Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 5 3, 2009

Biến cố THỜI THƯỢNG TỔ LẬP NGHIỆP

Mất mùa, loạn lạc, chia ly . Tha hương tìm chốn lập quê, gây dòng. 1. Lược sử VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1533-1789: Ðến đầu thập lục thế kỷ XVI, bởi vì vua nhà Lê hoang dâm vô độ, bỏ việc triều chính đổ nát, cho nên trong nước loạn lạc, nhà Mạc nhân dịp này đoạt ngôi. Nhà Lê tuy đã mất ngôi, nhưng lòng người còn tưởng nhớ đến công đức của vua Thái Tổ và vua Thánh Tông, cho nên lại theo phò con cháu nhà Lê ở phía nam, lập ra triều đình riêng ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, để chống lại nhà Mạc. Đất nước chia ra thành hai miền: Nam triều và Bắc triều; hai bên đánh nhau trong năm sáu mươi năm trời. Nhà Lê nhờ có họ Trịnh giúp nên dứt được nhà Mạc, tưởng giang sớm thống nhất như cũ, ai ngờ họ Trịnh và họ Nguyễn lại sinh lòng ghen ghét, gây nên mối oán thù, rồi mỗi họ hùng cứ một phương, chia nưóc ta làm hai mảng: họ Nguyễn giữ xứ Nam, họ Trịnh giữ xứ Bắc. Từ đó giang sơn chia rẽ, Nam Bắc phân tranh. Nhà Hậu Lê từ khi Trung Hưng lên, con cháu vẫn giữ ngôi vua, nhưng quyền chính trị nằm cả trong ...

DANH NHÂN HỌ LƯƠNG

Hình ảnh
Trải bao dâu bể cơ trời. Tộc lương cũng góp bao người nổi danh. 90. LƯƠNG LONG: 梁隆 là người Giao Chỉ từng lãnh đạo Khởi nghĩa (178-181) tập hợp nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố chống lại chính quyền đô hộ Đông Hán (東漢, 25–220) . Lực lượng nghĩa quân lên tới hàng vạn người, liên kết với người Ô Hử (tổ tiên người Tày) ở biên giới Việt-Trung, người Choang ở Quảng Tây, nổi dậy đánh chiếm được các quận huyện và nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam. Thứ sử Giao Châu là Chu Ngung phải đóng cổng thành cố thủ và xin viện binh. Mùa hè năm 181 Đông Hán vương cử Lan Lăng, Chu Tuấn mang 5000 quân sang đánh dẹp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. 91. LƯƠNG ĐĂNG: 梁登 (? - ?), hoạn quan, người hiệu đính lễ nhạc thời Lê Sơ. Năm 1437, Nguyễn Trãi và Lương Đăng định nhã nhạc, nhưng ý kiến khác nhau, Nguyễn Trãi xin từ việc. Cuối năm đó, Lương Đăng soạn xong các loại nhã nhạc dùng trong tế giao, tế thái miếu, ngụ tự, khi có nhật thực và nguyệt thực,...

TỔ CHỨC, TƯỚC VỊ, CHỨC VỊ, KHOA CỬ thời Phong kiến

86. BỘ MÁY TỔ CHỨC : Các triều đại Việt Nam đầu tiên chưa hình thành nên các Bộ 部. Năm 1089, Lý Nhân Tông bắt đầu đặt các bộ nhưng chưa đủ. Đời Trần có các bộ đặt dưới quyền điều khiển của tướng quốc. Đầu thời Lê sơ, có hai bộ là Bộ Lại và Bộ Lễ . Đến đời Lê Nghi Dân (1459) triều đình nước Việt được tổ chức dựa theo hệ thống của Trung Hoa mới chính thức đặt đủ Lục bộ. Thời Lê Thánh Tông vẫn giữ nguyên và đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của hoàng đế. Các triều đại sau tiếp tục duy trì. Quan văn, quan võ được xếp theo 6 bộ 六部: Bộ Lại (吏部,giữ việc quan tước, phong tước, ân ban thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn) ; Bộ Lễ (礼部,giữ việc lễ nghi, tế tự, khánh tiết, yến tiệc, trường học, thi cử, áo mũ, ấn tín, phù hiệu, chương tấu, biểu văn, sứ thần cống nạp, các quan chầu mừng, tư thiên giám, thuốc thang, bói toán, tăng lục, đạo lục, giáo phường, đồng văn nhã nhạc); Bộ Hộ (岵部,giữ việc ruộng đất, nhân dân, kho tàng...

