Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 1 3, 2010

Tìm hiểu về Phật lịch

Hình ảnh
Bà con họ ta trước kia đa phần theo Phật giáo, nay trong Lý lịch tuy ghi tôn giáo: “không” nhưng tập tục nghiêng hẳn về nghi lễ nhà Phật nên cần biết Phật lịch. Phật lịch (H: 佛曆, A: Buddhic calendar, P: Le calendrier bouddhique ) là niên lịch của Phật giáo. Nhưng không thể có một niên lịch, hay là nói rộng hơn, là một hệ thống tính thời gian riêng biệt của đạo Phật, mà chỉ khác nhau ở điểm khởi đầu. Loại lịch này được sử dụng tại Đông Nam Á, tại các quốc gia như Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma ( hay Burma ) và Sri Lanka trong một vài dạng có liên quan. Nó là loại âm dương lịch với các tháng được gán so le là 29 và 30 ngày, với ngày nhuận và tháng 30 ngày bổ sung thêm vào ở các khoảng có chu kỳ. Tất cả các dạng của Phật lịch đều dựa trên Surya Siddhanta nguyên bản có từ thế kỷ 3 tCn, chứ không phải dạng hiện đại của nó ( cả hai dạng đều được sủ dụng trong các loại lịch Hindu khác nhau ). Nếu như Dương lịch lấy năm sinh của Chúa Jêsu (H: 耶稣基督, A: J esus Christ , P: Jésus-Christ, sinh...

Ngày Mẹ sinh tôi

Chào đời giữa lúc khó khăn, Đau lên, ốm xuống bao lần suýt vong. Trước khi sinh tôi , mẹ đã sinh 2 lần. Nhưng cả 2 anh tôi đều mất khi mới 1-2 tuổi. Có thày bói nói: Bố Mẹ tôi phải nuôi con nuôi trước và phải đi “cầu tự” thì sinh con mới được. Thế là mẹ tôi đón một chị con bác Lương Đức Thông ( là cháu gọi ông nội tôi bằng chú )- Đặng Thị Quắm ( cháu gọi bà nội tôi là cô ) về nuôi. Chị này mất khi còn nhỏ. Mẹ lại xin con gái dì Ương, em ruột bà, lấy chú Miêu ở An Thái về nuôi song cũng lại mất sớm. Sau này nghe kể lại tôi biết, chẳng qua là do kém nuôi dưỡng. Ngày đó tỉ lệ trẻ sơ sinh bị chết nhiều nên chẳng mấy ai để ý. Trong những năm Pháp càn quét vùng ngoại thành Hải Phòng ác liệt ( 1947-1949 ) nhiều lần gia đình phải tản cư sang Tiên Lãng và có đợt tới tận Thái Bình. Khi tạm yên, quay về quê, mẹ tôi tới Đền thờ Đức Thánh Trần ngoài Kiếp Bạc làm lễ, chui qua bụng tượng voi. Sau đó tôi ra đời. Vào thời...

So sánh Lợi ích hai phép làm lịch

Thời hiện đại ai cũng hiểu và có ý niệm về giờ, ngày, tuần, tháng, năm. Đặt tên, phân chia ra các đại lượng thời gian này có 2 phép chính với những thuận tiện, trở ngại, tiện ích khác nhau. Mỗi năm (年) gồm có 12 tháng (月), mỗi tháng có 60 đơn vị (ban ngày kể là một đơn vị, đêm kể là một đơn vị, hai đơn vị góp lại thành một ngày). Mỗi năm còn chia ra mùa , và vì thời gian tính theo hai hệ thống mặt trời (dương lịch) và mặt trăng (âm lịch) bị so le, không theo sát nhau được, nên đã tính phải có một tháng “nhuận”, gọi là “tháng sinh sau” trong hệ thống âm-dương lịch. Như vậy, dù kiểu gì cũng chỉ có 2 phương pháp tính lịch cơ bản là theo sự dịch chuyển của tuần trăng và theo mặt trời. Tuy cùng để đo thời gian nhưng Âm lịch và Dương lịch khác nhau ở chỗ: Âm lịch có tính chu kỳ (循环,cyclic) còn Dương lịch có tuyến tính (线性, linear). Âm lịch không tính theo số mà dùng tên ghép gồm hai chữ dựa trên hệ thống can chi (10 thiên can 天干 và 12 địa chi 地支). Chữ đầu là một trong 10 thiên can 天干 gồm:...

