[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

Lạm bàn về câu: “GIẶC BÊN NGÔ KHÔNG BẰNG BÀ CÔ BÊN CHỒNG”

Hầu như người Việt nào cũng biết câu “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng” và hầu hết đều hiểu câu này có nghĩa là: giặc bên Tàu kéo sang, cũng không độc ác, đáng sợ bằng các cô chị cô em của chồng.
Hiểu vậy không sai, nhưng theo tôi chưa đầy đủ và không đúng với thực tế ngay trong họ nhà tôi.
Để hiểu thấu đáo câu này cần làm rõ 3 vấn đề:
1. GIẶC BÊN NGÔ:
1.1. Đất Ngô (chỉ vùng miền nam tỉnh Giang Tô và miền bắc tỉnh Chiết Giang bên Trung Quốc). Trong lịch sử Trung Hoa, có 3 tiểu quốc mang danh "Ngô" thường được nhắc đến. Đó là:
- Ngô quốc 吴國 là một Vương quốc chư hầu của nhà Chu (周朝, 1122 tCn–249 tCn) nằm ở khu vực cửa sông Dương Tử 扬子 được thành lập từ TK 12 tCn bởi Ngô Thái Bá 吳泰伯. Sau này, trong thời Đông Chu liệt quốc (東周列國, 770 tCn–256 tCn) dưới sự trị vì của Phù Sai (吳夫差, 495 tCn-473tCn) bị diệt bởi nước Việt (越國, ?-223 tCn) của Việt Vương Câu Tiễn (越王句踐, 496 tCn – 465 tCn).
- Đông Ngô (東吳, 222–280) là một trong 3 quốc gia thời Tam Quốc (三國, 220-280) được hình thành vào cuối thời Đông Hán (東漢, 25-220) bởi Tôn Quyền (孫權, 182 – 252). Trong thời Bắc thuộc lần thứ hai (北屬時代, 43-541) của nước ta, khi bên Bắc quốc nhà Hán (漢朝, 203 tCn–220) đổ, Âu Lạc (甌貉, 257 tCn - 207 tCn) khi đó gọi là Giao Châu (交州, 203-679) do Đông Ngô cai quản (210-263).
- Ngô (, còn gọi là Hoài Nam 淮南 hay Dương Ngô 杨吴 hoặc Nam Ngô (南吴, 902-937) là 1 trong 10 nước 十國 ở miền Nam thời “Ngũ đại thập quốc” (五代十國, 907-960).
1.2. Tuy nhà Ngô (東吳, 222–280) cai trị nước ta chỉ nửa thế kỷ (210-263) và sau nhà Ngô, nước ta còn bị các nhà Tấn (, 265-420), Lưu Tống (, 420-478), Nam Tề (南齐, 479-520), Lương (, 502-507), Tùy (, 580-618), Đường (唐朝, 618 – 907), Tống (宋朝, 960–1279), Nguyên (元朝, 1271–1368), Minh (明朝, 1368–1644) và Thanh (清朝, 1644 – 1912) xâm lăng hoặc cai trị, ít hay nhiều năm. Nhưng Đông Ngô gây "ấn tượng" với Đại Việt bởi:
- Năm 264, nhà Ngô chia đất Giao Châu ra, lấy Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm làm Quảng Châu (cho Lữ Đại làm Thứ sử), lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu (Đái Lương làm Thứ sử), đặt trị sở ở Long Biên nên Giao Châu mới thu hẹp nhiều và là lãnh thổ của Đại Việt về sau.
- Các quan cai trị Giao Châu rất tàn ác, đặc biệt Lã Đại, Tôn Tư nên dân ta rất oán hận bọn thống trị nhà Ngô. Chính dưới chế độ này đã xảy ra cuộc khởi nghĩa của Triệu Trinh Nương (趙貞娘, 225-248) vào năm 248.
Sự oán hận sâu sắc đó được lưu truyền thành ấn tượng!
1.3. Trên cơ sở đó, từ “Ngô” nhập vào vốn ngôn ngữ dân gian của Đại Việt trải qua hàng nghìn năm, nó được dùng để chỉ quân giặc phương Bắc nói chung với thái độ khinh bỉ. Ngoài ra, trái bí lấy giống từ bên Tầu gọi là “bí ngô”, trái bắp lấy giống từ bên Tầu gọi là “bắp ngô”, trai gái lăng nhăng gọi là “thằng ngô con đĩ”, rồi:
Tham vàng lấy phải thằng Ngô
Đêm nằm như thể cành khô chọc vào...
Hay:
Mang hàng đi đổi bên Ngô
Đừng có tơ tưởng rằng mơ được vàng.
Bao giờ cua biển không càng,
Lươn đồng có gọng mới mang vàng về.
Dưới con mắt dân gian, VUA NGÔ CHỈ NGANG CHÚA CHỔM:
Vua Ngô ba sáu tàn vàng
Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì
Chúa Chổm uống rượu tì tì
Chết xuống âm phủ khác gì vua Ngô?.
Các cụ ta xưa hay nói "ngô ngọng", "ngô nghê", "ngố Tàu",.... có lẽ một phần do đây và cũng bởi, dưới con mắt dân ta thì người Tầu hay nói ngọng!
1.4. Khi kết thúc thắng lợi khởi nghĩa Lam Sơn 藍山蜂起 , ngày 29 tháng 4 năm 1428, Bình Định Vương 平定王 Lê Lợi 黎利 làm lễ lên ngôi ở điện Kính Thiên tại Đông Kinh, đại xá thiên hạ, giao cho Triều liệt Đại phu Nhập nội Hành khiển Lại bộ Thượng thư kiêm Hành Khu mật viện sự Nguyễn Trãi (阮廌, 1380-1442) thảo bản tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt. Đó là bài Bình Ngô đại cáo 平吳大告 bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh thắng giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm, tức là vua Lê Thái tổ (黎太祖, 1428-1433) dựng lên nhà Hậu Lê (後黎朝, 1428 - 1788).
Tuy viết là “Bình Ngô” nhưng từ thảo dân cho tới quân vương, ai ai cũng hiểu là “bình trị giặc Minh”. Đây không phải là Thái học sinh 太學生 tránh chữ “” (Minh, chỉ nhà Minh (明,1368-1644), chiếm Đại Việt thời đó) theo phép "kị húy" mà cụ Nguyễn đã dùng từ dân gian để tỏ rõ ý khinh miệt, căm phẫn mà toàn dân ai cũng hiểu. Hơn nữa nếu viết 平明大告 (Bình Minh đại cáo) thì dễ hiểu sang ý “bài cáo chào mừng ngày mới”!
