Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 12 5, 2010

Bài KHẤN khi Giỗ Bà Nội

Ngày mồng Tám tháng Một ( Mười Một theo cách gọi ngày nay ) Năm Đinh Hợi, 2007 nhân Giỗ lần thứ 25 của Tổ tỷ Đặng Thị Chỉ ( hiệu Diệu Cầm ), đích tôn là tôi có đọc bài khấn như sau: NHỚ NGƯỜI XƯA: Tục đổi dâu cùng xóm thêm thân, Phận trưởng chi trăm điều dồn nén. Cả cuộc đời sống trong gian khó, Xáo, xén, ruộng vườn, kiếm kế nuôi con. Chồng làm quan ít được cậy nhờ, Nợ gia đình mình người gánh chịu. TUỔI XẾ CHIỀU: Cùng cháu con khai hoang miền ngược, sức yếu còn vững chí bền gan. Dạy, chăm cháu bằng đời trải nghiệm, giữ gia phong bởi tính nêu gương. Chuyện Tổ tỷ nay xin ôn lại, Nhắc toàn gia cố gắng giữ gìn. Nén hương trầm cúi xin bày tỏ. Cầu tôn linh kíp về thượng hưởng. Cẩn cáo !

Về Tộc danh "ĐẶNG"

Hình ảnh
Đã sửa đổi, bổ sung thành bài mới đăng ở: http://holuongduclaocai.blogspot.com/2012/12/tim-hieu-ve-ho-cua-ba-noi-toi-ho-ang.html nên xóa nội dung đã đăng ở bài này. Lương Đức Mến

Nguồn gốc của GIA PHẢ

Hình ảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều trong quá trình vận động và việc ghi chép lại quá trình ấy chỉ được diễn ra khi con người đã có chữ viết. Lịch sử loài người, lịch sử quốc gia có giai đoạn rất dài không được ghi chép lại, đấy là huyền sử. Lịch sử gia đình, dòng tộc cũng vậy, có giai đoạn dài không có phả gọi là huyền pha ̉ rồi do nhu cầu xã hội, lịch sử và gia phả bước vào thời kỳ phôi thai , tiếp đến tới thời kỳ xuất hiện rồi hưng thịnh . 1. Nguồn gốc Gia phả 家譜: Cũng như tiến trình phát triển của các dân tộc khác, từ nếp quần hôn tiến tới hôn nhân cá thể ; từ gia đình mẫu hê ̣ tới gia đình phụ hệ , xã hội Việt cổ hình thành nên tiểu gia đình ( hai thế hệ ) và đại gia đình ( ba thế hệ trở lên ). Tiểu gia đình vừa là đơn vị kinh tế vừa là "tế bào xã hội". Khi dân số tăng, lãnh thổ bành trướng, dân trung tâm hội nhập văn hóa và đồng hóa với các sắc tộc khác nhưng văn hóa nông nghiệp vẫn là chủ đoạ trong đời sống người Việt. Đặc biệt khi một...

Về con dấu của Ban Liên lạc

Hình ảnh
Vừa qua có một số người hỏi về hình dấu của Ban liên lạc họ Lương Đức ở Lào Cai, nhất là các chữ vòng quanh con dấu. Tôi xin trả lời thế này: 1. Các Hán tự đó là từ đôi câu đối: 祖昔培基功騰山高千古仰; 于今衍派澤同海濬億年知. Đọc âm Hán Việt là: Tổ tích bồi cơ, công đằng sơn cao thiên cổ ngưỡng; Vu kim diễn phái, trạch đồng hải tuấn ức niên tri. Dịch nghĩa: Tổ tiên xưa bồi đắp tảng nền, công tựa non cao, ngửa trông muôn thuở; Con cháu nay nảy nở dòng giống, ơn tày bể rộng nhuần thấm ngàn năm. 2. Câu này do tôi đánh máy chữ Hán dựa trên câu có sẵn âm Hán Việt trong sách “ Hướng dẫn cách viết Gia phả ”, trình bày bởi ứng dụng WordArt, AutoShapes trong Wort sau đó chỉnh sửa lại bằng Photosp rồi coppy vào USB đưa cho cơ sở khắc dấu họ khắc. Ngày nay dấu được khắc theo điều khiển của máy Vi tính nên cũng nhanh và chính xác như bản vẽ. Có tài liệu khác chép chữ “đằng” là “đành” theo tôi là lỗi do đánh máy bởi “đành” chẳng có nghĩa gì! Hay âm cuối có tài liệu ghi là “tư” ( chắc là chữ 思), tôi thấy chữ “tri” hay...