[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


Thứ Năm, ngày 24 tháng 11 năm 2016

KHÔNG PHẢI TẤT CẢ HỌ LƯƠNG VIỆT NAM LÀ TỪ BẮC QUỐC DI CƯ SANG

Theo dõi trang Cộng đồng họ Lương Việt Nam và một số trang khác thấy có nhiều người (có cả người họ Lương) viết rằng: Họ ta có nguồn gốc từ Trung Quốc, thậm chí có bạn còn nói đã sang được 2000 năm! Đọc thấy mà chạnh buồn nên tỉnh dậy sắp xếp lại suy nghĩ của mình và đưa lên đây để nhớ!
1. Trên trang HỌ LƯƠNG XỨ ĐÔNG, bài 48.ĐLS. Tìm hiểu NGUỒN GỐC HỌ LƯƠNG VIỆT NAM tôi đã nêu những điều sơ lược về vấn đề này qua kết quả tìm hiểu của chủ trang. Trong đó đã nhấn mạnh:

1.1. Dù có thể không bao quát được tất các các chi phái, nhưng khái quát lại họ Lương Việt Nam có thể được hình thành từ mấy nguồn sau:
- Người Hán đã “phiên âm” họ vốn có của người Việt;
- Người dân bản địa tự đặt tộc danh;
- Quan đô hộ phương Bắc hay các Tù trưởng gán họ cho dân bản địa;
- Các gia đình có học, chức sắc bắt chước đặt họ cho tộc nhà mình;
- Chính quyền phong kiến Việt Nam gán cải họ cho tộc dân thiểu số.
1.2. Trong cộng đồng họ Lương Việt Nam có những chi, phái, gia đình đúng là từ Trung Quốc sang qua nhiều thời kỳ, như: trong những cuộc di cư vào thời đại đồ đồng (青铜时代, <2100 khi="" n="" nh="" span="" t="" tcn="">秦王, 246 tCn-221 tCn) diệt Bách Việt (百粵, 249 tCn- 221 tCn), khi nhà Nguyên (元朝, 1271 - 1368) thay nhà Tống (宋朝, 960-1127), khi nhà Thanh (大清國, 1644-1911) thế nhà Minh (明朝, 1368 - 1644), sau phong trào Thái Bình Thiên Quốc (太平天國, 1851–1864) hoặc trong Cách mạng Văn hóa (文化大革命, 1966-1976) .... Nhưng đó không phải là tất cả!
2. Đồng thời bài 94. ĐLS. Tìm hiểu về BÁCH TÍNH QUẬN để quan viên họ CHỚ NHẦM LẪN VỀ GỐC GÁC CỦA HỌ NHÀ MÌNH đã khẳng định:
2.1 Không nên máy móc áp dụng sách Bách gia tính 百家姓 và Quận danh Bách gia tính 郡名百家姓 biên soạn từ thời Tống (宋朝, 960-1127) vào việc định danh các họ ở nước ta bởi sự không giống nhau giữa số lượng các “họ” và địa danh thực tế của Việt Nam và Trung Quốc. Lại càng không được coi Tổ quán 祖貫 ghi trong đó là Tổ quán của các họ Việt Nam (và ngay cả Trung Quốc đương đại), trong đó có họ Lương.
Họ Lương (cũng như các họ khác) hiện đang ở hay xuất phát từ Việt Nam là từ Việt Nam, là công dân Việt, gốc gác tại nước Đại Việt 大越 xưa mà nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ ta nếu chép bằng chữ Hán là , đọc theo âm Hán Việt là “lương” còn người Trung Quốc tuy có họ mà chữ Hán cũng chép là nhưng người ta lại đọc là “liang”!
2.2. Đọc sách cổ do người Tống 宋人 viết ra nhằm đích riêng của Nho sĩ nặng tư tưởng Đại Hán 大漢 để biết chứ không nên tin máy móc vào điều mà sách đó viết!
3. Về việc cư trú của người đồng tộc:
3.1. Họ nào cũng vậy, từ Tổ quán 祖貫, ngoài số quần cư tại nơi “cắt rốn, chôn rau” 𦠆墫胞, nhiều người, nhiều hộ chuyển đi nơi khác hình thành các chi, phái theo dọc chiều dài lịch sử, tỏa ra nhiều nơi theo chiều ngang không gian, lại thêm việc “mai danh ẩn tích” 埋名隱昔 bởi nhiều lý do… nên việc tìm về nguồn cội, truy nhận triệu tổ, thủy tổ, viễn tổ, thái tổ, tổ ; việc kết nối dòng họ là hết sức khó khăn.
3.2. Hơn nữa, thời “tiền quốc gia” và cả thời trung đại, khái niệm quốc gia chưa rõ ràng, chưa có đường biên giới và nơi giáp giới chỉ đắp một mô đất (gọi là phong tức bờ cõi) để đánh dấu. Thực ra, hiện tượng “bỏ ngỏ” biên giới như vậy phù hợp với quan niệm của giới cầm quyền về lãnh thổ: lấy ý thức thần quyền tồn tại dưới dạng vương quyền thay ý thức pháp quyền.
Sau này, tiến tới quan niệm “vùng biên giới”, tồn tại những vùng đệm nên người dân ít có khái niệm lãnh thổ hành chính, nặng về quan hệ họ hàng thân tộc nên việc họ qua lại thăm thân, gặp gỡ họ hàng, cư trú cho là bình thường.
Mặt khác, khi chính quyền trung ương chưa đủ mạnh thì những địa phương xa xôi được giao tự quản dưới hình thức ki mi (羈縻, cai trị lỏng lẻo, duy trì để cho không đến nỗi tuyệt hẳn) trong đó vấn đề hộ tịch ít được chú ý.
Đồng thời, trong nước chưa có “Luật Cư trú”, “Luật Quốc tịch”…và quan hệ với lân bang chưa có Hòa ước Westphalia về trật tự thế giới mới (Traités de Westphalie, 1648) nên việc di cư dễ dàng. Do vậy ngày nay ở vùng biên giới có những dòng họ (chung cụ Tổ 3-5 đời) lại cư ngụ trên 2 quốc gia khác nhau!