Ngay trong bài, cụ Nguyễn đã rố cáo sự tàn bạo của “Giặc bên Ngô”: “焮蒼生於虐焰, 陷赤子於禍坑”(“nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”)
1.5. Tóm lại, trong ngôn ngữ dân gian và văn chương Đại Việt thì “Ngô” tức là “giặc Tầu”, là “chệt”, là “xấu”…
2. KHÔNG BẰNG BÀ CÔ BÊN CHỒNG
2.1. Bà cô bên chồng, tức là chị hay cô em gái người chồng. Nhưng có nơi như quê tôi và vùng đồng bằng khu 3 cũ nói chung đều gọi chị gái, em gái của bố bằng “cô” cũng như miền Trung gọi bằng “o” vậy!.
2.2. Thông thường theo dân gian thì: Chị gái và em gái chồng thân mật với mẹ chồng và được mẹ chồng tin yêu hơn, vì là con đẻ. Em gái, chị gái chồng (đặc biệt mấy bà cô chậm chồng, không chồng hoặc góa chồng thì khô khan và xét nét, tâm tính khó khăn) thường hay đe nẹt, dòm ngó ý ăn, ý ở của chị dâu hay em dâu và lại xúi bẩy thêu dệt thêm với bà mẹ nên mẹ chồng càng khắc nghiệt với con dâu mình. Do vậy các nàng dâu nghĩ sự tàn ác của “giặc bên Ngô” chưa bằng chị, em gái của chồng.
2.3. Xuất xứ câu nói:
Có người kể với tôi rằng: “câu này có thời nước ta còn nội thuộc triều đại nhà Đông Ngô (, 220-265) thời Tam Quốc (三國, 220-280).
Ngày đó, ở quận Cửu Chân (玖甄, Thanh Hoá ngày nay) có bà Triệu Thị Trinh (趙氏貞, 225–248 có sách ghi tên là Bà Triệu 婆趙) người vùng núi Quân Yên (hay Quan Yên), quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu Quốc Đạt (趙國達, ?-248), một hào trưởng ở Quan Yên vào năm 246 từng tụ binh khởi nghĩa chống lại nhà Đông Ngô.
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà nói: 我要乘劲风,踏恶浪,斩杀东海的鲸鱼,驱逐吴军,光复河山,砸烂奴隶枷锁,决不卑躬屈膝地做人家的妻妾!(Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!
Lớn lên, Triệu Thị Trinh là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn. Đến độ 20 tuổi gặp phải người chị dâu (vợ ông Đạt) ác nghiệt, bà giết chị dâu rồi vào ở trong núi Nưa (nay thuộc các xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn, Mậu Lâm huyện Như Thanh, Trung Thành huyện Nông Cống, Thanh Hoá), chiêu mộ được hơn ngàn tráng sĩ.
Năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô tàn ác, dân khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại. Lúc đầu, anh bà không tán thành nhưng sau chịu nghe theo ý kiến của em (xuất xứ câu “Lệnh Ông không bằng Cồng Bà” cũng từ ý nầy nhưng đa phần mọi người hiểu rằng quyền vợ lấn lướt chồng!!!). Nghĩa quân thấy bà dũng mãnh, can đảm bèn tôn bà làm chủ. Khi bà ra trận cưỡi voi, mặc áo giáp vàng, rất là xinh đẹp nên quân sĩ tôn gọi là Nhuỵ Kiều tướng quân 蕊嬌將军.
Sử cũ còn ghi: Năm Mậu Thìn (248), Ngô chủ là Tôn Quyền (孫權, 182 – 252) sai Lục Dận (陸胤, ?-?) sang làm Thứ sử Giao châu 交州刺史 đã đem theo 8.000 quân, dùng của cải mua chuộc một số lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân.
Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền, đến mức quan quân nhà Đông Ngô phải thốt lên: “横戈当虎易,对面婆王难Hoành qua đương hổ dị, Đối diện Bà Vương nan; tức: Múa giáo đánh cọp dễ, Đối mặt Vua Bà thì thực khó). Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng.
Triệu Thị Trinh chống đỡ với quân Đông Ngô được năm sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi. Có giai thoại nói rằng tướng giặc lợi dụng việc phận nữ nhi đã truất bỏ y phục trên người khiến Bà Triệu từ đó xấu hổ mà dẫn đến tự tử.
Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến 265, tiếp theo là nhà Tấn (晉朝, 266–420).
Dựa vào câu chuyện lịch sử bà cô giết cả chị dâu ác nghiệt, khởi binh đánh giặc làm quân Ngô bạt vía nên mới xuất hiện câu thành ngữ nói trên”.
2.4. Theo tôi nhớ đã có lần đọc một tài liệu với dị bản khác.
Chuyện xẩy ra vào thời Khởi nghĩa Lam Sơn (起義藍山, 1418-1427). Chuyện rằng thời đó, có một viên tướng của Bình Định Vương Lê Lợi (黎利, 1385-1433) mải đánh trận bị lạc. Giặc Minh (大明, 1368–1644, chiếm nước ta trong kỳ Bắc thuộc thứ Tư, 安南屬明時期, 1407–1427) quây ráp và định bắt sống.
Ông chống trả quyết liệt và trong lúc nguy cấp ông đã cầu mong Tổ Cô nhà mình phù trợ. Đột nhiên, một trận cuồng phong nổi lên, quân giặc mất phương hướng, ông cùng chiến mã thoát hiểm trở về với đại quân.
Từ đó xuất hiện câu này, ý nói có bà cô phù hộ thì giặc Ngô (chỉ quân xâm lược nhà Minh) dù mạnh cũng không làm gì nổi.
Rất tiếc nguyên văn và nguồn tư liệu đó tôi quên mất, liệu có ai biết không?
3. Cũng từ câu chuyện trên mà TRONG DÂN GIAN CÓ CÂU:
Dù gian ác, vẫn thấp cơ,
Thua mưu, thua trí Tổ Cô dân mình!
Và các cụ ta rất nhân nghĩa khi nói:
Giặc Ngô rồi cũng về Ngô,
Làm Dâu mãi với bà Cô bên chồng.
(Lương Đức Mến, soạn lại tháng 9/2017 từ 2 bài bản thân viết trên Facebook)

