Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng 1 17, 2010

Cây duối đại khủng tại quê nhà

Hình ảnh
Phạm Văn Tuy (0904483419) là con bác Ký, người dân Kim Côn, xã Chiến Thắng. Đời vợ trước của bác là cô Lương Thị Di 梁氏怡 Sinh năm Nhâm Tí (1912), đẹp người. Nhưng cô đã mất từ 02/6 Ất Dậu, chưa có người con nào. Sau đó P.V. Ký đã tục huyền [1] nhưng vẫn đi lại, theo cúng giỗ với Lương tộc [2] . Hồi CCRĐ bị qui sai [3] . Ông mất do già yếu năm.Vợ kế và các con (Kiểm, Tuy, Hoạch, Bốn, Huyền, Kỉ) đã chuyển xuống Bến Khuể làm ăn. Trong đó có anh Tuy trông cây cảnh có cây duối đại khủng. Ghi chú: [ 1] Đàn bà goá đi bước nữa gọi là tái giá 再嫁 hay tái tiếu 再笑, đàn ông mất vợ lấy bà kế gọi là tục huyền 續絃 (ý như đàn đứt lại căng dây khác). [2] Việc này chỉ thưa dần và chấm dứt từ sau khi gia đình tôi lên Lào Cai. [3] Thực ra đó là đất của bà cô mà bác trông giúp. Nhưng so ra không bằng 1/50 đất các con bác ở Khuể sau này. Ngày đó, "Đội" đem nhốt tại nhà tôi mà bác không dám nhận cơm do mẹ tôi đưa vì sợ nhà tôi bị liên luỵ

Nhớ ngày giỗ Cha

Hình ảnh
Nhân sắp đến 13/Chạp kỷ niệm lần thứ 13 ngày mất của Đệ Lục đại (t hứ Ba 21/01/1997, tức là ngày 13 tháng Chạp năm Bính Tí ) : Tuần tới là ngày giỗ cha, Ngoảnh trông chốc đã mười ba năm trời. Đêm Đông lòng những ngậm ngùi, Chép lại vài chuyện dâng Người thấu cho. * Bính Tý năm ấy chưa xa, Gái trai bẩy đứa vẫn lo út cùng. Nay em đã đẹp vợ chồng, Sinh 2 nam tử - kính ông được tường. * Cháu trai, cháu gái noi gương, Theo cha, học mẹ trên đường công danh. Trưởng nữ con đã trưởng thành, Trọn đường học vấn, đẹp tình lứa đôi. Thưa đây hai chắt nối đời, Mười Sáu đứa cháu, Bốn thời có đôi. Dẫu chưa giầu có bằng người, Nhưng đã qua khỏi cái thời khó khăn. * Tuần sau sắm lễ gọi hồn, Nhành hoa, chén nước...vẫn quen lệ này. Khấn cầu theo khói hương bay, Gửi lên tiên giới lời này kính dâng. Vong linh Cha cõi chín tầng, Ngao du tiên cảnh, Phật đường viếng thăm. Hồn Cha tận chốn xa xăm, Phù hộ Gia tộc quanh năm, mọi đường. * Nhớ lời Cha thủa còn dương, Gia phả con soạn tận tường từng Chi. Từ đường xây...

Họ Lương trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Tại Hội thảo về “Họ Lương trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” tổ chức tại Văn Miếu ngày 25/8/2008, nhà giáo Bùi Văn Tam (cháu ngoại Lương tộc) có bài phát bểu quan trọng và nêu nhiều vấn đề hay. Kính thưa quý vị đại biểu. Kính thưa toàn thể bà con họ Lương. Trước hết tôi xin chân thành cám ơn Ban tổ chức hội thảo về họ Lương trong cộng đồng dân tộc Việt nam đã cho tôi được dự và phát biểu ý kiến. Thân danh là một cháu ngoại họ Lương, lại là một nhà giáo làng, sống gần gũi quê hương, bà con họ tộc, tôi được bà con họ Lương quý mến cho phép tôi được tham gia sưu tầm tư liệu, bước đầu khảo cứu về một dòng họ thân thuộc của tôi, một dòng họ mà tôi quý mến vì có nhiều cống hiến cho dân tộc, cho quê hương, làm vẻ vang cho họ tộc của mình. Vừa qua, được sự đồng ý của họ Lương, tôi có biên soạn cuốn "Họ Lương trong cộng đồng dân tộc" được xuất bản năm 2001 và năm qua tôi biên soạn cuốn "Trạng Lường Lương Thế Vinh" cũng để phục vụ cho bà con họ Lương. Có được thành quả ban đầu...

