[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


29 tháng 10 2011

Mở đường khai phá Tây Nam Trung thổ

Hệ thống con đường tơ lụa (nguồn: BKTT mở)
Tuy Vân Nam mãi tới năm 1253 mới chính thức trở thành một tỉnh 云南等处行中书省 của Trung Quốc dưới thời Đế quốc Mông Cổ (Их Монгол Улс, 1206–1405) nhưng từ thế kỷ thứ II người Hán đã đặt chân đến đây. Người có công đầu khám phá vùng này, nối thông “Con đường tơ lụa” nổi tiếng chính là Trương Khiên (张张骞,164 tCn-114 tCn) dưới triều Hán Vũ Đế (漢武帝,140 tCn- 87 tCn).
Trương Khiên người Hán ở vùng nay là tỉnh Thiểm Tây 陕西 làm quan nhà Tây Hán (西漢, 206 tCn–9). Vì muốn tìm đồng minh khống chế Hung Nô (匈奴, các bộ lạc du cư ở khu vực Trung Á sinh sống ở khu vực thuộc Mông Cổ ngày nay), năm Kiến Nguyên thứ Hai (武帝建元二年, 139 tCn), Hán Vũ Đế cử Trương Khiên từ Lũng Tây (陇西, nay là Lâm Thao 临洮 thuộc tỉnh Cam Túc 甘肃) dẫn đầu phái đoàn gồm 100 người đi sứ sang phía Tây tìm người Nguyệt Chi (月支, hay Nguyệt Thị 月氏, người Trung Á 中西亚 cổ đại). Nhưng không may, trên đường đi, Trương Khiên đã bị người Hung Nô bắt và giam giữ, không bị giết. Tại đây ông lấy vợ, có con nhưng vẫn duy trì mối liên lạc với Hán Triều chờ cơ hội.
Sau 10 năm bị bắt, năm 129 tCn, lợi dụng lúc nội bộ Hung Nô xẩy ra nội chiến, Trương Khiên để lại vợ con, cùng với người thân tín trốn khỏi đất Hung. Họ người tiếp tục sứ mệnh thám hiểm và ngoại giao đã được Hán đế giao cho. Ông đem theo Chiếu thư ngoại giao đến các Vương quốc vùng Trung Á, Tây Vực (西域, hay Thích Tây 碛西, vùng Trung Á nay). Vượt bao trở ngại ông đã qua, tiếp kiến Quốc vương các nước: Xa Sư (车师, nay là Tân Cương) Đại Uyển (大宛,nay là Can nạp 干纳), Khang Cư (康居,nay là nước Nga),Đại Hạ 大夏,Ô Tôn 乌孙,Yểm Thái 奄蔡,An Tức 安息,Điều Chi 条支...Trải qua nhiều gian khổ, cuối cùng Trương Khiên đã tìm được người Nguyệt Chi (Đại Nguyệt Thị 大月氏)ở Thân Độc (身毒,hay Thiên Trúc 天竺,tức bắc Ấn Độ 印度 nay).Nhưng lúc này nội tình Nguyệt Chi có biến động không muốn cùng Tây hán chống Hung Nô và Trương Khiên bị người Hung Nô bắt lại vào năm 128 tCn.
Đến năm Nguyên Sóc Tam (元朔三年,126 tCn), lợi dụng Thiền Vu  匈奴单于mất, Trương Khiên thoát và về đến Trường An 长安 và phái bộ khi đó chỉ còn ông và 2 trợ thủ!.
Cuộc thương thuyết tìm liên minh bất thành nhưng thu thập được nhiều thông tin về vị trí địa lý, phong tục tập quán, sản vật, hàng hóa và đặc biệt là tiềm năng giao thương những vùng đất ông đã đặt chân tới. Tất cả những điều đó đều được ông ghi chép cẩn thận. Cuốn đó đã kích thích mạnh các thương gia Trung Hoa và cả vị hoàng đế tài ba, say mê củng cố nền cai trị và mở cửa ra bên ngoài. Do vậy Hán Vũ Đế cho tìm và mở đường theo hướng Tây Nam tới Ấn Độ.
Con đường 西南夷道 đó gọi là gọi là “Thục Quyên Độc đạo” 蜀身毒道, trong đó Quyên Độc 身毒 là tên gọi thời kỳ đó của nước Thiên Trúc (天竺,nay là Ấn Độ) còn Thục là nước Thục (, 221-264), thuộc tỉnh Tứ Xuyên 四川 bây giờ. Con đường này có tác dụng phát triển thương mại tại vùng biên cương Tây Nam. Đây chính là bước khởi đầu của “Con đường tơ lụa” (絲綢之路,bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh qua Mông Cổ, Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, xung quanh vùng Địa Trung Hải và đến tận châu Âu, về phía Đông đi đến cả Hàn Quốc và Nhật Bản) với tổng chiều dài khoảng 7 ngàn km sử dụng chủ yếu để buôn bán.
Sau đó vào năm 109 tCn tại khu vực này Hán Vũ Đế cho thành lập huyện Diệp Du, và đó cũng là khu vực thành lập đơn vị hành chính ở cấp huyện đầu tiên tại Vân Nam.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