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

CHỮ “HẢI” 海 VỚI TRIẾT LÝ SỐNG

Chữ Hán vốn là loại chữ tượng hình nên mỗi con chữ nếu nghiên cứu kỹ thấy biểu hiện rõ triết lý sống lý thú. Chữ “” là một ví dụ
- Đại thể: Chữ thuộc bộ “thủy” (viết dưới dạng ); có 11 nét, cấu tạo bởi chữ “thủy” và chữ “mỗi” (母); có UniCode là U+6D77 .
- Nghĩa của chữ”:
+ Bể, biển, cái chỗ trăm sông đều đổ nước vào, gần đất thì gọi là "hải" , xa đất thì gọi là "dương" .
+ Vật gì họp lại nhiều cũng gọi là "hải". Như "văn hải" 文海 tập văn lớn.
+ Tục gọi cái bát to là "hải".
- Chiết tự ra ta thấy chữ “hải” () được viết bởi:
+ Chữ “thủy ” () nghĩa là “nước”.
+ Chữ “mỗi ” (母) nghĩa là “từng”.
- Ngụ ý rằng:
+ Biển là đến từ mỗi giọt nước, từng giọt nước tích tụ lại thành biển mênh mông.
+ Biển sở dĩ có thể rộng lớn là bởi vì nó dung nạp được từng giọt nước còn chỉ dung nạp, chứa đựng được ít nước chỉ là cái ao nhỏ.
- Suy rộng ra con người:
+ Phải làm tốt từ từng việc nhỏ một mới làm nên nghiệp lớn.
+ Có thể bao dung được hết thảy thì mới có thể trở nên người vĩ đại.
Chí lí thay!

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

XƯNG HÔ TRONG TANG LỄ

Những âm Hán Việt xướng danh lúc làm lễ tang phần đông là nghe rất trúc trắc, khó nhớ, nhất là đối với người trẻ tuổi, lơ mơ về Hán Nôm.
Trước kia tôi tập hợp được một số từ, lập thành 3 Bảng, lưu tại đây

Nhưng hôm nọ lại có người hỏi, nay lập bảng tóm lược như sau: 