Nỗi lòng người cha

         Nhân ngày con gái bảo vệ xong luận văn Thạc sĩ ( 19/01/2010 ) nhớ lại bài viết đầy lo lắng hồi tháng 8 năm ngoái khi con chưa có Quyết định bảo vệ Luận văn và cũng chưa dứt khoát chuyện cưới xin. Đúng là tuổi trẻ!   Cha sinh, Trời phú tính con, Mẹ dưỡng, Đời luyện con càng lớn khôn. Nhớ khi con bé cỏn con, Mẹ Cha cực nhọc nhưng còn đỡ lo. Nay con khôn lớn, ở xa, Trăm điều toan tính biết là gửi đâu? * Học hành chưa hết nhịp cầu, Việc làm chẳng kịp chuyến tầu sang ngang. Gia thất dù tính kĩ càng, Thăm nhà, tính chuyện…vẫn toàn nỗi lo. Thời con, con tính chung nhà, Cậu, Cô, Chú, Bác, hai Bà nghĩ sao? Giục con, con cứ ừ ào, Mẹ lo phát ốm con nào hiểu cho. Ngoài miệng bố bảo “chẳng lo”! Trong lòng trăm mối tơ vò, ai hay? * Hiểu nhiều càng thấm đắng cay, Hiểu cho lòng bố, con rầy tính sao? Viết tại Lào Cai, ngày 30 tháng 8 năm 2009

Dòng họ thêm một Thạc sĩ

Hình ảnh
16h30p chiều ngày 19/01/2010 Lương Thị Huyền Thương đã bảo vệ thành công Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam (3 điểm 10, 2 điểm 9,5) tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội đồng chấm Luận văn: Chuẩn bị trả lời chất vấn: Quang cảnh sau buổi bảo vệ: Hai mẹ (các ông bố đều không đến được), chồng và các Giáo sư cùng chụp ảnh lưu niệm với tân Thạc sĩ:

Tài liệu tham khảo và những người cung cấp tư liệu

Hình ảnh
Trong quá trình soan thảo Gia phả và đưa nó lên Blog, các trang Web tôi đã phải sưu tầm tư liệu từ nhiều nguồn (sách, báo, tạp chí, gia phả, lời kể, điền dã...); học cách soạn Gia phả; cách xây dựng Blog, đưđưa bài lên Website; cách chèn chữ Hán Nôm, vẽ và chèn hình ảnh vào trang viết và lên Blog... DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Các trang Website : http://vi.wikipedia.org/wiki http://www.lichsuvietnam.vn http://lichsuvn.info/ http://www.luutruvn.gov.vn/ http://www.tuikhon.com/suutap/dialy http://www.haiphong.gov.vn , http://www.baohaiphong.com.vn http:// www.laocai.gov.vn , http://www.baolaocai.vn http://www.unesco-cep.org.vn http://www.vietnamgiapha.com http://www.phahe.vn http://holuong.org 2. Các sách Lịch sử, Địa lý : - Lịch sử Việt Nam; - Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, Lào Cai, Bảo Thắng; - Lịch sử Đảng bộ xã Chiến Thắng giai đoạn 1945-2005; - Đất nước Việt Nam qua các đời; - Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ; 3. Các sách về phong tục tập quán : - Việc họ của Tân Việt...

Bức trướng mừng tuổi Mẹ

Hình ảnh
Ý tưởng, nội dung thơ và câu đối: Lương Đức Mến. Chụp ảnh: Vũ Thanh Bình (chụp 1989, dịp mẹ xuống Yên Bái thăm vợ chồng trưởng nam). Chỉnh sửa ảnh : Lương Đức Mến. Thiết kế và in: Anh Tám. Hoàn thành và dâng chúc: Tết Mậu Tý 2008 ( tuổi 85 ).