Âm- Dương lịch

Hiện nay, khi nói tới âm lịch thì người Việt ta nghĩ tới loại lịch được lập dựa trên các cơ sở và nguyên tắc của lịch Trung Quốc, nhưng có sự chỉnh sửa lại theo múi giờ UTC+7 thay vì UTC+8 áp dùng giờ Bắc Kinh bên Tầu. Nhưng thực chất nó là một loại âm dương lịch chứ không phải âm lịch thuần túy. Mục đích nguyên thuỷ của phép lịch là họp một số nguyên Ngày thành Tháng luôn phù hợp với Tuần Trăng và đồng thời họp một số nguyên Tháng thành Năm cũng luôn phù hợp với chu kỳ thời tiết. Nếu đạt được mục đích, thì lịch gắn bó với Thái âm (trăng) và Thái dương ( Mặt trời) và được gọi là một Âm dương lịch. Nhưng phiền phức là để đạt được mục đích ấy là khó, vì hai cái số Tuần Trăng và Thời tiết đều là số có phần lẻ: Tuần Trăng hay Sóc sách : 29,530588 ngày trung bình; Thời tiết hay Tuế chu : 365,242216 ngày trung bình. Phép lịch nào bắt đầu cũng gắng đạt mục đích, nhưng thấy không thành, bèn bỏ hoàn toàn hay một nửa, ví như các lịch Tây phương. Lịch xưa Ai Cập đã lấy tháng 30 ngày, dài quá và ...

Hậu duệ ngành Út

Tổ sinh 6 Nam nhưng chỉ 4 ngành còn con cháu đến nay, trong đó có hậu duệ của người con út Đệ Ngũ Chi Tổ: Lương Công Linh: 第五枝宗 梁公怜 Con cháu ở lại Làng Hương, đổi Lương Đức và đời nào cũng hiếm con. Chưa rõ phu nhân và ngày Kỵ. Tục truyền rằng: Có thày Địa lí nói: theo thế đất mả Tổ thì ngành trên Tiến sĩ đồng khoa, ngành út tuyệt tự [1] . Con cháu Cụ Linh đang đêm đào xoay lại mả Tổ (không dám rời hẳn nơi khác).Về sau các ngành trên học tuy giỏi, có 2 cụ nổi tiếng thần đồng lại chết yểu; có cụ học giỏi, đi thi bị phạm huý nên trượt hoài [2] . Cụ đã bẻ bút vứt xuống sông Văn Úc và thề độc nên ứng nghiệm: con cái sau ít đỗ đạt [3] , còn ngành út đời nào cũng độc đinh [4] . Ghi chú: [1] Ngay chú Vóc khi sinh 2 nam phấn khởi lắm nhưng rồi Lan (bằng tuổi tôi) hi sinh khi chưa kịp lấy vợ nên chú cũng chỉ 1 con,1 cháu. [2] Chắc hàm ý chỉ Cụ Thiệu, Cụ Quản từng “ứng thí bất đệ”. [3] Có lẽ đây chỉ là sự lý giải cho việc con cháu sau này bỏ bê việc học, không theo được Tổ tiên. [4] Lời bàn...