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

VĂN KHẤN TIẾT THANH MINH 2017

1. ÂM PHẦN LONG MẠCH, SƠN THẦN THỔ PHỦ và VONG LINH
Tại NĐND thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng
-*-
Tín chủ  con kính lạy:
- Chín phương Trời, năm phương Đất, mười phương chư Phật;
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa; ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, ngài Bản gia Thổ địa Long mạch Tôn thần, ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần;
- Các ngài: Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ; Quan Dẫn hồn Sứ giả Ngũ đạo Tướng quân, quan Đường xứ Thổ địa Chính thần cùng liệt vị tôn thần cai quản ở trong xứ nghĩa địa nhân dân thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai;
- Ngài Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan;
- Các Ngài Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.
Trưởng nam phái Út, Chi Hai họ Lương gốc xã Chiến Thắng, huyện An lão, thành phố Hải Phòng đã chuyển cư lên Lào Cai từ năm 1964 tiếp Kính lạy Hương linh: Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ, Hiển khảo Lương Đức Thân.
Hôm nay là thứ Bẩy: 08/4/2017, tức là ngày 12 tháng 3 năm Đinh Dậu, năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, Trưởng Nam cùng mẫu thân, các em, các cháu vâng theo lệ cũ,  Sắm sửa phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi trình lên
Tại khu mộ tổ tiên của gia đình trong nghĩa địa nhân dân thôn thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Nhân tiết Thanh minh tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám chứng kiến lời khấn cầu rằng:
Gia đình chúng con có 2 ngôi mộ đã được quy tập là nơi cát táng của:
- Tổ Tỉ Đặng Thị Chỉ Đặng Thị Chỉ hiệu Diệu Cầm sinh năm Canh Dần 1890 tại bản quán, tạ thế ngày 22/12/1982, tức là ngày 08 tháng Mười Một năm Nhâm Tuất; Mộ phần đã quy tập trong Lương Đức mộ viên ở nghĩa địa nhân dân thôn An Phong ở km 36 Quốc lộ 70 thuộc địa phận xã Phong Niên huyện Bảo Thắng từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ)  
- Hiển khảo Lương Đức Thân (hiệu…….) sinh năm Quý Hợi 1922, tạ thế lúc 2 giờ 5 phút sáng ngày Thứ Ba 21/01/1997 (tức là ngày 13 tháng Chạp năm Bính Tí); Cát táng, đặt tại nghĩa địa nhân dân thôn An Phong, xã Phong Niên huyện Bảo Thắng từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ).
Vậy chúng con xin kính cáo các đấng Thần linh, Thổ công, Thổ phủ Long Mạch, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ và Chư vị Tôn thần cai quản trong khu vực này, kính mời các vị chư Thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho các Hương linh luôn vững chắc mộ phần, yên ổn cốt xương, siêu thoát vong hồn. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.
Kính nghe: công ơn, nền đức, gây dựng cơ nghiệp của Lương tộc lịch đại tổ tiên là to lớn, chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi đồng đất vắng vẻ, chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ, Hiển khảo Lương Đức Thân lai lâm hiến hưởng.
Chúng con xin phép được quét dọn phần mộ cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm Thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh lịch đại tổ tiên Phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc cúng dâng Tin Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về Tiên Tổ.
Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hòe tươi tốt, cháu con vinh hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.
Chúng con Đồng xin các quan ngài cai quản nơi đây mở lượng hải hà, quan Sứ giả dẫn đường, bố cáo cho các ty mọi nơi thuộc hạt biết, không ai ngăn cản cho vong hồn được nhận lĩnh lễ vật an ổn ở nơi mộ phần, khiến cho vong âm, người dương đều được hưởng phúc lạc;
Lại xin đưa vong hồn về trước gia đường trong kỳ giỗ chạp, tiết để cho con cháu phụng sự, báo đáp thâm ân, tỏ lòng hiếu kính.
Âm dương cách trở, bát nước nén hương, tâm nguyện lòng thành, lễ bạc tiến dâng, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì.
-         Lương Đức Mến, cẩn soạn, thanh Minh Đinh Dậu 2017-



2. KHẤN THẦN PHẬT TỔ TIÊN
Tại Gia đường ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng
-*-
Tín chủ  con kính lạy:
- Chín phương Trời, năm phương Đất, mười phương chư Phật;
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa; ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, ngài Bản gia Thổ địa Long mạch Tôn thần, ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần cai quản xứ An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai;
- Ngài Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan;
- Các Ngài Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.
Trưởng nam phái Út, Chi Hai họ Lương gốc xã Chiến Thắng, huyện An lão, thành phố Hải Phòng đã chuyển cư lên Lào Cai từ năm 1964 tiếp Kính lạy Kính lạy Tằng tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ; Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh; Tổ cô: Lương Thị Mẹt; Tổ khảo Lương Đức Trính, Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ;  Hiển khảo Lương Đức Thân cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ.
cùng các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh khai mở đất này, lẩn khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn uổng tử không nơi nương tựa, các hài nhi yểu mệnh
Tại Gia đường ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Hôm nay là thứ Bẩy: 08/4/2017, tức là ngày 12 tháng 3 năm Đinh Dậu, năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, Trưởng Nam cùng mẫu thân, các em, các cháu vâng theo lệ cũ, 
Nhân tiết Thanh minh tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám chứng kiến lời khấn cầu rằng:
Trộm nghĩ rằng:
Vạn vật tạo thế gian, chuyện sắp đặt nhờ Thánh hiển linh;  Người sống trong trời đất, sự sinh tồn có Thần phù hộ.
Nước tự nguồn trôi kẻ uống nước phải tìm Giếng chẩy ra; Cây theo cội lớn người thành danh cần báo ơn Tiên Tổ.
Cành rợp bóng, dòng chảy không ngừng vì bền gốc, sâu nguồn; Nước yên bình, Gia môn khang thái bởi bao người thiệt số.
Lớn thành người nhờ cha mẹ khó nhọc sinh ra; Gây nên nghiệp bởi tổ tiên, Phật Thần phù hộ.
Uống nước phải nhớ nguồn, hưởng trái thơm nhớ ơn người trồng; Đó là nếp Hiếu Nghĩa ngàn xưa, là đạo cương thường vạn cổ.
Bởi thế cho nên:
Nhân tiết Thanh Minh, ngưỡng vọng Tôn linh, hiếu kính tỏ lòng; Gặp ngày Tế tự, thương kiếp chúng sinh, tâm thành rộng mở.
Toàn gia xin:
Sắm hương, nến, trà, trầm, rượu, cau, trầu với quả và hoa; Bầy muối, xôi, gạo, cá, gà, canh, cháo cùng vàng và mã.
Vật dụng dâng lên thắp nén tâm nhang; Bày lên trước án, lễ bạc lòng thành cúi xin thấu tỏ.
Thành tâm kính mời:
Các chư Phật, Thần, Thánh, các bậc Tiên linh Lương tộc lịch đại tổ tiên cùng phụ vị thương vong giáng lâm trước án, xét xoi chứng giám, cùng là nạp thụ.
Toàn gia nguyện:
Rèn chữ Hiếu, tích điều Liêm dạy con cháu  mãi dõi noi theo; Mở lòng Nhân, trồng cây Đức giữ nếp nhà vững bền muôn thủa.
Vọng xin Thần Phật, Tổ tiên ban ân, ban phúc:
Cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông; Giúp đệ tử: Đem đến điều lành, mang đi điều dữ, thêm của thêm người, làm chi thắng đó.
Bé bú mớm hay ăn chóng lớn, luôn gặp vía lành; Người học hành mạnh khỏe chăm ngoan, đã thi là đỗ.
Khi hương đã tàn, vàng mã áo quần, con xin thiêu hóa: gửi xuống cõi âm; Lễ vật phẩm thừa, xôi, rượu, canh, thịt, cháu con xin cùng: kết đoàn thụ lộc.
Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.
-Cẩn cáo-
Lương Đức Mến, cẩn soạn, thanh Minh Đinh Dậu 2017-