3.3. Do đó, việc xác định một cụ Tổ nguyên thủy cho tất cả các dòng họ Lương Việt Nam là ai, ở đâu? từ bao giờ là điều không thể cả về tâm linh và khoa học!. Đúng là “Tiền tiền vô thủy” (前前無始, Không biết điểm bắt đầu)
4. Trên thế giới, trong nhiều trường hợp dân di cư trở thành lãnh tụ của dân bản địa. Điển hình liên quan đến Hoa-Việt là :
- Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore (từ năm 1959 đến năm 1990) là Lý Quang Diệu (李光耀, 9/1923-3/2015) vốn tổ tiên là người Khách Gia 客家. Nguyên quán ở huyện Đại Bộ 大埔, tỉnh Quảng Đông 廣東 đến Singapore vào năm 1862 bởi Tổ phụ 祖父 là Lý Mộc Văn (李沐文, Lee Bok Boon, sinh năm 1846). Lý Quang Diệu đã lãnh đạo hòn đảo Sư tử này rất thành công trên mọi mặt, trong đó có việc độc lập về chính sách ngoại giao với Trung Hoa.
- Lý Thừa Vãn (Rhee Syngman hay Lee Seungman hay Yee Sung-man hoặc I/Ri Seung-man, H: 李承晩, Hàn: 이승만), 1875 – 1965), vị tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc (1948-1960, 대한민국 대통령/ 大韓民國 大統領.) vào ngày 6 tháng 11 năm 1958, trong dịp viếng thăm Việt Nam Cộng hòa (06/11/1948) từng nói rằng tổ tiên ông là người Việt. Có tài liệu nói ông là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình Vương Lý Long Tường (李龍祥, 이용상 , sinh năm 1174). Nhắc lại rằng: Long Tường là con thứ bảy của vua Lý Anh Tông (李英宗, trị vì 1138-1175) của Đại Việt và ông đến tị nạn tại Trấn Sơn, huyện Bồn Tân, tỉnh Hoàng Hải, trên bờ biển phía tây Cao Ly 고려, 高麗 từ 1226.
- Tổng thư ký Liên hợp quốc thứ 8 (đương nhiệm) Ban Ki-moon (Phan Cơ Văn/ 潘基文/ 반기문, sinh năm 1944 tại Chungju, Hàn Quốc) có ý kiến cho là hậu duệ của dòng họ Phan Huy ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội.
5. Nên nhớ rằng: trong lịch sử và hiện nay do chuyển cư (có tổ chức hay tự phát), do điều động, do định cư ở quê ngoại… mà ít có làng xã cùng chung một họ và một dòng họ không chỉ còn tụ cư ở nơi “quê cha đất tổ” mà sống rải rác khắp nơi. Do vậy những thành viên xa đời của cùng một Cụ Tổ sinh sống trên nhiều miền và đôi khi nhiều quốc gia khác nhau. Vì vậy mới có chuyện người họ Lương gốc Viết (như hậu duệ Lương Nhữ Hốt (梁汝笏, ?-1428)) chuyển sang định cư ở Trung Quốc và hậu duệ của họ rất trưởng thành.
Những ví dụ điển hình trên thế giới:
- Nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Hoa thời cổ là Khổng Tử (孔子, tức Khổng Phu Tử 孔夫子, 551- 479 tCn) ngày nay tính lên đến vài triệu hậu duệ, dù nhiều người không còn là người Hán hoặc không có quốc tịch Trung Hoa. Tân bản “Khổng tử thế gia phổ” 孔子世家譜 2009 được công nhận và cuốn Gia phả dài nhất thế giới chép 83 thế hệ, tổng số 4, 3 triệu người, được chia thành 80 tập với tổng trọng lượng hơn 120 kg.
- Khả Hãn sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ là Thành Cát tư hãn” (成吉思汗, 1162-1227) không chỉ là một nhà lãnh đạo lỗi lạc, quan trọng của lịch sử thế giới, mà còn được mệnh danh là “người truyền giống thành công nhất trong lịch sử”. Do vậy đến thời hiện tại có khoảng 16 triệu hậu duệ của ông đang sống rải rác khắp nơi trên toàn thế giới.
Đồng thời, trong một vùng có những người mang chung một tộc danh lại không cùng họ hoặc tuy khác tộc danh lại vốn cùng một họ!
6. Nguồn gốc dòng họ là bản địa hay từ đâu đến không hề ảnh hưởng đến bản chất và danh dự của dòng họ và những người mang họ Lương, nhiều đời tổ tiên là người Việt, có quốc tịch Việt Nam là thuộc dòng họ Việt đích thực và có một vị trí xứng đáng trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Chúng ta có quyền ngẩng cao đầu mà nói rằng: “TA LÀ NGƯỜI HỌ LƯƠNG VIỆT NAM, LÀ CON RỒNG CHÁU TIÊN” và điều đó đã được khẳng định không chỉ bằng tâm thức mà bằng cả chứng lý lịch sử! Đồng thời đó cũng là ý chí: “NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ” vang lên từ ngàn xưa!
Do vậy, những ý kiến nhắc lại mãi rằng “họ Lương Việt Nam là từ Tầu sang” là phản khoa học!. Tôi nói vậy không phải là ảnh hưởng của tâm lý “bài Trung” mà là vấn đề khoa học, tôn trọng sự thật lịch sử và tinh thần tự tôn dân tộc, hiếu kính Tổ tiên, tôn trọng cội nguồn!
Tôi mong tất cả quan viên họ trong Cộng đồng họ Lương Việt Nam hiểu tâm ý của tôi!
- Lương Đức Mến, đầu Đông 2016-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 10 năm 2016

