, bố mẹ, chú bác, cô dì, bạn bè và 5 thanh niên chưa vợ (mặc áo trắng, thắt Ca vát đỏ, quần dài thẫm mầu) bưng tráp.
+ Nhà gái: Cô dâu, bố mẹ, chú bác, cô dì và 5 nữ chưa chồng mặc áo dài đỏ đón lễ.
- Tiến trình:
+ 8 giờ (giờ Nhâm Thìn, sao Thanh Long, Quý Đăng...) mời Trưởng đoàn và đoàn nhà Trai vào ngồi ở bên phải hướng đi từ cửa vào theo thứ tự: chú Rể, Trưởng đoàn, Bố mẹ,...Nhà Gái ngồi bên đối diện theo thứ tự tương ứng.
Sau khi đoàn vào hết 5 nam thanh niên bê tráp tiến vào (trầu cau đi trước), 5 thanh nữ đón từng đôi khiêng vào dừng trước cửa để chụp ảnh.
+ Khi vào trong nhà các nam giúp nữ khiêng lễ đặt lên bàn, đặt tấm phải phủ chữ Phúc quay ra phía trước, chỉnh cho thuận chiều, chéo góc. Đội bê tráp nam và đội bê tráp nữ sẽ trao phong bao lì xì, trả duyên cho nhau. Các phong bao này do hai nhà chuẩn bị, nhà trai sẽ chuẩn bị phong bao và đưa cho đội nam, nhà gái sẽ chuẩn bị số phong bao tương ứng đưa cho đội nữ. Số tiền trả duyên nên được hai nhà thống nhất trước.
+ Sau khi trao tráp, gia đình hai nhà sẽ cùng ngồi uống nước, nói chuyện. Đầu tiên, gia đình nhà gái sẽ giới thiệu các đại diện trong buổi lễ. Để đáp lại, nhà trai cũng giới thiệu các đại diện của gia đình.
+ Đại diện nhà trai sẽ phát biểu lý do và giới thiệu về các mâm quả mà nhà trai mang đến.
+ Đại diện nhà gái đứng lên cảm ơn, chấp nhận tráp ăn hỏi của nhà trai.
+ Trưởng đoàn nhà trai giới thiệu thành phần, người giao lễ (mẹ chú rể). Trưởng đoàn nhà gái giới thiệu thành phần, người nhận lễ (mẹ cô dâu).
+ Mẹ chú rể bưng một tráp trao cho mẹ cô dâu, nhận xong thím Hợp lật khăn phủ, nắp tráp đặt lên bàn coi như kiểm xong.
+ Trưởng đoàn nhà gái đặt một tráp nhẹ lên bàn thờ, đốt 3 nén hương, khấn, cắm hương. Cho phép chú rể đón dâu ra làm Lễ, đốt sẵn 3 nén hương khác.
+ Tân vào phòng đón Tuyết ra cả 2 đứng trước ban thờ (nam trái, nữ phải theo hướng từ trong nhìn ra) nhận 3 nén hương từ bác Mến, sau khi bác cắm hương xong 2 đứa khấn vái,cắm hương. Sau đó cô dâu sẽ đi từng bàn để rón nước mời khách.
- Nếu có “lễ đen” thì mẹ cô dâu sẽ lấy từ mâm ngũ quả một số vật phẩm và lễ đen mang lên bàn thờ thắp hương cúng ông bà, tổ tiên.
(Chú ý: Khi “lại quả” (chuyển lại) cho nhà trai cau không được dùng dao mà phải xé và khi nhà trai nhận lại tráp để bê về thì phải để ngửa, không được úp tráp lại.)
+ Hai bên phát biểu, thống nhất nghi thức xin cưới, xin dâu.
+ Giải lao.
6.3. XIN CƯỚI:
- Thời gian: 8 giờ 45 cùng ngày
- Nội dung:
+ TĐ nhà trai đặt vấn đề, trao 1 tráp đựng Lễ dẫn cưới. Trong tráp này có 1 ít trầu cau, chai rượu nhỏ, chè thuốc kèm 3 phong bì đựng tiền. Để 1 cho nhà gái sắm lễ cáo thổ công, 1 thắp hương gia đường họ Lương (bố cô dâu), 1 đưa sang gia đường họ Bùi (mẹ cô dâu) yết cáo Tổ tiên ông bà. Mỗi phong bì với tiền nên là số lẻ, đẹp.