3. KHẤN THẦN PHẬT TỔ TIÊN
Tại Gia đường ở 328 đường Hoàng Liên, tf Lào Cai tỉnh Lào Cai
-*-
Tín chủ  con kính lạy:
- Chín phương Trời, năm phương Đất, mười phương chư Phật;
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa; ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, ngài Bản gia Thổ địa Long mạch Tôn thần, ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần cai quản xứ  tổ 22 phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai;
- Ngài Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan;
- Các Ngài Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.
Trưởng nam phái Út, Chi Hai họ Lương gốc xã Chiến Thắng, huyện An lão, thành phố Hải Phòng đã chuyển cư lên Lào Cai từ năm 1964 tiếp Kính lạy Kính lạy Tằng tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ; Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh; Tổ cô: Lương Thị Mẹt; Tổ khảo Lương Đức Trính, Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ;  Hiển khảo Lương Đức Thân cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ.
cùng các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh khai mở đất này, lẩn khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn uổng tử không nơi nương tựa, các hài nhi yểu mệnh
Tại Gia đường ở SN 328 đường Hoàng Liên thuộc địa phận tổ 22 phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai,
Hôm nay là thứ Bẩy: 08/4/2017, tức là ngày 12 tháng 3 năm Đinh Dậu, năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, tín chủ là Lương Đức Mến, SN 1955 tuổi Ất Mùi cùng vợ, co trai, con dâu cùng các cháu vâng theo lệ cũ, 
Nhân tiết Thanh minh thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần, hương hồn nội ngoại tổ tiên, kỵ, cụ, ông bà, cha, cô dì chú bác, anh chị em cùng là phụ vị thương vong chứng giám và hưởng lễ!
Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.
-Cẩn cáo-
Lương Đức Mến, cẩn soạn, thanh Minh Đinh Dậu 2017-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

