MỘT SỐ TỪ NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG GIA PHẢ, BIA MỘ, CÚNG KHẤN
T iếng Việt là không có các đại từ nhân xưng ngôi thứ Nhất, thứ Hai như trong tiếng Anh, Pháp, Hán hoặc các ngôn ngữ khác. Người Việt mượn đại từ nhân xưng từ một ngôn ngữ khác hay dùng danh từ thân tộc để xưng hô. Từ những từ được định danh sớm là bố, mẹ, con, cháu dần mở rộng ra đến những từ chỉ mối quan hệ chỉ tôn ti trật tự trong dòng họ. Hệ thống tôn ti 倫序 trong gia tộc được cổ nhân phân biệt rất chi li trong 9 thế hệ gọi là Cửu đại 九族 hay Cửu huyền 九玄 , gồm: cao 高 , tằng 曾 , tổ 祖 , cha 父 , mình 我 , con 子 , cháu 孫 , chắt 曾孫 , chít 玄孫 . Hơn nữa, ngoài những từ chỉ tập tục, từ có tính Công thức , trong Gia phả, Bia mộ hay các bản Long văn hoặc trong Tang ma [1] còn nhiều từ xưng, hô bằng âm Hán Việt mà nay trở nên lạ lẫm với nhiều người dẫn đến lúng túng, hiểu sai. Không tính đến việc xưng, hô ngoài xã hội, trong nội bộ gia tộc có những nhóm từ ngữ khá phong phú, xin tập hợp lại [2] như sau: 1. Từ chung : - Quý công 貴公 : từ thêm vào sau họ, tỏ vẻ tôn kín...