26 tháng 10 2011

Vân Nam thời Lục Chiếu

Lược đồ vị trí các "Chiếu"
Có học giả Trung Hoa đã tổng kết về lịch sử của nước này: “合久必分,分久必合” (hợp cửu tất phân, phân cửu tất hợp). Đối với vùng Vân Nam cũng thế: Từ các bộ tộc lập nên Vương quốc rồi bị người Trung thổ cai trị, đến khi trung thổ gặp loạn lạc, các thủ lĩnh vùng biên viễn này nổi dậy cát cứ, đã ly khai với "Thiên triều", hình thành Lục chiếu (六诏, 649 –794).
Từ năm 618, nhà Đường đã đặt vùng Tây Nam Trung thổ thành các quận huyện nhưng buộc phải cho hưởng “quy chế ki mi” 羈縻 (cai trị ràng giữ, buông thả, duy trì để cho không đến nỗi tuyệt hẳn đối với các vùng đất xa kinh đô). Khi nhà Đường suy, Trung Quốc lại rơi vào kỳ phân rã và ở miền Nam các thế lực cát cứ mải tranh giành lẫn nhau, các châu huyện vùng Tây Nam do các hào trưởng chiếm cứ đã nổi dậy, vượt tầm kiểm soát của triều Đường.
Theo Sử cũ thì khi đó người Ô Man 烏蠻 tiến bộ hơn và thu phục Bạch Man 白蛮, đã nổi dậy, mỗi bộ lạc là một tiểu quốc riêng biệt, được gọi là "chiếu" 诏 và vùng này từng có 6 chiếu nên lịch sử gọi là Lục chiếu (六诏, 649 –794). Đứng đầu mỗi “Chiếu” là một ông Vương 王 hay Thủ lĩnh 首领 được Đường triều phong chức Thứ Sử 刺史 và không chiếu nào chịu chiếu nào nên thường xẩy ra giao tranh, kéo dài 145 năm (649-794). Trước khi hợp nhất thành Nam Chiếu, 5 “chiếu” khác vào năm 628 đã phụ thuộc nhiều vào Thổ Phồn (吐蕃,TK 6-TK9), riêng Mông Xá Chiếu vẫn nương nhờ Đại Đường và mạnh lên thôn tính 5 “chiếu” kia.
Các "chiếu" quanh hồ Nhĩ Hải 洱海 thời đó là:
1. Mông Huề 蒙嶲诏, tại Nguy Sơn 巍山, Bắc Bộ 北部 đến Dạng Tị 漾濞(nay là huyện Dạng Tị)ở vùng trung tâm Lục Chiếu. Nhà Đường lập châu Dương Qua 阳瓜, lấy thủ lĩnh Mông Huề chiếu nối đời làm Thứ Sử 刺史, là: Huề Phụ 雟辅,Dương Chiếu 阳照, Chiếu Nguyên 照原. Sau Bì La Các 皮逻阁, Thủ lĩnh Nam Chiếu giết Chiếu Nguyên, đuổi Nguyên La 原罗 nhập chiếu Mông Huề vào Nam Chiếu 南诏.
2. Việt Thác (Việt Tích) 越析诏, còn gọi là Ma Ta chiếu 麽些詔 của bộ lạc Ma Ta ở vùng Phượng Nghi 鳳儀 đến Tân Xuyên 賓川 (nay là huyện Tân Xuyên, Phong Nghi 风仪) ở phía Đông Lục Chiếu. Triều Đường gọi là châu Việt Tích, phong thủ lĩnh nối đời thế tập chức Thứ Sử châu này. Sau sự biến “ngoại tình” của vợ thủ lãnh với Tầm Cầu 寻求, nội bộ lục đục, phải chạy tới Long Khư Hà 龙佉河 lập ấp mới rồi bị Nam Chiếu thôn tính.
3. Lãng Khung 施浪诏 tại Nhị Nguyên 洱源 ở vùng Tây Bắc Lục Chiếu (nay là huyện Nhị Nguyên). Thủ lĩnh cũng đước nhà Đường phong Thứ sử, trải: Phong Thời 丰时, La Đạc 罗铎, Đạc La Vọng 铎罗望, Vọng Thiên 望偏, Thiên La Sĩ 偏罗俟, Sĩ La Quân 俟罗君. Thất bại trước sự tấn công của Nam Chiếu rút về Kiếm Xuyên 剑川, đổi thành Kiếm Lãng 剑浪 rút cục vẫn bị diệt, nhập vào Nam Chiếu.
4. Đằng Đạm 邆赕诏 tại Đặng Xuyên 鄧川, phía tây Lục Chiếu (nay là huyện Đặng Xuyên). Nhà Đường đặt châu Đằng Bị 邆备州 với các Thứ Sử nối nhau thế tập là: Phong Mị 丰咩, Mị La Bì 咩罗皮, Bì La Đạm 皮罗邆, Đàm La Điên 邆罗颠, Điên Chi Thác 颠之托 rồi bị Nam Chiếu thôn tính.
5. Thi Lãng 施浪诏 ở huyện Thanh Tác 青索,Đông Bắc Lục Chiếu (nay là huyện Nhị Nguyên 洱源, Thanh Tác). Đường triều đặt châu Xá Lợi 舍利, đặt chức Thứ sử do Thi Lãng 施浪 thế tập. Bị Nam Chiếu tấn công, phải lui về Vĩnh Xương 永昌, sau rút tiếp sang nhờ Thổ Phồn 吐蕃 đất đai nhập vào Nam Chiếu.
6. Mông Xá 蒙舍诏 tại Nguy Sơn 巍山. Nơi đây ở phương Nam (nay là huyên Nguy San) so với các chiếu kia nên gọi Nam Chiếu 南詔. Thời Đường Cao Tông (高宗, 649-683), ngoại trừ chiếu Mông Xá ra thì 5 chiếu còn lại đều bị Thổ Phồn chinh phục. Năm 713, Huyền Tông 玄宗 phong thủ lĩnh Nam Chiếu là Bì La Các chức Quận vương 郡王, đặt tên là “Quy Nghĩa” 归义. Tháng 2 năm 729, Đường đánh bại Thổ Phồn, 5 “chiếu” kia bị Mông Xá kiêm tính, lập ra Nam Chiếu vào năm 738.
Chính Nam Chiếu (南诏, 738 – 902), trong thời cường thịnh, đã từng xâm lấn, uy hiếp Đại Việt nhiều lần, đặc biệt là vùng Thủy Vĩ, Chiêu Tấn (đất Lào Cai nay) được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Còn ảnh hưởng của Lục Chiếu thế nào chưa tìm thấy tư liệu.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

