[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


07 tháng 4 2026

TÌM HIỂU về cách chia thời gian theo CANH và KHẮC

Nếu đọc “Cổ thư” thì sẽ gặp đơn vị chỉ thời gian khác với ngày nay mà người Việt, nhất là lớp người cao tuổi hay nhớ câu: “Canh Một dọn cửa, dọn nhà, Canh Hai dệt cửi, canh Ba Đi nằm...” hoặc “Nửa đêm giờ Tý canh Ba”,...Vây Cách tính giờ “Canh, Khắc” giống và khác nhau so với cách tính hiện thế nào ?

THỜI GIAN (A:Time, P: Temps, H: 時間) là yếu tố vô cực, nó có như vốn có và sẽ tồn tại vĩnh viễn cùng vũ trụ. Một đơn vị đo thời gian là một thời gian chuẩn (thường không đổi theo thời gian) dùng để làm mốc so sánh về độ lớn cho mọi thời gian khác. Đó là khái niệm vật lý chỉ trình tự xảy ra của các sự kiện và đo lượng (nhiều hay ít) mà sự kiện này xảy ra trước hoặc sau sự kiện kia. Thời gian chỉ có một chiều duy nhất (cho đến nay được biết đến) đó là từ quá khứ 過去, qua hiện tại 現在 và tới tương lai 未来.

Tuy có quan niệm, có cảm thức về thời gian, nhưng không phải dân tộc nào, nước nào, thời đại nào cũng biết chia ra những mốc thời gian một cách chuẩn mực, giống nhau.

Ban đầu PHÉP ĐO THỜI GIAN còn đơn giản, không có những dụng cụ thiên văn tối tân và đồng hồ chính xác, mà chủ yếu dùng bóng nắng bởi Mặt Trời tự nó là cái đồng hồ.

Để nhận thức thời gian, qua tích lũy kinh nghiệm cổ nhân từ khái niệm ngày (có mặt trời), đêm (, không có ánh mặt trời) ban đầu dần đến nhận xét đêm có trăng, đêm không trăng (Sóc, ), trăng tròn (Vọng,) trăng khuyết hình thành nên khái niệm tháng (). Nhiều ngày, tháng chung một đặc trưng thời tiết hình thành nên mùa. Các mùa tuân theo một quy luật nhất định và vòng đó gọi là năm (Niên,). Khi cần chia nhỏ đơn vị thời gian dưới ngày người ta chia ra giờ. Trên năm hợp thành Giáp, Hội giáp, Thập kỉ, Thế kỉ, Thiên niên kỉ. Như vậy, chính vẻ đẹp hùng vĩ của bầu trời ban đêm và sự chuyển dịch của Mặt Trời, Mặt Trăng và các Hành tính (ngôi Sao) đã  góp phần quan trọng cho tư thế của con người mãi mãi đứng thẳng, giúp con người dần hoàn thiện mình và phát minh ra phép đo thời gian và cách tính Lịch.

Để nhận thức thời gian trong ngày, xưa kia cổ nhân dùng: Bóng nắng (Khuê biểu), Thủy triều, Tiếng Gà gáy,…Đồng hồ nhang (Hương triện), Đồng hồ cát, Đồng hồ nước (Lậu hồ), Đồng hồ mặt trời (Nhật quỹ), Đồng hồ sao, Bóng nắng, Thủy triều,…Từ đó hình thành nên khái niệm thông dụng đến nay là “Khắc, Canh” và một số phương pháp nhằm phân chia giờ giấc, phục vụ sinh hoạt.

Tôi nhớ mãi, hồi nhỏ nhà nghèo chả sắm nổi đồng hồ thế mà mẹ tôi, một nông dân mù chữ nhưng chỉ dặn qua là hằng đêm bà gọi chúng tôi dậy đi học bản thân bà dậy nổi lửa thổi cơm, nấu cám lợn,... rất đúng giờ!

Người xưa một ngày ăn 2 bữa, bữa sáng sau khi mặt trời mọc trước ngung trung nên gọi là thực thời 食时 hoặc tảo thực 早食; bữa chiều sau khi mặt trời xế về tây trước khi lặn, gọi là bô thời 晡时.

Theo lịch cổ, người Á Đông phân chia một ngày thành 12 canh giờ. Ứng theo 12 con giáp (thống nhất với cách phân chia Ngày, Tháng, Năm theo Can Chi), mỗi một canh giờ bằng khoảng 2 giờ theo đồng hồ 24 giờ. Theo cách tính này thì mỗi giờ được đặt tên theo Can Chi gọi là “Can Chi giờ” (干支紀時法, Can chi kỷ thời pháp). Cách phân chia và gọi tên này còn có ý nghĩa trong phong thủy, chiêm tinh và dự báo,... trong đời sống văn hóa và tâm linh của người Trung Quốc nói riêng và người Á Đông nói chung. Theo đó:

Giờ Tý  là từ 23 giờ đến 1 giờ sáng, tức nửa đêm, là thời điểm chính giữa ban đêm, đánh dấu sự chuyển giao giữa ngày cũ và ngày mới, nằm giữa lúc mặt trời lặn và mọc, Chuột đang hoành hành; 

Giờ Sửu  là từ 1 giờ đến 3 giờ sáng hay nửa đêm về sáng, Trâu “nhai lại”;

Giờ Dần  là từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức nửa đêm về sáng đến rạng sáng, Hổ trở lại rừng sau khi đi kiếm ăn về;

Giờ Mão  là từ 5 giờ đến 7 giờ sáng hay rạng sáng đến sáng tỏ, Mèo “tỉnh giấc”;

Giờ Thìn  là từ 7 giờ đến 9 giờ sáng tức sáng sớm, Mặt Trời lên;

Giờ Tỵ  là từ 9 giờ đến 11 giờ sáng hay từ sáng đến gần trưa;

Giờ Ngọ  là từ 11 giờ đến 13 giờ trưa lúc giữa trưa, đúng Ngọ là 12 giờ trưa;

Giờ Mùi  là từ 13 giờ đến 15 giờ chiều là buổi xế chiều;

Giờ Thân  là từ 15 giờ đến 17 giờ chiều tức chiều muộn, Khỉ về rừng;

Giờ Dậu  là từ 17 giờ đến 19 giờ tối hay chập tối, Gà lên chuồng;

Giờ Tuất  là từ 19 giờ đến 21 giờ tối tức buổi tối, Chó ngủ yên;

Giờ Hợi  là từ 21 giờ đến 23 giờ tối khuya từ tối muộn tới gần nửa đêm.

Từ năm 1884 người ta chia ra trái đất thành 24 múi xẻ dọc từ Bắc xuống Nam với kinh tuyến Greenwich làm chuẩn. Chú ý rằng việc quy đổi chỉ thật chính xác với địa phương mà KT trung tâm (ở VN là 1050 Đ) đi qua, nên mỗi mùa, căn cứ vào giờ mặt trời mọc, mà giờ Tý sẽ xê dịch khác nhau chứ không phải bao giờ cũng là từ 23-01 giờ GMT. 

Bên cạnh việc phân chia một ngày thành 12 con giáp thì cổ nhân còn phân chia thời gian trong ngày khác. Đó là cách phân chia thời gian trong ngày thành 5 canh (đêm, không có ánh mặt trời), 6 khắc (ngày, có ánh mặt trời).

Trong đó đêm (khi mặt trời lặn là hoàng hôn 黄昏, sau hoàng hôn là nhân định 人定, sau nhân định là dạ bán 夜半 (hoặc gọi là dạ phân 夜分);  sau đó là kê minh 鸡鸣, rồi muội đán 昧旦, bình minh 平明) được chia thành 5 canh[1] (trống canh), ứng với các giờ Tuất , Hợi , Tý , Sửu , Dần . Tức là có 10 tiếng, từ 19h tối hôm trước đến 5h sáng hôm sau:

 Canh 1 là từ 19 giờ đến 21 giờ tối (hoàng hôn 黄昏còn gọi là nhật tịch 日夕nhật mộ 日暮nhật vãn 日晚), rơi vào giờ Tuất - Chó rất thính;

Canh 2 là từ 21 giờ đến 23 giờ đêm (nhân địn人定còn gọi là nhân tĩnh 人静định hôn 定昏), rơi vào giờ Hợi - Lợn ăn no, ngủ kỹ;

Canh 3 là từ 23 giờ đến 1 giờ sáng (dạ bán 夜半còn gọi là Tí dạ 子夜), rơi vào giờ Tý, Chuột phá phách;

Canh 4 là từ 1 giờ đến 3 giờ sáng (kê minh 鸡鸣còn gọi là hoang kê 荒鸡), rơi vào giờ Sửu, Trâu bắt đầu ra đồng

Canh 5 là từ 3 giờ đến 5 giờ sáng (bình đán 平旦còn gọi là lê minh 黎明tảo thần 早晨nhật đán 日旦), rơi vào giờ Dần, Hổ v rừng thôi kiếm ăn.

Ban ngày (khi mặt trời mọc gọi là đán , tảo , triêu , thần ; khi mặt trời lặn gọi là tịch , mộ , vãn giữa trưa là nhật trung 日中, chính Ngọ 正午, đình Ngọ 亭午; thời gian gần nhật trung gọi là ngung trung 隅中xế chiu v  gọi là trắc , nhật điệt 日昳được chia thành 6 Khắc[2]:

Khắc 1 là từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng;

Khắc 2 là từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40 sáng;

Khắc 3 là từ 9 giờ 40 đến 12 giờ trưa;

Khắc 4 là từ 12 giờ đến 14 giờ 20 đầu giờ xế trưa;

Khắc 5 là từ 14 giờ 20 đến 16 giờ 40 chiu;

Khắc 6 là từ 16 giờ 40 đến 19 giờ chiu tối.