VĂN KHẤN NGÀY GIỖ ÔNG NỘI

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Kính nghe: Người ta sinh ra có cha mẹ, ông bà nên cháu con không quên ngày Chính kị, bởi thế:
Hôm nay là ngày 29 tháng Giêng năm Đinh Dậu, vào năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là vào Chủ Nhật, ngày 25 tháng 02 năm 2017 là ngày tưởng niệm Tổ khảo Lương Đức Trính rời nhà ra đi ngày 29/Giêng; Mộ vọng quy tập đặt tại nghĩa địa nhân dân thôn Phương Hạ xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng từ tháng Chạp năm Giáp Tuất 1994,
Tại gia từ ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Tín chủ con Kính lạy: Chín phương Trời, Năm phương Đất, Chư Phật mười phương; Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần;
Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan;
các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân: Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, Thổ địa Long mạch Tôn thần, Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần và Chư vị thần linh cai quản xứ An Phong.
Hậu duệ tôn Lương gia sinh sống tại Lào Cai Kính lạy: Hương linh Tổ khảo Lương Đức Trính;
Kính lạy Tằng tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ; Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh; Tổ cô: Lương Thị Mẹt; Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ: Hiển khảo Lương Đức Thân cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ,
Con: Lương Đức Mến tuổi Ất Mùi, SN 1955; Là Trưởng Nam của Lương gia gốc Phương Hạ, Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng, chuyển quán hiện ở: thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai cùng Mẫu thân, các em, các con, các cháu tụ họp tại Gia đường kính cẩn thưa trình:
Nhân tưởng nhớ Tổ khảo, toàn gia chúng con lòng thành sắm sanh lễ vật: hương hoa, trầu thuốc, nước, rượu cơm canh, cúng dâng trước án
thành tâm kính mời: Ngài Đương Niên Chi Thần, Đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần; Ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, Bản xứ Thần Linh Thổ Địa; Ngài Định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa long mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần Linh cai quản ở trong khu vực này;
Chúng con tiếp kính thỉnh Hương linh Tổ khảo, Lương tộc lịch đại tổ tiên, các bậc phụ thờ theo tiên tổ cùng các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh khai mở đất này, lẩn khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn uổng tử không nơi nương tựa, các hài nhi yểu mệnh
xin cùng giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, Chứng minh lời khấn nguyện của cháu con:
Nhớ tiên linh xưa :  
Úc Giang ôm đất địa linh; Tượng Sơn rợp che quê Tổ. 
Lớn lên khi ách đô hộ phủ khắp xóm làng; Vượt khó khăn cũng học hành có văn có tự.
Được ưu bổ Lý trưởng chăm sóc việc làng; Lo bênh dân quan trường trễ nải nên cảnh nhà khốn khó.
Ham chén rượu cuộc cờ, làng thiếu thuế liên miên; Vui cánh diều câu hát chị bù chì không đủ.
Hôn phối tăng tình thân họ Đặng họ Lương; 6 bận gieo gặt hái 4 lần biết bao gian khó.
Thủa hai gái gia cảnh khó khăn; Biệt vợ con ra làm phu mỏ.
Họ tìm về sinh tiếp hai trai; Đời túng quẫn quyết đi tháo gỡ.
Sau hội làng mở lối cổng sau; Bặt tin tức không nhời nhắn gửi.
Người vợ hiền xáo, xén tìm kế sinh nhai; Đàn con lớn lên trong gian khó.
Thế rồi đến 1964:
Vợ và các con các cháu quy tập mộ phần người cùng là tiên tổ;
Rời bỏ chốn chôn rau, lên biên cương, thực thi khai hoang rừng rú.
Lại những ngày tay trắng khai cơ chặt cây mở lối, san núi, be bờ, dạ luôn hướng tới tương lai; Qua bao bận chí bền vượt khó, chiếu đất màn trời, vỡ ruộng, dựng nhà lòng vẫn nhớ về đất Tổ.  
Một thời khai hoang, mặc muỗi độc rừng thiêng; Mấy bận xây nền, dù đói ăn vất vả.
Hậu duệ nay:
4 trái xưa thành 3 đại gia đình, 9 con chỉ còn dâu trưởng; Cháu nội ngoại đến trưởng thành có 15, dựng gia thất thành 29 cả rể dâu nay còn 21 dẫu chưa giầu nhưng có ăn có để;
41 chắt kéo thêm về thành 74 nay còn 71: đứa sĩ quan, đứa kĩ sư, đứa giáo viên, đứa xới xáo làm ăn, đứa còn đang đi học;  Chồi lan quế kị có 63 chút nội, ngoại, gái, trai đầy đủ.
Gốc Tử phần tu dựng Từ đường; Nơi Nghĩa địa đẹp mồ tiên tổ.
Nay nhớ người trong giờ tưởng niệm:
Sắm hương, nến, trà, rượu, cau, trầu, nước với quả và hoa;
Bầy muối, xôi, gạo, gà, canh, cơm cùng vàng và mã.
Tâm thành kính tụng, thắp nén hương thơm;
Bày lên trước án, cúi xin thấu tỏ.
Thành tâm kính mời:
Các chư Phật, Thần, Thánh, các bậc Tiên linh;
Những người mở đất, Tiền chủ cùng Hậu chủ.
Kính Vong linh Tổ khảo ngược đường đất lên đây
Về Gia đường giáng lâm, chứng giám, cùng là nạp thụ.
 Cầu Thần, Phật, Tổ tiên, Hương linh ban ân, ban phúc:
Toàn năm hưng thịnh: vượng phúc đẹp ân;
Mọi chỗ tốt lành: dương cơ âm mộ.
Phù hộ cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;
Độ trì để hậu nhân: Luôn gặp việc may, vượt qua điều hạn, thêm của thêm người, thẳng đường tiến bộ.
Già tinh anh giữ vững ngọn cờ, Trẻ công tác, lao động mọi đường hoan lộ
Bé bú mớm hay ăn, chóng lớn, luôn gặp vía lành;
Người học hành mạnh khỏe, chăm ngoan, đã thi là đỗ.
Sau tuần cúng lễ:
Khi hương đã tàn: vàng, mã, áo, quần thiêu hóa gửi xuống cõi âm;
Lễ vật phẩm thừa: xôi, rượu, canh, thịt, cháu con thụ lộc.
Văn khấn đôi dòng; Tâm nhang một nén.
Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.

 (Trưởng Nam Lương Đức Mến, cẩn soạn, Vũ Thủy Đinh Dậu, 02/ 2017)

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

VĂN KHẤN NGÀY GIỖ VỌNG TỔ

1. Khấn Thổ thần, Long mạch trước khi Giỗ Vọng:

Con Kính lạy:
Chín phương Trời, Năm phương Đất, Chư Phật mười phương;
Đương cai Đinh Dậu niên Khang Kiệt Đại tướng quân Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc Hành Binh chi Thần, Cự Tào Phán quan,
Ngài Đông Trù Tư mệnh, Táo phủ Thần quân; Thổ địa Long mạch Tôn Thần; Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần;
Các ngài tinh quân trên Thiên đình chủ từng sao trong Cửu diệu, Nhị Thập Bát tú.
Hoàng Thiên, hậu Thổ chư vị Tôn Thần cùng các ngài Thần linh cai quản khắp trong xứ này.
Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu, vào năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là Thứ Bẩy, ngày 11 tháng 02 năm 2017,
Nhân Tiết Nguyên tiêu, ngày tưởng nhớ của Triệu Tổ Lương Đức gia tộc ,
Tại Gia đường ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Tín chủ con là: Lương Đức Mến, hậu duệ đời thứ Bẩy và là Trưởng Chi út ngành ba Lương Cao Mật (nay là xã Chiến Thắng, huyện An Lão) cùng mẫu thân, anh em các chi, phái hợp cùng con cháu nội ngoại, dâu, rể của Lương Đức gia tộc trên đất Lào Cai tuân theo nghi lễ, sửa biện hương hoa, sắm sanh lễ vật;
Trước án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tấu trình:
Kính cáo Bản gia Thổ công, Táo quân, Long mạch và các vị thần linh đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng;
Chứng minh, phù hộ cho toàn gia bình an, thịnh vượng, luôn gặp điều lành, vượt qua vận dữ, mọi việc hanh thông, giải hạn tai ương.
Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
-Cẩn cốc-