25 tháng 10 2011

"Nghe rừng lắm đất lên đây với rừng"

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), ngày 12/11/1961 Hội nghị đại biểu BCH tỉnh Đảng bộ 2 tỉnh Kiến AnLào Cai đã ra Nghị quyết về việc kết nghĩa toàn diện giữa 2 tỉnh, trong đó có việc “phối hợp điều hòa nhân lực và phát triển kinh tế giữa hai tỉnh” với 5 năm (1961-1965) vận động 8-9 vạn nhân dân Kiến An lên Lào Cai[1]. Chủ trương này của Đảng và của 2 tỉnh được nhân dân hưởng ứng và một số gia đình họ Lương gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng đã lên lập nghiệp, mở ra phái Lương Đức Lào Cai ngày nay.
Đầu những năm 1960, trong những năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ Nhất, Chiến Thắng chủ yếu khai hoang nội xã tại Kim Côn[2], chưa có hộ nào lên Lào Cai, kể cả đợt dân An Lão đi nhiều trong năm 1962. Người dân Chiến Thắng (trong đó có con cháu Lương tộc) rời quê lên Lào cai đợt đầu là vào tháng 02/1964. Sau này, nhiều người con của Lương tộc đã lên từng đợt rải rác đi tự do trong các năm 1967, 1971. Các hộ này tập trung chủ yếu ở các xã Phong Niên, Xuân Quang, Trì Quang, Phố Lu, Sơn Hải thuộc huyện Bảo Thắng.
Trong đợt tháng 02/1964, sau khi khảo sát, thành uỷ Hải Phòng[3] đã lấy 19 hộ, 99 khẩu thuộc 3 xã của An Lão lên Phong Niên, Bảo Thắng, Lào Cai khai hoang lập ra HTX An Phong. Trong đó xã Chiến Thắng (đều ở làng Hương tức thôn Phương Lạp[4]) có 9 hộ, là: Lương Đức Duẩn (8 khẩu), Lương Đức Thông (6 khẩu), Lương Đức Thân (7 khẩu), Lương Đức Rật (Dật, 8 khẩu), Lương Đức Thiếp (7 khẩu); họ Đặng Văn Nhỡ (7 khẩu, Đặng Văn Thoả (5 khẩu), Đặng Thị Nguyên (3 khẩu), Nguyễn Văn Ngà (5 khẩu). An Thái có 5 gia đình, một số hộ độc thân (Ơn, Mậm,Dâng, Ngần) thành 23 khẩu. Mỹ Đức có 5 gia đình gồm 20 khẩu. Trong các gia đình từ làng Hương ra đi có 2 cặp anh em ruột là Thân-Dật, Nhỡ-Thỏa đồng thời đây cũng là những con cô con cậu. Gia đình mẹ con Đặng Thị Nguyên, gia đình Lương Đức Thiếp thì họ cả 2 bên! .
Từ trước Tết Giáp Thìn, mọi công việc đã chuẩn bị xong: lãnh đạo HTX trên quê mới được đặt là “AN PHONG”[5]; Đặng Văn Nhỡ được chỉ định là Phó Chủ nhiệm, Lương Đức Thân là Kế toán; đất ruộng trả lại Hợp tác; vườn, nhà và đất ở các gia đình nhượng lại cho anh em trong họ. Sau Tết một số thanh niên (Lương Đức Hỗ, Lương Đức An, Đặng Thị Cầm, Nguyễn Thị Chuốt) đã lên trước để phát đường, dựng lán.
Ngày 16 tháng Giêng, tức thứ Sáu 28/02/1964, Ban Khai hoang Thành phố đưa ô tô về Quán Hương đón các hộ ở Chiến Thắng. Các gia đình ra đi vào  mang theo toàn bộ gia sản vốn chẳng nhiều nhặn gì. Người trong họ, ngoài làng tiễn đưa rất đông. Từ Hải Phòng lên Hà Nội thay đầu máy rồi lên ga Lào Cai. Trên tầu các gia đình được xếp chung một toa và không phải chuyển tầu. Tới ga Phố Lu, hộ Lương Đức Thiếp xuống ga và theo đường bộ vào Bắc Ngầm để xuống Thái Vo thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng
Các gia đình còn lại theo tầu tới chiều tối 01/3 đến ga Lào Cai[6]. Tất cả được đưa về nghỉ tại Nhà trọ bên Phố Tèo[7], gần ngay đầu cầu Kiều. Tiếng là phố nhưng nền, tường nhà đều bằng đất, có sàn lửng làm tầng để ngủ. Đây là phố cổ, nằm dọc biên giới ở bờ Đông-Nam sông Nậm Thi và hồi ấy đa số là người Hoa làm ăn, sinh sống. Cầu Kiều[8] bắc qua sông Nậm Thi sang Trung Quốc ở gần Đồn Biên phòng và cạnh nhà Trọ, phía đầu cầu bên ta có câu Thơ của Hồ Chí Minh viết rất to trên tường: “Mối tình Hữu nghị Việt –Hoa, Vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Phía đối diện là thị trấn Hà Khẩu 河口 thuộc tỉnh Vân Nam 云南 nước bạn.
Sau này, tôi được biết, lịch sử đã chứng tỏ rằng sự ảnh hưởng 2 mặt của vùng đất Nam Chiếu, Điền, Đại Lý xưa hay Vân Nam sau này với Lào Cai là rất lớn. Tx Lào Cai là nơi Nậm Thi giao lưu với Hồng Hà. Cầu Cốc Lếu (gốc cây Gạo) nối 2 bờ sông Hồng ngày ấy còn là cầu treo[9] đã từng mang tên gợi một thời ai oán- cầu “Giời ơi”:
Ai đưa tối đến chốn này,
Bên kia Cốc Lếu, bên này Lào Cai.
Sau 2 ngày Ô tô tải của tỉnh đưa về Phong Niên theo QL 4 (đường 70 sau này)[10]. Đường đất, chỉ có 2 vệt bánh xe là nhẵn, còn giữa cỏ mọc, hai bên cây rừng phủ rợp bóng. Chiều, đến Km 37[11] số thanh niên tiền trạm và chính quyền địa phương ra đón. Các gia đình được chia ra ở tạm trong mấy gia đình họ Mồ, họ Vàng[12] người Nùng ở phía bên trái đường, lối vào cạnh cột mốc. Đây là địa bàn thôn Cốc Sâm. Các gia đình này đã được quán triệt, vận động trước và lại ở ngay cạnh được Quốc lộ nên cũng tiến bộ nhiều do đó đón tiếp đồng bào khai hoang  không e dè sợ bị chia đất, cai trị như một số nơi.
Các ngôi nhà người Nùng 2 mái lợp tranh, tường, nền đất không có cửa sổ nên rất tối nhưng nhà rộng, đủ chỗ chứa 2, 3 gia đình khai hoang. Cán bộ dặn kĩ người mới đến không được ngồi ở ngưỡng cửa quay lưng vào. Bàn thờ và trước cửa treo giấy đỏ viết chữ Nho. Quanh nhà trồng nhiều ổi, chuối mà chỉ thấy chuối lốp quả rất to. Không có ao và cũng chẳng thấy giếng. Nước ăn được đựng trong các ống bương có tay xách bằng cành hay buộc dây do phụ nữ lấy và vác từ suối về. Họ không dựng bếp riêng mà đun nấu ngay trong nhà, lúc nào bếp (kiềng bằng gang) cũng có cây củi to âm ỉ để giữ lửa. Lợn gà thả rông. Kể cả trâu cũng thả trên rừng, mỗi con đeo một chiếc mõ bằng gỗ hay tre ở cổ luôn khua lách cách theo bước đi hay các lắc đầu của trâu, tối về gia chủ cho ăn muối, sáng ra lại thả trên rừng, khác lạ là có cả trâu trắng. Khi bừa dùng trâu kéo bừa nằm 2 hàng răng bằng gỗ, người bừa đứng lên lấy sức nặng đè đất và chỉ huy trâu chứ không phải bừa đứng răng sắt như ở xuôi. Riêng ngựa được chăn và tối cho vào chuồng đóng dóng, ăn cỏ thái ngắn và ngô hạt, dao thái cỏ lớn hơn dao thái thuốc lào ở quê. Mỗi nhà có tới 5,7 trâu, 1-2 ngựa và rất nhiều chó. Ngựa chủ yếu dùng thồ hàng hay đi chợ. Lúa nương gặt về từ trong năm bó thành từng cum, xếp một ít trên gác, khi cần dùng ăn đưa xuống vò lấy thóc đem cối giã gạo bằng sức nước đầu xóm để giã[13]. Còn phần lớn các cum lúa đều để tại kho trên nương. Nương ở rất xa và đều có lán để nghỉ trưa và đôi khi cả ngủ đêm để canh nương và đỡ tốn công đi lại. Trong nương ngô trồng kèm cả bí đỏ, đu đủ; cạnh nương lúa có trồng mướp, đậu đũa (khác với giống cây ở xuôi).