Bàn về LƯƠNG TỘC KỲ (Cờ của họ Lương)

Chủ thớt đã có bài 83.VH. Tìm hiểu về BIỂU TRƯNG CỦA DÒNG HỌ (Tộc kỳ, Tộc huy) và từng đưa ra mẫu từ năm 2009. Sau đó đã nhận được nhiều ý kiến hưởng hứng và “lời khen đã lắm, tiếng chê cũng nhiều”!
Đáng ra, họ Lương Việt Nam cũng giống như các dòng họ khác phải có Tộc kỳ 梁族旗, Tộc huy  梁族徽 nhưng vì nhiều lý do mà sau Đại hội II (18/10 tại Phú Yên) vừa rồi, họ ta vẫn chưa thống nhất được mẫu biểu trưng dòng họ.
Trong quá trình tiến tới Đại hội II, bản thân tôi cũng như một số người khác đã xây dựng mẫu đưa ra các trang trên Facebook, Blog được quan viên họ bàn luận sôi nổi. Gạt đi một số ý kiến quá tả, mang ý cá nhân hay ấu trĩ..., có rất nhiều ý kiến, đề xuất tâm huyết, có giá trị cần được tiếp thu.
Hôm nay, tôi xây dựng mẫu này trên cơ sở các mẫu cũ của bản thân có tiếp thu ý kiến của quan viên họ và nhất là tuân theo tiêu chí: Dân tộc; Khác biệt (so với các dòng họ khác); Đơn giản, dễ nhớ, dễ chế tác; Dễ thích nghi; Có ý nghĩa triết học, tâm linh cả về hình dáng, nội dung, mầu sắc…
1. Hình dạng: hình vuông theo truyền thống cờ Lễ hội dân gian với ý nghĩa vuông vức, thuận quan điểm xưa “trời tròn đất vuông” lại thuận cho việc treo ngang hay treo đứng.
2. Kích thước: Tùy mục đích sử dụng mà có từng loại khác nhau với kích cỡ không phạm vào cung xấu theo quan niệm dân gian:
- Từ đường Đại tôn, Đại hội vùng, Đại hội toàn quốc dùng CỜ ĐẠI mỗi chiều 210-300cm;
- Nhà thờ Chi, Ngành thì treo CỜ TRUNG kích cỡ: 120-210cm;
- Tại gia đình treo các loại CỜ TIỂU có kích thước từ 80-120 cm.
3. Mầu sắc:
Theo luật Tương sinh 相生  trong Ngũ hành 五行說 và quy tắc xác định Ngũ hành của chữ chỉ tộc danh (“Lương”) mà SẮP XẾP 5 MẦU CỦA CỜ NGŨ SẮC sao cho từ ngoài trở vào các phần cờ có tác dụng giúp đỡ nhau, xúc tiến, nương tựa lẫn nhau để sinh trưởng, giúp cho nhau lớn hoặc sinh ra nhau. Nghĩa là các phần cờ tiếp diễn, thúc đẩy sự phát triển không bao giờ ngừng theo quy luật: Mộc sinh Hoả , Hoả sinh Thổ , Thổ sinh Kim , Kim sinh Thuỷ , Thuỷ sinh Mộc 木,...
Do vậy tôi sắp xếp thứ tự mầu sắc theo các vùng như sau:
3.1. Chữ chỉ tộc danh:
 Tộc danh họ ta ghi bằng Hán tự là “” bằng chữ Việt đương đại là “LƯƠNG” khi xét Ngũ hành đều thuộc hành HỎA. Mà hành Hỏa ứng với mầu ĐỎ nên dùng mầu Đỏ, tượng trưng cho tinh thần mới khắc phục mọi trở ngại, nghịch cảnh.
Để dễ đọc, dễ hiểu không dùng Hán tự hay chữ Việt viết dưới dạng Thư pháp mà dùng chữ Quốc ngữ “HỌ LƯƠNG VIỆT NAM” và 4 chữ này được trình bày dưới dạng như ngôi nhà cách điệu. Điều đó có ý nghĩa:
- Họ Lương Việt Nam chung một mái nhà;
- Chỉ ý nghĩa của chữ “lương” trong Hán tự là: Xà nhà 屋梁, Xà đòn dông (xà nóc) 正梁, ...bộ phận kết cấu quan trọng làm nên mái nhà.
3.2. Nền cờ Trung tâm có mầu VÀNG là mầu cờ truyền thống từ thời Hai Bà Trưng (Đầu voi phất ngọn cờ Vàng), là mầu hành THỔ có vị trí trung ương, tượng trưng cho lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia lại thể hiện rõ chúng ta thuộc chủng tộc da vàng.
Hơn nữa, chữ Đỏ đặt trên nền Vàng thể hiện “mấu đỏ da vàng”.
3.3. Các vành tiếp theo Trung tâm từ trong ra:
- Tro tàn tích lại đất vàng thêm, tức Thổ do Hỏa sinh nên vành tiếp là vành của HỎA có mầu ĐỎ, thể hiện vạn vật sinh trưởng dồi dào;
 - Cây cỏ làm mồi nhen lửa, tức Hỏa do Mộc sinh mà MỘC thì ứng mầu XANH, xu hướng phát triển đi lên;
- Nhờ nước cây xanh mọc và lớn lên, tức Mộc do Thủy sinh mà THỦY lại ứng mầu ĐEN, thể hiện sự chuyển động;
 - Kim loại vào lò chảy nước, tức Thủy do Kim sinh nên vành tiếp có mầu TRẮNG của KIM (mầu trong của khí gió) biểu thị sự đi lên;
- Lòng đất tạo nên Kim loại, tức Kim tạo ra từ Thổ quay lại vòng tuần hoàn của Tương sinh từ Trung tâm ra, phát triển theo vòng xoáy.
3.4. Vành ngoài cùng tạo hình răng cưa liên tưởng tới vẩy Rồng biểu thị “con Rồng cháu Tiên”.
4. Sử dụng:
- Chỉ có 1 loại có vòng tra cán cờ, không thiết kế riêng cho kiểu treo đứng, treo nghiêng. Trường hợp cần treo đứng (Đại lễ) in riêng, chữ xoay đúng chiều.
- Treo cờ hơi nghiêng so với cột cờ khoảng 15 – 25 độ để được hình ảnh đẹp, thiêng liêng, chữ không bị ngược.
- Khi có treo cờ Tổ quốc thì Tộc kỳ không được lớn hơn chiều rộng của Quốc kỳ và Tộc kỳ được treo ở dưới hoặc ở bên phải Quốc kỳ theo hướng từ cửa Từ đường nhìn ra hay từ sân khấu nhìn xuống.
5. Ý nghĩa lá cờ họ được khái quát ngắn gọn trong bài Tứ tuyệt:
Con cháu tộc Lương, một mái nhà,
Khởi nguồn đất mẹ tiếp sinh ra.
Máu đỏ da vàng, tương sinh phát,
Cha Rồng nâng đỡ nghiệp vươn xa.
Rất mong quan viên họ và những ai trong quan tâm nhận xét, phẩm bình và cùng đề xuất ý tưởng.