Niên mệnh theo năm sinh

Việc tính Niên mệnh ( Nam và Nữ ) theo Ngũ hành của năm sinh có rất nhiều ứng dụng trong việc chọn bạn đời, người cộng sự, tính ngày giờ tiến hành các công việc đại sự. BẢNG NIÊN MỆNH THEO NĂM SINH (60 NĂM) lại quay trở lại vòng khác. NĂM D.L. NĂM Â.L. NGŨ HÀNH GIẢI NGHĨA MỆNH NAM MỆNH NỮ 1955 Ất Mùi Sa Trung Kim Vàng trong cát Ly Hoả Càn Kim 1956 Bính Thân Sơn Hạ Hỏa Lửa trên núi Cấn Thổ Đoài Kim 1957 Đinh Dậu Sơn Hạ Hỏa Lửa trên núi Đoài Kim Cấn Thổ 1958 Mậu Tuất Bình Địa Mộc Gỗ đồng bằng Càn Kim Ly Hoả 1959 Kỷ Hợi Bình Địa Mộc Gỗ đồng bằng Khôn Thổ Khảm Thuỷ 1960 Canh Tý Bích Thượng Thổ Đất tò vò Tốn Mộc Khôn Thổ 1961 Tân Sửu Bích Thượng Thổ Đất tò vò Chấn Mộc Chấn Mộc 1962 Nhâm Dần Kim Bạch Kim Vàng pha bạc Khôn Thổ Tốn Mộc 1963 Quý Mão Kim Bạch Kim Vàng pha bạc Khảm Thuỷ Khôn Thổ 1964 Giáp Thìn Phú Đăng Hỏa Lửa đèn to Ly Hoả Càn Kim 1965 Ất Tỵ Phú Đăng Hỏa Lửa đèn to Cấn Thổ Đoài Kim 1966 Bính Ngọ Thiên Hà Thủy Nước trên trời Đoài Kim Cấn Thổ 1967 Đinh Mùi Thiên Hà Thủy Nước trên...

Hiểu biết về Dương lịch

Trong ngôn ngữ giao tiếp thông thường của người Việt hiện nay, thuật ngữ dương lịch nói chung chỉ là nói tới lịch Gregory mặc dù trên thực tế có nhiều loại lịch khác có cách thức tính toán ngày tháng. Phép tính lịch dựa vào chu kỳ mặt Trời gọi là Dương lịch (H: 陽曆, A: The sun calendar , P: Le calendrier solaire ), bởi mặt Trời 日 thuộc Dương 陽. Lịch Thái Dương, lấy năm Xuân phân làm cơ sở, có độ dài bằng vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời. Phép làm lịch này đại thể chia ra: - Dương lịch Chí tuyến : khi vị trí của Trái Đất (hay Mặt Trời) được tính toán liên quan tới điểm Xuân phân hay điểm Thu phân thì ngày tháng chỉ ra mùa. Ví dụ Lịch Gregory, Lịch Julius . - Dương lịch Thiên văn khi vị trí của Trái Đất được tính toán liên quan tới vị trí của các định tinh thì ngày tháng của nó chỉ ra chòm sao hoàng đạo mà Mặt Trời có thể được tìm thấy gần đó. Ví dụ: Lịch Hindu và lịch Bengal Dương lịch gắn mỗi ngày tháng cụ thể cho từng ngày mặt trời. Một ngày có thể là chu kỳ giữa bình minh và ho...

Lệ mừng Thọ

Hình ảnh
“THỌ” 壽 là chỉ cho những người có tuổi tác cao ( cao niên, sống lâu ) nên con cháu trong gia đình, thân tộc làm lễ mừng thọ, xã hội tôn vinh các Cụ. 1. Ý nghĩa Nhân văn: Ngày sinh của con người thường được quan tâm rất nhiều. Trẻ sinh ra thì có “Lễ ba ngày”, “Lễ mười ngày”, “Lễ đầy tháng”, “Lễ trăm ngày”, “Lễ thôi nôi” ( giáp năm ), "Cúng đổi đốt" v.v...Đến tuổi trung niên, những năm 36 tuổi, 49 tuổi thì có lễ sinh nhật gọi là “Môn hạm tử” ( ngạch cửa ). Đến ngày ấy, người nhà sẽ dùng vải đỏ để cho người ấy choàng ngang lưng hay may thành áo lót để mặc, ý cầu chúc cho tai qua nạn khỏi. Người Việt sẵn vốn nặng lòng với đạo hiếu 孝道 nên rất tôn trọng người cao tuổi, (“ Kính lão đắc thọ”, “kính già già để tuổi cho ”). Bởi vậy, với mỗi người thêm một tuổi là thêm sự tôn vinh, kính trọng của gia đình, họ hàng, làng xómViệc chúc thọ là tấm lòng hiếu thảo của con cháu đối với Ông Bà Cha Mẹ. Ngày nay, trong phạm vi quốc gia hay ngành nghề, cơ quan cũng tổ chức chúc thọ các vị lã...