Gạo nương dẻo, thơm, ăn với thức ăn khô rất ngon nhưng nếp nương không dẻo và thơm bằng nếp cái. Họ dùng lá rừng trộn với gạo nếp đồ xôi mầu trong chõ gỗ trông rất đẹp. Khi đi làm, đi săn, đi đâu người dân cũng kè kè con dao (kể cả phụ nữ) bên hông và khẩu súng. Súng là súng kíp, ban đêm họ buộc đèn ló trên trán để soi đường và rọi tìm thú. Có buổi săn được lợn rừng họ mời cả đồng bào khai hoang cùng ăn. Người Nùng theo chế độ phụ hệ, đàn ông là chủ, giao tiếp với bên ngoài, biết tiếng Kinh; phụ nữ làm mọi việc suốt ngày (làm nương, lấy củi, vác nước, nấu ăn…), chỉ ở nhà trong, ít giao tiếp, ít nói được tiếng Kinh, phần nhiều phải ra hiệu bằng tay.
Đám trẻ nhỏ mau quen với nhau, dạy tiếng và trao đổi nhau về các trò đánh gụ, đánh quay, đánh khăng, đánh đáo, chơi ô hay nướng sắn, nướng ngô, làm cơm lam và một số từ thông dụng. Đồng bào còn hướng dẫn người khai hoang đi ruốc cá. Người ta dùng đá, sỏi ngăn một đoạn suối, sau đó hái lá cơi giã nát và thả xuống suối, cá bị say, lờ đờ chỉ việc vợt và bắt đem chia nhau. Suối nhỏ và nông nên ở đây không có chài, lưới. Để đưa nước về ruộng và về nhà, người ta đắp phai ở suối để nước dâng cao, đào, xẻ mương dọc sườn đồi hay dùng tre, nứa đục thông đầu mặt để làm lần dẫn nước. Khi thu hoạch lúa, người ta dùng phên nứa, cót che xung quanh và đập và cái phang bằng gỗ lấy thóc, rơm đốt thành tro bón ruộng mà không thu để đun, cho trâu ăn như ở xuôi. Cả xã chỉ có 1 HTX mua bán ở Km 33 thuộc thôn Cốc Tủm, không chợ, không người bán hàng xén như ở xuôi. Do vậy cần bán đổi hay muốn mua sắm gì người dân lên Tx Lào Cai, ra Phố Lu hay vào Bảo Nhai. Trai đi ngựa, phụ nữ ít đi và nếu có chỉ là đi bộ.
Một tuần sau, khi lều lán mà số thanh niên (An, Nhật, Cầm, Reo, Chuốt...) lên trước dựng xong, các gia đình bồng bế nhau qua một tràn ruộng, lội qua một con suối, vượt một quả đồi mọc đầy chuối rừng, nứa, cây, dây cỏ dại vào La Cà Bốn[14]
Tạm yên chỗ, Lương Đức Thông có viết thư về chuyến đi gửi về quê cho họ mạc : 
Đường đi trăm núi, nghìn trùng,
Bốn trăm cây số tới vùng Lào Cai.
Huyện Bảo thắng vừa dài, vừa rộng,
Xã Phong niên dằng dặc núi rừng
Đến La Cà Bốn lập vùng khai hoang[15]...
Cuộc sống trên quê mới của những người thuộc Lương tộc và các gia đình trên đất An Phong bắt đầu.
Cuộc ly hương này giống tiền nhân ở chỗ đều là những người kiên gan, đi tìm đất mới vì sinh kế. Nhưng khác với cuộc đi mở cõi về phía Nam của người dân Trung-Bắc hồi thế kỉ XVI-XVIII và của Tổ Lương tộc đến Cao Mật hồi thế kỉ XVIII là những cuộc di dân phần lớn tự do, dân đến lập ấp, lập làng rồi nhà nước mới quản lý. Còn cuộc khai hoang của người dân An Phong là vì sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa miền núi do Nhà nước chỉ đạo, có kế hoạch và tên làng do lãnh đạo định từ quê gốc, có từ khi họ chưa đặt chân đến vùng đất mới.
-Lương Đức Mến, thế hệ thứ Hai trên Tân quê-