Các ảnh trong bài:
- A1: tóm tắt quy luật Sinh-Khắc của Ngũ hành;
- A2: Lương tộc kỳ;
- A3: Khi treo cùng Quốc kỳ;
- A4: Tộc kỳ treo đứng.

- Lương Đức Mến, hạ tuần tháng 9 năm Bính Thân 2016-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Hai, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Tìm hiểu về BÁCH TÍNH QUẬN để quan viên họ CHỚ NHẦM LẪN VỀ GỐC GÁC CỦA HỌ NHÀ MÌNH

Cờ họ Lương (LĐM đề xuất
Trong quá trình thảo luận về cội nguồn dòng họ và nghi thức tưởng niệm Tổ tiên mới hay có một số người, nơi dựa vào Chúc văn xưa để lại vẫn nghĩ là cội nguồn xa xưa của dòng họ là từ An Định. Đó là một nhận thức sai lầm được bắt nguồn từ 2 cuốn sách cổ mà khi học chữ Nho các cụ ta thường học.
1. Trước hết là cuốn BÁCH GIA TÍNH 百家姓 mà hấu như ai khi nghiên cứu về dòng họ cũng biết và tôi từng nghiên cứu, giới thiệu từ lâu.

Đây là Văn bản ghi lại các họ phổ biến của người Trung Quốc được một văn nhân chưa rõ tên ở Tiền Đường 钱塘, Hàng Châu 杭州, tỉnh Chiết Giang 浙江 soạn vào thời Bắc Tống (北宋, 960-1127). Ban đầu danh sách có 411 họ, sau đó tăng lên 504 họ, gồm 444 họ đơn 单姓 (chỉ gồm một chữ, ví dụ Triệu , Hồ ,...) và 60 họ kép 复姓 (gồm hai chữ, ví dụ Tư Mã 司馬, Gia Cát 诸葛, Hạ Hầu 夏侯...).
Bản chép BÁCH GIA TÍNH  百家姓 (mượn trên mạng)

Các họ đầu tiên được nói tới trong danh sách là họ của các hoàng đế, trước hết là Triệu (, họ của Tống Thái Tổ 宋太祖 Triệu Khuông Dẫn 趙匡胤), sau đó là Tiền (, họ của các vua nước Ngô Việt 吳越國, 907-978), Tôn (, họ của chính phi Ngô Việt Vương) và Lý (, họ của các vua nước Đường-Đường Cao Tổ Lý Uyên 高祖李淵, 618- 626).

Trong cuốn này họ Lương xếp thứ 128 傳統百家姓排名第 128 và được chép trong câu: “ HẠNG, CHÚC, ĐỔNG, LƯƠNG”.

Trong Bách gia tính mỗi tộc có tổ quán riêng thành ra có Bách gia tính (tánh) quận danh 百家姓郡名.