Các Tiết năm Canh Dần

Mỗi tháng có 1 Tiết (15 ngày) và 1 Trung khí (khoảng 15 ngày), nhưng Tiết mới là quyết định cho đổi tháng. Một Năm bắt đầu từ Lập Xuân và kết thúc ở Đại Hàn. Theo đó, tháng Giêng tính từ Lập Xuân, tháng Hai tính từ Kinh Trập, tháng Ba tính từ Thanh Minh v…v… Bảng liệt kê 12 Tiết của năm Canh Dần 2010 ( Tháng bằng chữ và Can Chi là theo Âm lịch; còn Ngày dạng số dd/mm/yyy trong bảng là theo Dương lịch ) -*- 二0一0年庚寅年 農曆月份表 TIẾT KHÍ NĂM CANH DẦN (2010) 正月 立春戊寅:2010年02月04日06時42分庚辛日子時-2010年03月06日00時51分 1.- THÁNG GIÊNG (Tháng Mậu Dần) : Tiết Lập Xuân + Vũ Thủy ( từ 6 giờ 42 phút ngày 04 / 02 / 2010 đến 0 giờ 51 phút ngày 06 / 3 /2010) 二月 驚蟄己卯:2010年03月06日00時52分已酉日戌時-2010年04月05日05時54分 2.- THÁNG HAI (Tháng Kỷ Mão): Tiết Kinh Trập + Xuân Phân ( từ 0 giờ 52 phút ngày 06 / 03 / 2010 đến 5 giờ 54 phút ngày 05 / 4 /2010) 三月 清明庚辰:2010年04月05日05時55分庚辰日子時-2010年05月05日23時28分 3.- THÁNG BA (Tháng Canh Thìn): Tiết Thanh Minh + Cốc Vũ ( từ 5 giờ 55 phút ngày 05 / 04 / 2010 đến 23 giờ 28 phút ngày 05 / 5 /2...

Đặt tên cho con sinh năm Canh Dần 2010

Năm Canh Dần, mạng Tòng bá Mộc, Nam :- cung phi là Cấn (Tây mạng), Nữ cung phi là Đoài (Tây mạng). Theo Tính Danh Học, người tuổi Dần thì tên cần có các bộ (chữ Hán) sau đây: 1 .- Bộ “山= SƠN :- tác dụng “có cuộc sống an ổn, đầy đủ về tiền bạc, tài sản”. Đây là tác dụng về mặt vật chất. Người xưa nói :- “Hổ ly sơn hổ bại” :- cọp rời (không có) rừng núi thì cọp bị thất thế và bị hại. Hay câu :- “Hổ lạc bình nguyên bị khuyển khi” :- cọp xuống đồng bằng bị chó khinh khi (coi thường). Xem thế, đủ thấy vai trò của Sơn = núi (tất có rừng) rất quan trọng cho tuổi Dần. 2 .- Bộ “玉 / 王 = NGỌC / VƯƠNG :- tác dụng “có địa vị cao quí, sang trọng trong xã hội” . Đây là tác dụng về mặt tinh thầ 3 .- Các bộ kỵ (không dùng đặt tên) :- Bộ 辵 = 辶 = Sước , bộ 人 = Nhân và những chữ có liên quan đến “con khỉ” như :- Thân, Hầu, Viên … 4 .- Cách chọn tên : Chọn một trong các chữ có bộ Sơn , rồi ghép với một chữ có bộ Ngọc (tham khảo hai bảng bên dưới), sao cho nghe êm thuận tai là được. Như vậy, mới có đủ cả...

Can Chi ngày

Khái niệm ngày có lẽ có sớm nhất. Từ thuở hoang sơ, muôn loài đều biết chu kỳ ngày và đêm. Có động vật hoạt động ban ngày, động vật hoạt động ban đêm. Lịch sử loài người có nhiều quy ước về cácg fọi ngày. Trong đó gọi theo hệ Can Chi 干支紀日法 có nhiều ứng dụng trong việc xem ngày. Vậy ngày là khoảng thời gian liên quan đến chu kỳ quay riêng của trái đất. Ban đầu, người ta không hiểu là trái đất tự quay quanh nó, mà chỉ thấy mặt trời hàng sáng xuất hiện ở một phương, buổi chiều biến mất ở phương đối diện. Ban ngày từ khi mặt trời xuất hiện đến khi mặt trời lặn xuống. Ban đêm là thời gian còn lại đến khi mặt trời lại xuất hiện. Một ngày bao gồm ngày và đêm, như vậy khái niệm một ngày đầy đủ phải là một ngày đêm. Ngày là khái niệm cơ bản nhất của Lịch, chính xác phải là Ngày-Đêm là khoảng thời gian trái đất tự xoay quanh trục trong khi quay quanh Mặt trời dẫn đến trên mặt đất chuyển từ bóng tối đến ánh sáng và ngược lại. Để đánh dấu thời gian một ngày, mỗi dân tộc có một cách đánh dấu mốc ba...