[1] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lào Cai 1954-1975. 
[2] Đây là một thôn năm ở Tây Bắc xã, giáp với Tân Viên qua sông Đa Độ. Sau ngày đình chiến 1954, nhiều hộ dân, nhất là những người theo công giáo ở thôn này đã di cư vào Nam, bỏ đất hoang khá nhiều.
[3] Việc hợp nhất Hải Phòng- Kiến An thành thành phố Hải Phòng được thực hiện bởi Nghị quyết tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II họp ngày 27/10/1962.
[4] Năm 1966 nhập với Mông Tràng Hạ thành Phương Hạ.
[5] Tên ghép chỉ người AN Lão lên khai hoang ở PHONG Niên.
[6]  Ga cũ,  sau 1995 nơi đây thành bãi kiểm hoá Cửa khẩu. Thực ra từ "Lào Cai" chẳng có ý nghĩa gì, đó chẳng qua là những chữ được dịch qua, dịch lại khi người phương Tây đến cai trị đã latin hóa tên Hán Việt: từ xưa nơi đây đã có chợ, có phố, có đường nên khi người Hán sang gọi là "Phố cũ" (老 街) mà theo âm Hán-Việt là "Lão Nhai",. Người Pháp đến, do không phát âm được các thanh có dấu nên ghi  thành Lao Kay, sau này thời dân chủ ghi là Lao Cai. Sau này chính thức mang tên Lào Cai.
[7] Nay là phố Phạn Bội Châu, nơi có Đền Thượng thờ Trần Hưng Đạo  nổi tiếng.
[8] Cây cầu này đường bộ, đường sắt đi chung, xây từ 28/3/1898, bị phá trong CT 2/1979 đến năm 1993 mới khôi phục  ( dịp khơi thông mở lại Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai ngày 18/5/1993).
[9] Đến 1966 mới xây cầu vĩnh viễn và bị phá 2/1979. Sau xây lại, khánh thành ngày 01/5/1995
[10] Đoạn Tx Lào Cai đến Km 9 bị bỏ từ 2/1979 đến 1993.
[11] Khi đường QL4 được TQ giúp nâng cấp, nắn lại năm 1966 thì đó là Km 36.
[12] Có gia đình trở về TQ trong CMVH năm 1966.
[13] Chiếc cối và khu rừng đặt cối sát cạnh phía bên phải đường đã bị mất hết dấu tích từ 1980, Từ 2004 là khu vực dừng chân của Công ty xây dựng Trạm Thủy điện Cốc Ly. 
[14] Đúng ra tên địa phương nơi  đây  là Na Cà Lao Bổn - tức khu ruộng nhiều cây bon,  song do các cụ ta nói “ngọng” giống như số đông người đồng bằng nên viết thành La Cà Bốn !. Từ QL4 ( Km 36+200) vào có lối mòn qua 01 cối giã gạo nước, lội suối và vượt qua một đồi quả cây cối,  chuối rừng mọc um tùm. Con đường này,  qua mấy lần chuyển dịch,  từ sau năm 1979 đã bỏ. Con đường vào thôn hiện nay  mới mở năm 1980, nâng cấp để ô tô vào được năm 2005, hoàn thành Xuân Bính Tuất 2006.
[15] Hồi đó tôi còn nhỏ, mới học dở lớp 2 vẫn được bác đọc cho chép. Nay chỉ nhớ được có thế.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thời điểm họ Lương đến Nam, Thanh thuộc Đại Việt lập nghiệp