2. Cuốn BÁCH GIA TÍNH QUẬN DANH (百家姓郡名, tên quận của mọi tộc họ) xuất hiện vào đời nhà Tống chép tộc quán của từng họ. Có khoảng 408 họ 姓氏个数  ghép vào 102 quận.
2.1. Khởi đầu sách, tổ quán của tộc Triệu nêu ra trước tiên: “趙 (天水) 錢 (彭城) 孫 (樂安) 李 (隴西)”, phiên âm theo các cụ ta xưa là: “TRIỆU (Thiên Thủy)  TIỄN (Bành Thành)  TÔN (Nhạc An)  LÍ (Lũng Tây)” còn đọc theo tiếng Trung hiện đại là: zhào (tiān shuǐ) qián (péng chéng) sūn (lè ān) lǐ (lǒng xī). Có nghĩa là: họ TRIỆU ở Thiên Thủy, họ TIỄN ở Bành Thành, họ TÔN ở Nhạc An, họ LÍ ở Lũng Tây.
Bản chép QUẬN DANH BÁCH GIA TÍNH (LĐM tự tạo ra)
Cùng gốc gác Thiên Thủy 天水 là các họ: TRIỆU ,   TẦN ,   NGHIÊM ,   ĐỊCH ,   CƯỜNG ,   THU ,   SONG ,   SÂN ,   QUẾ ,   TẰNG ,   TRANG ,   THẬN ,   NGẢI ,   HÁM ,   NA ,   QUYỀN ,   THƯỢNG QUAN 上官,   BÌ ,   KHƯƠNG
2.2. Trong sách này họ LƯƠNG được nhắc đến trong câu “ (遼西) (太原) (隴西) (安定)” mà phiên âm Hán Việt như các cụ ta từng đọc là: HẠNG (Liêu Tây) CHÚC (Thái Nguyên) ĐỔNG (Lũng Tây) LƯƠNG (An Định) còn đọc theo tiếng Trung hiên đại là:  xiàng (liáo xī) zhù (tài yuán) dǒng (lǒng xī) liáng (ān dìng). Có nghĩa là: họ HẠNG ở Liêu Tây, họ CHÚC ở Thái Nguyên, họ ĐỔNG ở Lũng Tây, họ LƯƠNG ở An Định.
Cùng gốc An Định 安定 có các họ: NGŨ ,   LƯƠNG ,   TỊCH ,   HỒ ,   MÔNG ,   TRÌNH .
Nhưng thuyết “Xuất tự Doanh tính, dĩ Ấp vi Thị” 以邑為氏 dẫn theo Nguyên hà Tính toản 元龢姓纂 của Lâm Bảo 林寶 soạn đời Đường (唐朝, 618-907) thì Thủy tổ họ Lương 得姓始祖 (Trung Quốc) là Lương Khang Bá 梁康伯  là con cháu họ Doanh và ông phát tích ở Lương Thành 梁城 mà nay là tỉnh Sơn Tây  (在今山西省臨猗西南) ở phía Bắc của Trung Quốc, cách xa An Định thuộc Cam Túc ở vùng Tây Bắc.
3. Thực ra đây là những tác phẩm có giá trị nhất định về LIỆT KÊ DANH MỤC VÀ TỔ QUÁN CÁC HỌ CỦA TRUNG QUỐC đến thời Tống. Nhưng các tác giả đã phạm các sai lầm sau, nếu áp dụng máy móc, nhất là vào Việt Nam:
3.1. Dễ thấy nhất là để thánh hóa họ Triệu (họ của vua nhà Tống) người ta đã:
- Xếp họ Triệu đầu tiên, mặc dầu chữ Triệu có đến 14 nét, trái với nguyên tắc là phải xếp họ đầu tiên có chữ ít nét nhất (họ Bốc, có hai nét).
- Địa danh Thiên Thủy (天水, nước trên trời) được gán cho họ Triệu là họ của vua Thái Tổ 宋太祖 nhà Tống là Triệu Khuông Dận (趙匡胤, 927 - 976).
Trên thực tế, chính sử chép Triệu Khuông Dẫn quê ở Trác Châu 涿州 nay thuộc địa cấp thị Bảo Định 保定, tỉnh Hà Bắc  河北 nằm ở phía bắc giáp với thủ đô Bắc Kinh 北京 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nghĩa là cách rất xa Thiên Thủy vốn thuộc Cam Túc nhưng chắc do Thiên Thủy 天水 có nghĩa “nước trên trời” nên được cho là nơi phát tích của gia tộc Hoàng đế!
3.2. Xác định tộc nào đó khởi nguyên ra sao, từ một địa phương nào và thực chất có bao nhiêu họ ở mỗi nước là điều “không thể làm được” bởi không có căn cứ từ “Tính danh học” cũng như các ngành khoa học khác và trên thực tế việc hình thành các chi, phái của các họ  rất khác nhau và ngay trong cùng một họ đâu cũng là giống nhau!.
Nhưng nhằm thần thánh hóa nhà Tống (宋朝, 960–1279) và tuyên truyền rằng Trung Quốc là nơi phát xuất của mọi họ tộc trên trái đất nên 2 cuốn sách đầu tiên có liệt kê các họ và tổ quán của họ đó được Triều đình cho phổ biến và nhanh chóng lan rộng.
3.3. Toàn bộ văn bản được xếp vần điệu và có thể đọc lên như một bài thơ 4 (12) chữ một câu, vì vậy đôi khi trẻ em Trung Quốc sử dụng các tác phẩm này để nhập môn chữ Hán bên cạnh cuốn Tam Tự Kinh 三字经. Qua nhiều thế hệ, các sĩ tử và chúng dân xem những điều viết trong đó là chân lý.
4. Trong sách có nhắc “ (安定)” tức họ LƯƠNG có Tổ quán ở quận An Định. Ở đây địa danh An Định có thể là:
4.1. Ở Việt Nam:
- Xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam. Vùng này, đến đầu thế kỉ XVIII, phần lớn đất đai còn hoang vu, lầy lội sau được những lưu dân người Việt từ miền Bắc và miền Trung vào tìm đất sống trong thời quân Trinh đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).
- Xã An Định,  huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Vùng này vốn thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru. Năm 1578 Chúa Nguyễn Hoàng (阮潢, 1525-1613) khi đó đang trấn thủ vùng Thuận- Quảng của Đại Việt đã sai tướng Lương Văn Chánh (梁文正, ?-1611) tấn công vào thành Hồ, là thủ phủ của Chăm Pa tại rồi chiêu tập và đưa lưu dân từ các vùng Thanh-Nghệ, Thuận-Quảng vào đây để khẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp, lập ra tỉnh Phú Yên ngày nay.
4.2. Ở Trung Quốc:
- Quận An Định 安定 thuộc địa cấp thị Định Tây 定西市, tỉnh Cam Túc 甘肅, ở phía tây bắc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 中华人民共和国 giáp Mông Cổ Монгол улс.
- Quận An Định 安定, thành phố Đài Nam 臺南, Trung Hoa Dân Quốc 中華民國 (Đài Loan).
Có người nói An Định thuộc Quảng Tây là quê hương của Lương Long (梁龍, lãnh đạo nhân dân các quận Giao Chỉ 交趾, Cửu Chân 玖甄, Nhật Nam 日南, Hợp Phố 合浦 khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ nhà Đông Hán (東漢, 23 - 220) năm 178-181) nhưng tôi đã lục tìm các địa danh thuộc vùng Lưỡng Quảng 兩廣 (thuộc Nam Việt 南越/南粤 trong Bách Việt 百越/百粵 xưa) không thấy !