2. Văn Khấn Giỗ Vọng:

Hôm nay là ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu, vào năm thứ 72 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là Thứ Bẩy, ngày 11 tháng 02 năm 2017,
Tại  Gia đường ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Hậu duệ tôn là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955 hậu duệ đời thứ Bẩy, Trưởng chi út ngành Ba của Lương tộc Cao Mật (nay là xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng) chuyển cư lên Lào Cai từ tháng 2/1964 cùng mẫu thân, anh em các chi, phái
Hợp cùng con cháu nội ngoại, dâu, rể toàn tiểu tôn, từ nơi biên ải xa trông muôn lạy kính cẩn thưa rằng:
Đúng ngày Chính kị tưởng nhớ Lương Đức gia tộc Triệu Tổ, đứng trước linh vọng Lương môn lịch Đại Tổ tôn :
- Thủy tổ Lương Công Trạch cùng Tổ tỉ Nguyễn Thị Lã;
- Đệ Nhất Đại Tổ Lương Công Nghệ, Tổ tỉ Lương Thị Còi,
- Đệ Nhị Đại Tổ Lương Công Tuấn cùng Tổ tỉ;
- Đệ Nhị Đại Tổ Lương Công Tú cùng Tổ tỉ là Đào Thị Nhượng, Nguyễn Thị Dụng, Hoàng Thị Châu, Đặng Thị Chiền.
 Hợp các vị tiên tổ:
- Hiển Cao tằng tổ khảo: Lương Đức Bầu, Lương Đức Xưng và Tổ tỉ;
 - Hiển Cao tằng tổ khảo:  Lương Đức Hanh, Tổ tỉ: Đặng Thị Chẻo;
- Hiển Tằng tổ khảo: Lương Đức Thể, Lương Đức Hòa, Lương Đức Hinh, Lương Đức Tuynh, và các Tổ tỉ;
- Hiển Tằng tổ khảo:  Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ;
- Hiển Tổ khảo: Lương Đức Chức, Lương Đức Ổn, Lương Đức Mạo, Lương Đức Dứa và các Hiển Tổ tỉ
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Duẩn, Hiển Bá phụ tỉ Đào Thị Dẫn;
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Tuế, Hiển Bá phụ tỉ Nguyễn Thị Hợi;
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Liêm, Hiển Bá phụ tỉ Vũ Thị Hợi;
- Hiển Bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh ;
- Hiển Tổ cô: Lương Thị Mẹt.
- Hiển Tổ khảo: Lương Đức Trính, Tổ tỉ : Đặng Thị Chỉ;
-Hiển khảo: Lương Đức Thân.
-Hiển Thúc khảo: Lương Đức Dật,  Hiển thẩm:  Lưu Thị Bính.
-Hiển huynh: Lương Đức Thiếp, Hiển tẩu: Đặng Thị Khuy
-Hiển đệ Liệt sĩ Lương Đức An
Cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, Hôn, Tế của Lương tộc và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ;
Nay tiết Xuân tháng Giêng, ngày Rằm, húy nhật Thượng Tổ Lương Đức gia tộc, hậu duệ tôn họp mặt nhau đây, lập bàn thờ vọng,
Kính cẩn trộm nghĩ:
Vạn vật tạo thế gian, Cây theo cội lớn, nước tự nguồn trôi nên uống nước phải tìm Giếng chẩy ra;
Người sinh trong trời đất, Thẩy cháu con ai nấy đều chung cành, cùng gốc nên phải báo ơn dầy Tiên Tổ.
Có thờ có thiêng, có kiêng có lành; Có Hiếu được đáp đền, có Kính ắt Phật, Thần phù hộ.;
Lại biết rằng:
Cành rợp bóng, dòng chảy không ngừng vì  gốc bền, nguồn vững; Gia môn khang thái bởi Linh Miếu trường tồn, oai linh Tiên Tổ.
Uống nước phải nhớ nguồn, hưởng trái thơm nhớ ơn người trồng cấy; Đó là nếp hiếu nghĩa ngàn xưa, là đạo cương thường vạn cổ.
Bởi thế cho nên:
Nhân ngày tưởng  niệm, ngưỡng vọng Tôn linh, Thưa trình cho rõ:
Chúng con vốn dòng quê An Lão, vì kế sinh nhai phải xa đất Tổ,
Thành tâm tụ họp nơi đây, lễ bạc lòng thành:
Nhất tâm kính cẩn dâng hương, nến, trầm, trà, rượu, trầu, vàng, mã, xôi, gà, quả, hoa… ;
Trình bầy lễ mọn, biểu lộ lòng thành, kinh mời liệt vị tổ tiên, các bậc phụ thờ và các phụ vị thương vong cùng về hâm hưởng.
Nhớ Tổ xưa:
Gần Ba trăm năm trước “bên nồi bên con”; Vượt sông Văn Úc, dừng lại tả biên, vỡ ruộng khai hoang, tìm đất dựng nhà, định làng Hạ thôn, khởi dòng Lương tộc.