Người kiến lập triều Trần
Theo Gia phả Lương Cao Hương và Lương Hội Triều thì vào thế kỷ XIII, khi người Mông Cổ diệt nhà Tống, cai trị Trung Quốc là thời kỳ mà họ Lương từ Chiết Giang 浙江 bên Bắc quốc chạy lánh nạn sang Đại Việt cư ngụ tại Thiên Trường và Thanh Hoa. Tương ứng giai đoạn đổi triều này của bên Tầu thì bên Đại Việt[1] 大越 cũng có sự đổi ngôi từ họ Lý sang họ Trần.

Thay nhà Tiền Lê (前黎氏, 980 - 1009), nhà (李朝, 1009 - 1225) với người khởi đầu là Lý Công Uẩn (李公蘊, 974–1028) là một Vương triều hiển hách trong Việt sử, tồn tại tổng cộng là 216 năm. Đây là Vương triều đã nhiều lần cất binh sang tận đất Tống thảo phạt (1022, 1059, 1060) đặc biệt là chiến công của Lý Thường Kiệt (李常傑, 1019–1105) từng làm cỏ châu Khâm, Liêm, Ung vào 12/1075, 01/1076 nhằm bảo vệ biên cương phía Bắc. Chính triều đại này từng Nam tiến đánh tan quân Chiêm (1069, 1075 và 1104), kéo dài cương thổ tới sông Thạch Hãn (Quảng Trị), sát nhập khu vực Hà Giang (1014); vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Bạch (Thái) ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai (1159) vào bản đồ Đại Việt. Nhưng do những vị Vua sau, như: Lý Anh Tông (李英宗, 1138-1175), Lý Cao Tông (李高宗, 1173–1210) bất tài nên triều đại này suy tàn dần rồi mất khi vua nữ Lý Chiêu Hoàng, khi đó 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (陳煚; 1218 –1277) vào năm 1225.
Trong loạn Quách Bốc (郭卜, ?-?) năm 1209 - 1210 thời Lý Cao Tông (李高宗, 1173–1210) vì có công dẹp loạn và tôn phò thái tử Lý Sảm 李旵 nên họ Trần (gốc làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) được trọng dụng và tham gia chính trường. Những người thuộc Trần tộc được trọng dụng có: Trần Thừa (陳承, 1184 – 1234), Trần Thủ Độ (陳守度; 1194-1264, Trần Tự Khánh (陳嗣慶, 1175 - 1223), Trần Thị Dung (陳氏庸, ?-1259). Năm 1224, Trần Thủ Độ (em họ của Trần Thừa và Trần Tự Khánh) ép Huệ Tông (李惠宗, 1194 – 1226, có vợ là Trần Thị Dung và con gái tên là Phật Kim 佛金) lên làm Thái thượng hoàng để nhường ngôi cho Phật Kim (Công chúa Chiêu Thánh 昭圣公主) khi đó mới lên 7 tuổi lên làm vua, tức Lý Chiêu Hoàng (李昭皇, 1218-1278). Sau đó ông đưa con Trần Thừa là Trần Cảnh 陳煚 8 tuổi, vào hầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để chuyển ngai. Trần Cảnh lên ngôi, lập ra triều Trần và ông vua đầu tiên này tại vị 33 năm (1225 – 1258) và 19 năm là Thái Thượng hoàng (1258-1277) sau có Miếu hiệu là Trần Thái Tông 陳太宗. Như vậy, Lý Chiêu Hoàng là vị vua thứ 9 và là cuối cùng của nhà Lý để từ đó Đại Việt có chủ mới là nhà Trần. Đồng thời, nếu không tính đến Hai Bà Trưng thì Chiêu Hoàng là Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam.
Đây là một điển hình về việc “đảo chính Cung đình” thành công mà không đổ máu, mở ra một triều đại mang hào khí mới - "Hào khí Đông A" (東阿 = 陳) rạng danh trong sử Việt!.
N Trần (陳朝, 1225 - 1400) từng có một thời đại rất hưng thịnh, đã từng đại phá quân Nguyên (, 1227-1368) từng được mệnh danh bách chiến bách thắng tới ba lần (vào các năm 1258, 1285 và 1288) cũng như bình được Chiêm Thành, mở mang bờ cõi (vùng châu Ô, châu Rí ở phía Nam, thiết lập chủ quyền tại các vùng “đệm” ở Tây Bắc); dẹp loạn trong nước (người Mường ở Quốc Oai, Đoàn Thượng ở Đường Hào, Nguyễn Nộn ở Phù Đổng…). Đây cũng là triều đại mà mối bang giao gắn với 3 triều đại kế tiếp và hùng mạnh, hiếu chiến của Trung Quốc là Tống (宋朝,  Song, 960-1127), Nguyên (, Yuan Dynasty, Dai Ön Yeke Mongghul Ulus, 1227 - 1368) và Minh (, Ming, 1368 - 1644). Nhưng sau vương triều này sụp đổ cũng bởi nạn ngoại thích và Đại Việt chuyển thành Đại Ngu do họ Hồ (胡朝,1400 - 1407) cai quản. Để rồi đất nước rơi vào thời kỳ thuộc Minh (明朝屬時代, 1407-1427) và phải 20 năm sau mới giành lại độc lập với Vương triều Hậu Lê (後黎朝, 1428 - 1788).
Chính dưới triều đại Hậu Lê dài nhất lịch sử Việt đã xuất hiện những ngôi sao sáng chói mang tộc danh Lương 梁族, vốn là hậu duệ của anh em nhà họ Lương tới lập nghiệp tại lộ Thiên Trường, trấn Thanh Hóa thời sơ Trần, là: Trực học sĩ Viện Hàn lâm Trạng nguyên Lương Thế Vinh (梁世榮, 1440 - ?), Thượng thư bộ Lại Trình Quốc công Bảng nhãn Lương Đắc Bằng (梁得朋, 1472 - 1522), Đạt Quận công Lương Hữu Khánh (梁有慶, 1517 – 1590)...Đây là những vị Thủy tổ của nhiều chi phái họ Lương trên toàn cõi Việt Nam ngày nay.
Nước Đại Việt thời Lý-Trần là một quốc gia dân tộc độc lập có chủ quyền. Lãnh thổ Đại Việt về đại thể là vùng Bắc Bộ và một phần Trung Bộ ngày nay. Phía đông có biển và các hải đảo; phía bắc tuy còn có những động mà sự ràng buộc của triều đình chưa chặt chẽ  những đã xác định chủ quyền chung biên giới với Trung Quốc ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây), lúc đó thuộc nhà Tống và nhà Nguyên; Tây Bắc giáp với vương quốc Nam Chiếu (Đại Lý) ở vùng Vân Nam; phía tây giáp lãnh thổ các bộ tộc Lão Qua, Chân Lạp; phía nam đã qua Hoành Sơn kéo xuống đến Thạch Hãn (Quảng Trị) sau tới Thu Bồn (Quảng Nam) giáp vương quốc Chăm Pa (Chiêm Thành).
Như thế, nước mất, anh em họ Lương từ vùng ven biển Đại Tống (大宋, 960-1127) di cư xuống phía Nam nương đất Đại Việt ở vùng Thiên Trường và Thanh Hóa cũng là thời kỳ mà Nam quốc “thay triều đổi ngôi” bằng một cuộc "đảo chính cung đình". Một sự trùng hợp và nó có vai trò như thế nào tới sự phát triển của dòng họ?
Đã ai nghiên cứu vấn đề này chưa?

[1] Là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý. Nó ra đời năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày mới tắt. Nó tồn tại không liên tục bởi triều Hồ (1400-1407). Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn thắng, Bắc Bình vương lên ngôi (1428), lấy lại tên nước là Ðại Việt và lãnh thổ nước ta lúc này về phía Nam đã tới Huế. Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1802).