Như thế An Định trong sách viết từ thời nhà Tống được cho là nơi phát tích của họ Lương là An Định thuộc tỉnh Cam Túc phía Tây Bắc Trung Quốc.
Bản đồ phân bố nhân khẩu họ 梁(liang) bên Trung Quốc
Nhưng lịch sử cũng như dân số Trung Quốc chứng minh không phải tất cả người mang họ bên Trung Quốc đều có gốc gác từ đó!!! Theo điều tra dân số mới đây nhất (2013) của Trong Quốc thì nơi đông người mang họ (liáng, Lương) nhất không phải vùng An Định (Cam Túc) ở Tây Bắc mà là vùng Quảng Đông 廣東 ở Đông Nam. Tiếp theo là các Hương Cảng 港是, Tứ Xuyên 四川, Phúc Kiến 福建, Quảng Tây 廣西, ...
5. Ảnh hưởng TỚI VIỆT NAM:
Từ Bắc quốc truyền sang ta và các cụ ta xưa khi học chữ Nho đã dùng 2 cuốn sách đó để học, in sâu vào tâm khảm. Từ đó bị ảnh hưởng chuyển vào linh vị, từ đường, danh hiệu cùng các bài khấn tế địa danh Tổ quán như chép ở sách này! Các bản Long văn, Chúc văn đó được lưu truyền bằng văn bản hay trí như qua các đời đến nay một số nơi vẫn còn lưu giữ.
Nguồn gốc các dòng họ ở Việt Nam khá phức tạp, tựu trung lại có thế do: Quan cai trị người Hán đã “phiên âm” họ vốn có của người Việt; Người dân bản địa tự đặt tộc danh; Quan đô hộ gán họ cho dân bản địa; Bắt chước tộc lân cận đặt họ cho tộc nhà mình; Chính quyền phong kiến Việt Nam gán cải họ cho tộc dân thiểu số; Một bộ phận người họ đó từ Trung Quốc di cư sang. Chính vì ảnh hưởng của văn hóa Hoa Hạ, lại chưa (hoặc có nhưng bị thất truyền) chữ viết nên khi có “họ” phải chép bằng chữ Hán và tạo ra sự “giống” với chữ ghi họ người Tầu có âm Hán Việt tương ứng. Ví dụ họ Lương nếu ghi bằng chữ Hán là “”, đọc theo âm Hán Việt là “lương”, giống chữ Hán ghi họ “liang” của người Hán nhưng KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ TẤT CẢ HỌ LƯƠNG VIỆT NAM ĐỀU CÓ GỐC TRUNG HOA!
Hơn nữa, ở nước ta trải qua các đời, cấp hành chính “quận” thời Bắc thuộc (越南北屬時期, 43 - 541, 602 - 905) là một quận huyện thuộc “Thiên triều” không có địa danh An Định 安定 ! Các địa danh An Định ở các tỉnh Bến Tre, Phú Yên chỉ là cấp xã và như 4.1 đã nói, vùng này đến thế kỷ XV-XVII mới chính thức đứng trong bản đồ Đại Việt!
Nhưng từ trước đến nay các bản Long văn, Chúc văn đó được truyền trong nội bộ gia tộc, chưa được người hay cơ quan nào chú ý nghiên cứu, làm rõ, phân tích đúng sai nên các thế hệ sau cứ theo đó mà khấn cúng, đinh ninh đó là sự thật!.
6. KẾT LUẬN:
5.1. Ngày nay, Bách gia tính 百家姓 và Quận danh Bách gia tính 郡名百家姓 không còn phù hợp ngay cả ở Trung Quốc bởi sự biến động của dân số cũng như thay đổi về địa dư, địa giới, cấp hành chính.
5.2. Với Việt Nam từ xưa đã không nên áp dụng bởi sự nhầm lẫn giữa địa danh trong sách Bách gia tính và địa danh thực tế của Việt Nam. Ngày nay lại càng không được coi Tổ quán ghi trong đó là Tổ quán của các họ, trong đó có họ Lương.
Họ Lương Việt Nam là từ Việt Nam, là công dân Việt, gốc gác tại nước Đại Việt 大越 xưa mà nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
5.4. Những nhận thức hay tư liệu cho rằng họ Lương ta có Tổ quán tại An Định cần được thay đổi cho đúng với thực tế lịch sử, dù vùng Lưỡng Quảng bên Trung Hoa từng có một quân mang tên An Định thật (mà đã đổi tên nên tôi tìm chưa ra).
Tất nhiên, một số chi nhánh họ Lương ở Việt Nam không thuộc dạng như đã phân tích ở trên bởi người họ Lương, cũng như một số họ khác có một bộ phận từ Trung Quốc đến Việt Nam trong những cuộc di cư vào thời đại đồ đồng (青铜时代,- 2100 tCn), khi nhà Tần (秦王, 246 tCn-221 tCn) diệt Bách Việt (249 tCn- 221 tCn), khi nhà Nguyên (元朝, 1271 - 1368) thay nhà Tống (宋朝, 960-1127), nhà Thanh (大清國, 1644-1911) thế nhà Minh (明朝, 1368 - 1644) sau phong trào “phản Thanh phục Minh” 反清復明, sau phong trào Thái Bình Thiên Quốc (太平天國, 1851–1864)...Đó là những người Minh Hương 明鄉人, tự nhận và nhà nước công nhận họ là Hoa Kiều 華僑. Hay như các chi họ Lương có chung đền thờ dựng ở phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Thực tế, Việt Nam có nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng người gốc Minh hương, như: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long... hay những văn nghệ sĩ nổi danh thời hiện đại như Hồ Dzếnh, Trịnh Công Sơn, Vương Hồng Sễn, Lý Lan...ai dám bảo họ không phải người Việt!.
 5.5. Đọc sách để biết chứ không nên tin vào điều mà sách BÁCH TÍNH QUẬN DANH 百家姓郡名 do người Tống 宋人 viết ra nhằm đích riêng của Nho sĩ nặng tư tưởng Đại Hán 大漢!
Đây không phải là ảnh hưởng của tâm lý bài Trung mà là vấn đề khoa học, tôn trọng sự thật lịch sử và tinh thần tự tôn dân tộc, hiếu kính Tổ tiên, tôn trọng cội nguồn!
               - Lương Đức Mến, ngày 01/10/2016-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thứ Tư, ngày 10 tháng 8 năm 2016