NGÀY MỞ ĐẤT

PL 1.4. Những hộ đầu tiên lập nên thôn An Phong -*- Số TT Họ và tên chủ hộ Quê quán ở Hải Phòng Nhân khẩu Ghi chú 1. Đặng Văn Nhỡ (*) Xã Chiến Thắng, An Lão 7 PCN HTX 2. Đặng Văn Thỏa 3 Cuối năm huyện điều sang làng Mạ, Trì Quang 3. Lương Đức Duẩn 8 4. Lương Đức Thân (*) 7 Kế toán 5. Lương Đức Dật (*) 8 6. Lương Đức Thông 6 1969 về quê 7. Đặng Thị Nguyên 3 Cuối năm về quê 8. Nguyễn Văn Ngà 6 1969 về quê 9. Bùi Văn Diêm (*) Xã Mỹ Đức, An Lão 5 10. Bùi Văn Đồng 4 Năm 1965 sang Sơn Hải 11. Phạm Văn Đế 3 Năm 1981 sang Xuân Quang 12. Phạm Văn Phước 5 13. Bùi Văn Kịch 3 Năm 1966 về quê 14. Phạm Văn Du (*) Xã An Thái, An Lão 6 Về và mất tại quê 15. Phạm Văn ỏng 5 Năm 1969 về quê 16. Phạm Văn Thùy Hộ độc thân Năm 1967 về quê 17. Phạm Văn Mậm 18. Ngô Văn ơn Chủ nhiệm, sau ra huyện 19. Bùi Văn Ngần Sang Trì Quang rồi đưa vợ con lên 20. Phạ...

Bàn về việc ĐẶT TÊN CON trong dòng tộc

Hình ảnh
Nghiên cứu kĩ về " Danh tính và vận số " thì ta biết rằng 族 Họ là 天運 Thiên vận, tên Đệm là 地運 Địa vận có tác dụng tới 總運 Tổng vận hay Vận khí 運氣 của danh tính. Trong khoảng 100 họ của người Kinh, dựa vào đặc điểm và loại hình nghĩa của chữ chỉ “Họ” trong cụm danh tính có thể chia ra : - Có ý nghĩa rõ ràng, như các họ Vương, Cao, Hà, Phạm... - Có ý nghĩa không cụ thể, như Hồ, Đặng, Tô... - Hình tượng cụ thể, như Lê, Lương, Dương, Hoàng... Họ ta vốn trước là Lương Công 梁公 , từ đời thứ Ba đổi thành Lương Đức 梁德 nên sẽ đi sâu vào phân tích ý nghĩa dịch lý của cặp họ-chữ đệm này. - Họ “ Lương ” ghi bởi chữ Hán là 梁 thuộc bộ Mộc 木 , với nghĩa là “ cây cầu, cái xà nhà ” , gồm 11 nét ( Thiên cách=11 ). Nếu theo ký tự Latinh sẽ là LUONG = 1+0+4+3+6=14 nên số lý = 1+4 = 5. - Tên đệm “Đức” chữ Hán là 德 thuộc bộ Sách 彳 và có nghĩa là “ Đạo đức, cái đạo để lập thân”, gồm 15 nét ( Địa cách =15 ). Nếu theo ký tự Latinh sẽ cho số lý của tên lót là: DUC = 3+0+2 = 5. Từ đây có ...

TƯỞNG NIỆM

Hình ảnh
Dòng họ Lương hiện sinh sống ở hay xuất phát từ Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng đều là hậu duệ của Cụ Lương Công Trạch 梁公宅. Cụ từ Đăng Lai, Tiên Minh, Hải Dương ( nay là Tiên Lãng, Hải Phòng ) một gánh “bên nồi, bên con” sang lập nghiệp tại đây vào năm đói loạn cuối thời Lê-Trịnh. Đời sau suy tôn cụ là Thượng Tổ, người khai sáng ra dòng họ Lương ở Cao Mật: 梁皋密肇祖. Trải gần 300 năm, qua 12 đời con cháu rải khắp từ Bắc vào Nam, từ xuôi lên ngược và đã có những đóng góp nhất định cho dân, cho nước, cho quê hương, dòng tộc qua mọi thời kì. Từ lâu, việc tưởng niệm công đức Tổ được tiến hành dưới nhiều hình thức và thực hiện vào ngày Rằm tháng Giêng. Đầu Thế kỉ XX con cháu đã dựng lên ngôi nhà gỗ Lim 3 gian dùng làm nơi thờ cúng tổ tiên nhưng đã bị giặc Pháp đốt cháy năm 1947 trong một trận càn lớn. Trong dịp Chạp Tổ Rằm tháng Giêng Kỉ Mão ( 1999 ) toàn họ đã nhất trí thực hiện việc xây Từ đường gần nền cũ. Kinh phí và công sức do con cháu mọi miền đóng góp và Công Đức tự nguyện. Tháng 3/1999 ...