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

24 tháng 10 2011

Hậu Điền Quốc đến tiền Lục Chiếu

Khi Vương quốc Điền bị diệt vong, triều Hán cai trị vùng này nhưng sau đó lại bị thị tộc Thoán đến từ Trung Á cai trị rồi vùng Điền lại nội thuộc Trung nguyên dưới thời Đường.Sau đó là giai đoạn cát cứ với 6 tiểu quốc (Lục Chiếu), tiền đề cho sự ra đời của Nam Chiếu, Vương quốc vang bóng một thời.

1. Nội thuộc Hán :
Sau khi diệt Điền quốc, người Hán cai trị 汉朝治滇历史 ban đầu đặt quận: Ích châu 益州郡 sau tới Đông Hán gọi là Vĩnh Xương 永昌郡.Cũng có khi hợp với Ai Lao 哀牢 hoặc xưng tiểu quốc Bạch Tử 白子国, Kiến Trữ 建宁国
Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, bò, ngựa, cừu, dê, lợn và chó. Các nhà nhân loại học đã xác định là những người này có quan hệ họ hàng gần với những người mà ngày nay gọi là người Thái 蔡族. Họ sinh sống theo bộ tộc, đôi khi được những người Hán bị lưu đày đứng đầu.
Đến thời Tam Quốc (三國, Sanguo, 220-280) đây là đất Châu Trữ 宁州 và cũng là thời mà Thừa tướng 丞相 Khổng Minh Gia Cát 诸葛亮 giúp Lưu Bị dựng nước Thục 蜀国 cầm quân đánh vào Nam Trung[1] 南中 (Vân Nam) để chinh phục quân của Mạnh Hoạch 孟获 và các sắc tộc mạn Nam Trung cũng chính là các dân tộc tiền thân của nước Nam Giao...Nhờ hậu cứ Nam Trung cung ứng quân lương mà Gia Cát Lượng đã gây dựng lực lượng để thực hiện việc tiến đánh Bắc Ngụy hầu tái lập nhà Hán. Nhưng bởi nhiều nguyên do, sự nghiệp bất thành để rồi họ Tư Mã soán ngôi nhà Ngụy, dẹp Đông Ngô và Tây Thục, thống nhất được Trung Hoa để  dựng lên nhà Tấn (,280-420) sau đó.
2. Tộc Thoán cai trị:
Vào thế kỷ 4, trong thời “Ngũ Hồ loạn Hoa” (五胡, năm dân tộc Hồ làm loạn Trung Hoa, từ năm 304 đến 439) miền bắc Trung Quốc chủ yếu bị những bộ tộc từ Trung Á tràn sang. Vào thập niên 320, thị tộc Thoán đã di cư tới Vân Nam. Thoán Sâm (Cuan, 爨琛) tự xưng làm vua và duy trì quyền lực tại Điền Trì (khi đó gọi là Côn Xuyên 昆川, nay là Tấn Trữ 晋宁). Trong đó:
Tây Thoán 西爨 cai quản: Côn Xuyên 昆川, Khúc Ách 曲軛, Tấn Trữ 晉宁, Dụ Hiến 喻獻, An Trữ 安宁, Chí Long Hòa 至龍龢. Tây Thoán về sau gọi là Ô Man 烏蠻.
Còn Đông Thoán cai quản: Tại Khúc Tĩnh 曲靖, lộc xuyên 瀰鹿, Thăng Ma Xuyên 升麻川, Nam Chí Bộ Đầu 南至步頭, gọi là Bạch Man 白蠻
Thị tộc này đã cai quản vùng Vân Nam trên 400 năm, đến 748 chấm dứt.
3. Thời kỳ thuộc Đường:
Thế kỷ VII, trong Trung thổ, sau thời loạn lạc, Đường Cao Tổ (高祖李淵, Gāo Zǔ Lǐ Yuān, 566-635) thống nhất lại Trung Hoa để lập nên nhà Đường (唐朝, tángcháo; 618 – 907) vào năm 618, gọi vùng Tây Nam Trung thổ là Nam Ninh 南宁州,Diêu Châu 姚州 rồi Nhung Châu 戎州 (quận Vân Nam 云南郡) quản 13 châu ki mi 羈縻[2]. Đường Huyền Tông 唐玄宗 lập Phủ Đô đốc 都督府 quản 16 châu, 137 huyện sau tăng 92 châu.
Riêng địa bàn của người Bạch, người Di là hai sắc tộc chính của khu vực Nam Giao quanh hồ Nhĩ Hãi thuộc tỉnh Vân Nam hiện nay vẫn thuộc dạng tự trị, người Nam Giao ít bị sự điều khiển trực tiếp của người Hán. 
Trong các thời kỳ trên (thế kỷ II đến thế kỷ VII) vùng Tây Nam Trung Hoa này liên quan thế nào đến Lào Cai và Tây Bắc Việt Nam chưa tìm thấy tư liệu.

[1] Bao gồm: lãnh thổ của Vân Nam , Kiềm Tây 黔西 và miền nam Tứ Xuyên ngày nay.
[2] Hình thức cai trị ràng giữ, buông thả, duy trì để cho không đến nỗi tuyệt hẳn đối với các vùng đất xa kinh đô.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn “Lốc” ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão và từ 07/2025 là xã An Hưng, thành phố Hải Phòng (SSN)- Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai và từ 07/2025 là phường Lào Cai tỉnh Lào Cai (SSN)

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với “Ẩn danh”.
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!