VĂN KHẤN RẰM THÁNG BẨY BÍNH THÂN

1.VĂN KHẤN NGOÀI MỘ
Nam mô A di đà Phật (3 lần)
Con kính lạy:
- Chín phương trời, Năm phương Đất, Mười phương chư Phật;
- Ngài Đương cai Bính Thân niên Chí đức Tôn thần: Quản Trọng Đại tướng quân; ngài Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu Hành Binh chi Thần, Tống Tào Phán quan;
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa; ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, ngài Bản gia Thổ địa Long mạch Tôn thần, ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần cai quản xứ này. 
- Các ngài: Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ; Quan Dẫn hồn Sứ giả Ngũ đạo Tướng quân, quan Đường xứ Thổ địa Chính thần cùng liệt vị tôn thần cai quản ở trong xứ này.
Kính lạy hương linh Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ, Hiển khảo Lương Đức Thân.
Hôm nay, ngày 11 tháng Bẩy năm Bính Thân, vào năm thứ 71 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là vào Thứ Bẩy, ngày 13 tháng 08 năm 2016, nhân tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh,
Tại: Nghĩa địa km36 xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
Tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955, hiện cư ngụ tại SN 328 đường Hoàng Liên thuộc Tổ 22, P.Kim Tân, Tp. Lào Cai cùng mẫu thân, anh em, vợ con và các cháu sinh sống tại tỉnh Lào Cai
Sắm sửa phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi,
Trình cáo chư vị Tôn Thần cầu xin phù trợ giúp đỡ cho Hương linh của Cát táng nơi đây là:
- Tổ Tỉ Đặng Thị Chỉ Đặng Thị Chỉ hiệu Diệu Cầm sinh năm Canh Dần 1890 tại bản quán, tạ thế 22/12/1982 (tức là ngày 08 tháng Mười Một Nhâm Tuất); Mộ phần đã quy tập trong Lương Đức mộ viên nơi đây  từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ
- Hiển khảo Lương Đức Thân (hiệu…….) sinh năm Quý Hợi 1922, tạ thế lúc 2 giờ 5 phút sáng ngày Thứ Ba 21/01/1997 (tức là ngày 13 tháng Chạp năm Bính Tí); Cát táng, đặt tại nghĩa địa nhân dân thôn An Phong, xã Phong Niên huyện Bảo Thắng từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ).
 luôn vững chắc mộ phần, yên ổn cốt xương, siêu thoát vong hồn.
Đồng xin các quan ngài mở lượng hải hà, quan Sứ giả dẫn đường, bố cáo cho các ty mọi nơi thuộc hạt biết, không ai ngăn cản cho vong hồn được nhận lĩnh lễ vật an ổn ở nơi mộ phần, khiến cho vong âm, người dương đều được hưởng phúc lạc;
Lại xin đưa vong hồn về trước gia đường, đón Lễ Vu Lan, để cho con cháu phụng sự trong tiết Trung nguyên, báo đáp thâm ân, tỏ lòng hiếu kính.
Âm dương cách trở, bát nước nén hương, tâm nguyện lòng thành, lễ bạc tiến dâng, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì.
Nam Mô A-di-đà Phật (3 lần)