CHÚC VĂN NGÀY GIỖ TỔ

Theo lời Trưởng tộc, Long văn của dòng tộc đã bị thất lạc, chỉ có bản Văn cúng hàng năm. Dựa theo bài khấn âm Hán Việt của phụ thân soạn năm 1990 trong dịp Giỗ Vọng Tổ lần đầu và mẫu văn cúng trong các tác phẩm bàn về phong tục Việt cũng như ý hiểu của bản thân, tham khảo một số bài văn tế Tổ của vài họ được biết và thực tế lịch sử dòng họ mà tôi soạn ra một số bài sau để dùng vào dịp 15/Giêng tại Lào Cai: 1. Bài âm Nôm soạn chung cho cả tộc: I .MỪNG HÔM NAY: Rằm Nguyên Tiêu khí sáng, trời xanh, Đất Phương Hạ rộn vui xóm ngõ. Ngắm núi Voi sừng sững linh thiêng, Nhìn sông Úc đôi bờ sóng vỗ. Con cháu tộc Lương, Từ mọi phương hướng về đất Tổ. II. THUỶ TỔ XƯA: Quê tổng Phương Lai, Hải Dương là lộ. Vừa sinh 2 con lại gặp cảnh điêu linh, Trịnh Nguyễn phân tranh, cơ đồ nghiêng ngửa. Thêm lụt lội, nhân cảnh tang thương, Đời đã cực lại càng thêm khổ. Đành một gánh từ bỏ quê hương, Dắt vợ con quyết tìm nơi dễ thở. Thấy bên tả sông Văn nước ngập, muỗi đầy, người vẫn còn thưa, Bèn sang đó đắp bờ t...

THƠ VỀ TỘC HỌ

PL.3.2. Bài thơ của Lương Đức Mến : 1. Ngày Giỗ Tổ Nhân Tết Nguyên Tiêu - Giỗ Tổ nhà Hướng vọng cội nguồn Lương tộc ta. Nén hương, trầu nước lòng tưởng niệm: “Hải Đức Sơn Công” đấng Khai cơ. Cháu con muôn nẻo lòng ngưỡng vọng, Về quê, nghinh Tổ, chúc ông bà. Tâm thành khấn vái cầu miêu duệ: “Hưng thịnh an lành mọi chốn quê”. 2.Ngày về Chim trời tìm đậu cành xưa, Con ong kiếm mật vẫn về tổ quen. Mưu sinh qua khắp trăm miền, Sang hèn từng trải, nỗi niềm chẳng nguôi. Giáp Thìn, Xuân ấy rời nôi [1] , Lên xây quê mới giáp nơi biên thuỳ. * Hôm nay về lại thăm quê, Vừa quen vừa lạ, bước đi ngập ngừng. Chốn xưa, người cũ...bâng khuâng, Riêng tình đồng tộc trào dâng nghẹn ngào. Từ đường dẫu chẳng to cao, Mà thiêng liêng thế, mà xao xuyến lòng. * Chi trên, ngành dưới ngóng trông: “Hậu duệ cụ Trính, gây dòng Lào Cai. Đường xa, tình thắm, nghĩa dài, Về đây góp sức khấn bài vọng chung”. * Ước gì hỏi được hoá công, Rõ tường nguồn cội để lòng vẹn thêm. * Xa rồi, vẫn nhớ chẳng quên: “Đất lành c...

Sơ lược về HẬU DUỆ CÁC CHI NGÀNH

Tuy Tổ sinh được 6 nam, nhưng chỉ 4 ngành là có hậu duệ truyền tới các đời 7,8... Còn 2 nam (1 và 3) không có con, cháu trai nên không còn hậu duệ [1] . I.8.1- Hậu duệ ngành Trưởng : I.8.1.1- Còn ở Quê : 1. Dòng gi ữ hương khói Tổ [2] 族長: Lương Đức Bầu (con Cụ Tuấn) sinh 4 Nam : Lộc, Giang, Thể,...Cụ Giang sinh 3 Nam là: Lượng, Tước, Lộ. Cụ Lượng sinh ra Cụ Thiện. Lương Đức Thiện sinh Lương Đức Rự; LĐR sinh Lương Đức Nghiễn. Vì Cụ Lộc không có cháu Trai nên Quan viên Họ quyết định Cụ Thiện (cháu cụ Giang) thừa tự thành Trưởng họ và cứ thế truyền cho đến 第八代族長 là LĐ Nghiễn. ĐT 031 3879 543. Con trai cả của LĐN là Lương Đức Kiện (Đời thứ Chín), ở quê [3] . 2. Họ 2 bên: Do tục “đổi dâu” nên hiện tượng họ đôi bên khá phổ biến ở thôn quê. Lương tộc-Đặng tộc-Phạm tộc-Đào tộc ở Chiến Thắng, An Lão cũng không ngoại lệ. Lương Đức Ngoãn (đời thứ 8) bố là Thê (kị 15/Chạp), mất sớm; mẹ là Đặng Thị Nguyên [4] , chị gái là Ngoan. 3 mẹ con lên Lào Cai từ 1964 nhưng về quê ngay năm sau, nhà cạnh ...