Tộc Lương Mười Một đời liền, Kế nghiệp Tổ, cha truyền con nối; Từ đó ruộng vườn, sông bãi, đất trời, bát ngát hương hoa, rạng ngời công đức, cháu con hưởng Phúc cha ông, hậu sinh gắng bồi đắp mới.
 Chúng con hằng nhớ:
Từ Phương Lai sang Cảnh Hưng xây nên quê mới, Dẫu cơ cực mỗi lúc khác nhau, song kiên gan đời nào vẫn vững.
Tổ xưa từ hai bàn tay trắng, nương nhờ họ Mai, họ Nguyễn mà mở đất lưu đến ngày nay và sẽ trường tồn mãi.
Cháu con nối dòng thau chua, rửa mặn, cùng dân Cốc, dân Hầu tạo nên Cao Mật trù phú bến sông Văn ngày thêm hưng thịnh .
Gặp buổi loạn ly, vâng ấn nguyên nhung lập công lớn vang lừng vùng bẩy huyện.
Nhân lúc yên hàn mở mang nông nghiệp, chí thú làm ăn, dựng Tổ đường khang trang bên dòng Văn Úc.
Từ đó dòng họ sinh sôi, Tiết Nguyên Tiêu  luôn khói hương nhớ Tổ.
Nhưng hỡi ơi !
Những ngày tiêu thổ đánh Tây, Từ đường tiêu vong trong trận càn tháng Bẩy.
Trong cảnh “Toàn dân ra trận”, bộn bề bao công chuyện, việc tế Tổ có phần sao nhãng.
Bởi câu “Lực bất tòng Tâm”, đau đớn vốn khôn cùng, Công tiền nhân vẫn lưu truyền trong con cháu.
Sau ngặt vì nỗi:
 Đất chật người đông, chúng con phải rời bỏ quê hương, lên chốn biên cương, thực thi kế hoạch khai hoang miền núi.
Lại những ngày tay trắng khai cơ chặt cây mở lối, san núi, đắp  mương, dạ luôn hướng tới tương lai.
Qua bao bận chí bền vượt khó, chiếu đất màn trời, vỡ ruộng, dựng nhà lòng vẫn nhớ về đất Tổ.
Chúng con nay:
Người ở lại phát huy truyền thống, bồi đắp quê hương; kẻ ra đi giữ biên thùy,  lòng không nguôi nhớ bể.
“Uống nước nhớ nguồn”, xanh chồi lá luôn nhớ sân hoè; “Vấn Tổ tầm Tông”, lớp hậu duệ vọng nơi phát tích.
Đất nước trải bao thăng trầm, non sông thu về một mối; Dòng họ qua mấy bận điêu linh, trời mỗi ngày mỗi sáng.
Ơn trời gặp buổi “Quốc thái dân an”  phong tục xưa việc họ quay về; Phúc nhà nhớ câu “Tổ Công Tông Đức”, nền đất cũ Từ đường dựng lại.
Thật là:
Tổ đường linh bái gốc tử phần, quê cũ Ba trăm năm hưng thịnh càng tăng đông con, nhiều cháu bên  bờ Văn Úc.
Họ hàng tôn quý, chồi lan quế, bản mới Năm Ba Xuân khởi dựng ngày thêm thắm lá, tươi cành chân dẫy Hoàng Liên.
Dâng nén Tâm nhang, lễ bạc lòng thành cúi xin Thần Phật Thánh, Tinh quân cùng là Thương tổ :
Lễ bạc chấp kỳ giải hạn nhân tinh, giáng trần phù trợ.
Giúp toàn gia giải trừ vận hạn, phù trợ cát tường, xây dựng ấm no, vượt qua khốn khó.
Nghiệp võ mở trí cho kẻ theo đòi văn sách, nghề văn độ trì cho người nghèo yếu nhiệt tâm, đạo sáng giúp kẻ lỗi đường quay về truyền thống.
Để dòng tộc xuôi cũng như ngược cùng toàn dân tạo nhân bản hài hòa, đồng thuận thương yêu,  kính trên trọng dưới.
Chúng con nguyện:
Đem đạo nghĩa xử sự hàng ngày, lấy chữ nhân làm điều lẽ sống.
Người ở quê giữ phần hương khói chăm sóc Từ đường, tạo tôn mộ Tổ.
Kẻ tha hương khơi dòng ôn cố, dốc tâm dựng cơ đồ, rạng danh quê cũ.       
Toàn gia xin:
Nguyện nối nghiệp tổ tông truyền lại, dạy con cháu  mãi dõi noi theo; Mở lòng Nhân, trồng cây Đức giữ nếp nhà vững bền muôn thủa.
Tuân theo lệ cũ, thắp nén hương thơm, vọng xin Tổ tiên ban ân, ban phúc:
Cho tử tôn phồn thịnh khang ninh; Để dòng họ trường tồn tiến bộ.
Giãi tấm lòng son; Cúi xin thấu tỏ.
Thưng Tổ đẳng Tiên Tổ anh linh cung duy thượng hưởng!
Phút tôn nghiêm này, với tấm lòng thành, thắp nén hương thơm, chúng con kính cầu Thượng Tổ cùng Lương tộc lịch đại Tổ Tông linh thiêng chứng giám.
-Cẩn cáo-

Lương Đức Mến cẩn soạn, ngày 09/02/2017 tức 13 tháng Giêng Đinh Dậu.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!