2.VĂN KHẤN TRONG NHÀ
Hôm nay, ngày 11 tháng Bẩy năm Bính Thân, vào năm thứ 71 của nước CHXHCN Việt Nam, tức là vào Thứ Bẩy, ngày 13 tháng 08 năm 2016, nhân tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh,
Tại Gia từ ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai,
Tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955, hiện cư ngụ tại SN 328 đường Hoàng Liên thuộc Tổ 22, P.Kim Tân, Tp. Lào Cai cùng mẫu thân, anh em, vợ con và các cháu sinh sống tại tỉnh Lào Cai,
Trong tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh, tín chủ chúng con tâm thành muôn lạy, kính thỉnh:
- Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư vị Tôn thần;
- Chư Phật mười phương, Ba ngôi Tam Bảo; Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát;
- Ngài Mục Kiền Liên Tôn Giả;
- Ngài Đương cai Bính Thân niên Chí đức Tôn thần: Quản Trọng Đại tướng quân; ngài Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu Hành Binh chi Thần, Tống Tào Phán quan;
- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và Chư vị thần linh cai quản xứ này. 
Chúng con tiếp kính thỉnh:
- Thủy tổ Lương Công Trạch, Tổ tỉ Nguyễn Thị Lã;
- Đệ Nhất đại Tổ Lương Công Nghệ, Tổ Tỉ Lương Thị Còi,
- Đệ Nhị đại Tổ Lương Công Tú cùng các Tổ tỉ Đào Thị Nhượng, Nguyễn Thị Dụng, Hoàng Thị Châu, Đặng Thị Chiền;
- Cao tằng tổ khảo: Lương Đức Hanh, Tổ tỉ: Đặng Thị Chẻo, Tổ tỉ khiếm danh;
- Tằng Tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ;
- Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh;
- Tổ cô: Lương Thị Mẹt;
- Tổ khảo: Lương Đức Trính, Tổ tỉ: Đặng Thị Chỉ;
- Hiển khảo: Lương Đức Thân;
Cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ theo Tiên tổ và các phụ vị thương vong.
Trộm nghĩ rằng:
Vạn vật tạo thế gian, chuyện sắp đặt nhờ Thánh hiển linh; 
Người sống trong trời đất, sự sinh tồn có Thần phù hộ.
Nước tự nguồn trôi kẻ uống nước phải tìm Giếng chẩy ra;
Cây theo cội lớn người thành danh cần báo ơn Tiên Tổ.
Lại biết rằng:
Cành rợp bóng, dòng chảy không ngừng vì bền gốc, sâu nguồn;
Nước yên bình, Gia môn khang thái bởi bao người thiệt số.
Lớn thành người nhờ cha mẹ khó nhọc sinh ra;
Gây nên nghiệp bởi tổ tiên, Phật Thần phù hộ.
Uống nước phải nhớ nguồn, hưởng trái thơm nhớ ơn người trồng;
Đó là nếp Hiếu Nghĩa ngàn xưa, là đạo cương thường vạn cổ.
Bởi thế cho nên:
Nhân tiết Vu Lan, ngưỡng vọng Tôn linh, hiếu kính tỏ lòng;
Gặp ngày Xá tội, thương kiếp chúng sinh, tâm thành rộng mở.
Toàn gia xin:
Sắm hương, nến, trà, trầm, rượu, cau, trầu với quả và hoa;
Bầy muối, xôi, gạo, cá, gà, canh, cháo cùng vàng và mã.
Vật dụng dâng lên thắp nén tâm nhang;
Bày lên trước án, lễ bạc lòng thành cúi xin thấu tỏ.
Thành tâm kính mời:
Các chư Phật, Thần, Thánh, các bậc Tiên linh cùng phụ vị thương vong;
Đã kính thỉnh giáng lâm trước án, xét xoi chứng giám, cùng là nạp thụ.
Toàn gia nguyện:
Rèn chữ Hiếu, tích điều Liêm  dạy con cháu  mãi dõi noi theo;
Mở lòng Nhân, trồng cây Đức giữ nếp nhà vững bền muôn thủa.
Vọng xin Thần Phật, Tổ tiên ban ân, ban phúc:
Để Hiển khảo, cùng Thất tổ của chúng con và cả chúng sinh;
 Ra đường lành, thoát vòng mê, đặng siêu sinh nơi Giác ngộ.
Cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;
Giúp đệ tử: Đem đến điều lành, mang đi điều dữ, thêm của thêm người, làm chi thắng đó.
Bé bú mớm hay ăn chóng lớn, luôn gặp vía lành;
Người học hành mạnh khỏe chăm ngoan, đã thi là đỗ.
Khi hương đã tàn, vàng mã áo quần, con xin thiêu hóa: gửi xuống cõi âm;
Lễ vật phẩm thừa, xôi, rượu, canh, thịt, cháu con xin cùng: kết đoàn thụ lộc.
Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.
-Cẩn cáo-


3. VĂN KHẤN CHÚNG SINH (ngoài trời) :
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương trời, năm phương Đất, mười phương Chư Phật;
Con lạy Đức Phật Di Đà.
Con lạy Bồ Tát Quan Âm.
Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.
Tiết tháng 7 sắp Thu phân,
Ngày Rằm xá tội vong nhân hải hà.
Âm cung mở cửa ngục ra,
Vong linh không cửa không nhà.
Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả,
Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương.
Gốc cây xó chợ đầu đường,
Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang.
Quanh năm đói rét cơ hàn,
Không manh áo mỏng, che làn heo may.
Cô hồn nam bắc đông tây,
Trẻ già trai gái về đây họp đoàn.
Dù rằng: chết uổng, chết oan,
Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu.
Chết tai nạn, chết ốm đâu,
Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình.
Chết bom đạn, chết đao binh,
Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi.
Chết vì sét đánh giữa trời,
Nay nghe tín chủ thỉnh mời.
Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau.
Cơm canh cháo nẻ trầu cau,
Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh.
Gạo muối quả thực hoa đăng,
Mang theo một chút để dành ngày mai.
Phù hộ tín chủ lộc tài,
An khang thịnh vượng hoà hài gia trung.
Nhớ ngày xá tội vong nhân,
Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời.
Bây giờ nhận hưởng xong rồi,
Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần.
Tín chủ thiêu hoá kim ngân,
Cùng với quần áo đã được phân chia.
Kính cáo Tôn thần, Cô hồn chúng sinh Chứng minh công đức cho tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955 cùng mẫu thân,; cùng anh, em, vợ, con và các cháu
Tổ chức cúng tại tư gia ở thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!