+ Thống nhất ngày giờ xin dâu, dẫn dâu và làm lễ Thành hôn (xem ở dưới).
+ Nhà gái trao quà cho cô dâu.
+ TĐ nhà gái chấp thuận và mời đoàn nhà trai dự lễ Vu quy vào buổi trưa.
6.4. VU QUY:
- Thời gian: Thứ Bẩy ngày 25/11/2017 (08/10 âm).
- Địa điểm: tại Hôn trường do nhà gái chuẩn bị gần Nhà Văn hóa thôn. Đoàn nhà Trai sang ngồi dẫy ghế bên Trái nhìn từ phông cưới xuống, nhà Gái ngồi bên đối diện.
- Tiến trình: MC điều khiển, có liên hoan mặn, bắt đầu vào 9 giờ 5 là giờ Quý Tị có các sao Cát là: Minh Đường, Ngũ Phù, Nhật Lộc, Kim Tinh ...hợp việc cưới gả.
có đại diện hai họ phát biểu, nhà gái phát biểu sau để tiện mời cơm.
6.5. XIN DÂU :
+ Thời gian: Trước khi nhà trai tổ chức lễ Thành hôn 2 giờ, tức vào khoảng từ hơn 9 giờ đến trước 10 giờ Thứ Hai 27/11/2017 là ngày 10/10 âm lịch.
+ Lễ vật: Đơn giản nhưng cần có be rượu, cơi trầu cau, chè thuốc.
+ Thành phần: Trưởng đoàn, bố chú rể, chú rể, họ hàng và bạn bè. Đoàn này không cần đông người lắm, chú rể đi xe riêng.
+ Sau khi đã vào nhà gái, nhà trai được mời an tọa. Hai bên giới thiệu nhau.
+ Đại diện nhà trai xin chính thức được rước cô dâu về, trao Lễ xin dâu.
+ Nhà gái đồng ý, chú rể vào phòng trong để trao hoa cho cô dâu, cùng cô dâu đến trước bàn thờ thắp nén hương rồi ra chào bố mẹ, họ hàng hai bên.
+ Cha mẹ cô dâu dặn dò đôi trẻ, trao của hồi môn (nếu hôm trước chưa).
 + Đại diện nhà trai sẽ đáp lời thay chú rể và xin rước dâu lên xe.
+ Nhà gái sẽ lập đoàn cùng đi sang cùng theo xe hoa về nhà trai dự tiệc cưới. Nhà Gái không tự túc được xe, nhà trai bố trí xe đưa đón (15 người).
6.6. THÀNH HÔN: Thứ Hai 27/11/2017 là ngày 10/10 âm lịch (Mậu Ngọ). Giờ Hoàng Đạo: Tý (23-1), Sửu (1-3), Mão (5-7), Ngọ (11-13), Thân (15-17), Dậu (17-19). Nội dung tùy nhà Trai.
Trong đó, việc Đón dâu trước 10 giờ (sao tốt: Thiên Xá; Ngũ Phù; Nhật Lộc; Thủy Tinh) nhà trai có một tráp nhỏ.
Đoàn nhà gái dãn dâu về bên nhà trai cùng dự lễ Thành hôn.
Bố mẹ cô dâu có thể đi cùng đoàn nhưng khi vào Hôn trường nên đi sau cùng. Đoàn nhà Gái ngồi bên Phải nhìn từ Phông cưới xuống.
6.7. LẠI MẶT sau ngày cưới:
- Thời gian nên làm Nhị hỉ (sau cưới 2 ngày, vào 12/10 Âm) đôi vợ chồng trẻ về bên nhà bố mẹ vợ làm lễ gia tiên, thăm hỏi và biếu quà cho họ hàng rồi dự bữa ăn với gia đình.
- Lễ vật: tùy nhưng nhớ đủ 3 phần (Gia tiên nội ngoại và Thổ công nhà mình).

Thủ tục theo Thọ mai gia lễ, có cải biên cho phù hợp gia đình và địa phương cũng như thời đại.
Ngày giờ tính theo phần mềm Javascript
NGƯỜI TÍNH VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN
Lương Đức Mến


Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!