Như thế, Ban ngày dài 14 giờ, còn ban đêm dài 10 giờ tính theo hiện đại 

Ngày nay, ngay học sinh tiểu học, nhờ sách giáo khoa (kinh nghiệm thực tiễn cộng với sự hỗ trợ của các kính viễn vọng và máy tính điện tử, khoa học Thiên văn) cũng biết đến dưới giờ là Phút, Giây,…Chúng còn biết Điu 7 của Nghị định Số : 134/2007/NĐ-CP ngày  15  tháng  8  năm 2007 quy định v đơn vị đo lường chính thức của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Đơn vị đo thời gian tiêu chuẩn ở Việt Nam tuân thủ Hệ đơn vị SI là hệ đơn vị đo lường quốc tế (tiếng Pháp là Système International d”Unités; tiếng Anh là The International System of Units) là giây (kí hiệu s). Chúng cũng biết: ngoài hệ đơn vị SI, theo quy định tại Điu 8 là: phút (min) = 60 s, giờ (h) = 60 min = 3 600 s, ngày (d)  = 24 h = 86 400 s.

Như vậy, ngoài việc chia ra các buổi (sáng, trưa, chiu, tối) thì CANH và KHẮC là đơn vị đo thời gian xưa và thực ra có thể coi đó là 2 hệ thống tính chứ làm gì có đoạn  “đêm 10 tiếng,  “ngày 14 tiếng! Cách này ngày nay ít dùng. Nhưng chúng ta cần biết để hiểu rõ vđêm 5 Canh, ngày 6 khắc”. 

Hơn nữa, một ngày (cả đêm) đu chia ra 24 giờ. Nhưng khi xưa, chỉ chia ra làm 12 giờ, đặt khởi điểm ở giờ Tý (nửa đêm). Ban ngày chia làm 6 giờ gọi là 6 khắc, kể từ giờ Mão đến giờ Thân (khoảng 5g sáng đến 17g chiu). Đây là thời gian quan trọng: Con người có thể lao động, con vật có thể hoạt động, kiếm ăn. Ban đêm chia ra 5 canh từ giờ Tuất đến giờ Dần (khoảng từ 19g đến 5 g sáng hôm sau) là thời gian nghỉ ngơi của con người và một số loài vật.

Mặt khác, tiếng chiêng thu không (thu cái không gian ban ngày lại) đánh lên vào thời điểm này để cho người dân biết là đã đến giờ đóng cửa thành, mọi người nên v nhà vì ngày xưa nhà ở luôn ở trong thành. 

Cũng theo quan niệm của cổ nhân v Âm Dương sinh diệt, thì Dương phải lớn hơn Âm một điểm để cái diệt không bị diệt hẳn, và cũng từ cái diệt đó mà sinh khởi nên ngày có 6 khắc mà đêm chỉ 5 canh (mà 6>5). Giờ Dậu (khoảng 17g đến 19g, chập choạng tối, Gà lên chuồng,...) không thuộc v ngày cũng không thuộc v đêm, là thời điểm tranh tối tranh sáng. Như thếđủ 12 giờ (24 tiếng hiện tại).

Căn cứ sự phân chia trên, chúng ta thấy:

a)- Ban ngày dài 14 giờ, còn ban đêm dài 10 giờ và thấy được “giờ Tý canh Ba” là “Nửa đêm”, từ đó chúng ta tính được bảng 5 Canh:

TÊN CANH

THỜI GIAN HIỆN NAY

Canh 1

Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất

Canh 2

Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi

Canh 3

Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý

Canh 4

Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu

Canh 5

Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần

 b)- Ban ngày dài 14 giờ, chia cho 6 khắc như bảng sau đây :

TÊN KHẮC

THỜI GIAN HIỆN NAY

TÊN KHẮC

THỜI GIAN HIỆN NAY

 1

Từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng

4

Từ 12 giờ đến 14 giờ 20 xế trưa

2

Từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40  sáng

5

Từ 14 giờ 20 đến16 giờ 40 chiều

3

Từ 9 giờ 40 đến 12 giờ trưa

6

Từ 16 giờ 40 đến 19 giờ tối

Như vậy, nếu chúng ta đem so sánh Khắc với Giờ, thì có 2 giờ 20 phút bằng 1 Khắc (14 giờ : 6 Khắc = 140 phút, tức là 2 giờ 20 phút).

  Vậy nên, cổ nhân thường nói: “Đêm Năm Canh, Ngày Sáu Khắc” là đúng!

-         Lương Đức Mến, BS từ nhiu nguồn TK-


[1] V nguồn gốc từ “canh”, theo Tiết Quý Tuyên (薛季宣, 1134-1173), nhà thơ, nhà lý học nổi tiếng đời Nam Tống (南宋1127–1279), một triu đại trong lịch sử Trung Quốc, được thành lập bởi Triệu Cấu (趙構1127-1187) sau khi nhà Bắc Tống (北宋960-1127) mất phần lớn lãnh thổ phía Bắc vào tay nhà Kim (金朝1115-1234). Triu đại này cai trị min Nam Trung Quốc, lấy Lâm An (nay là Hàng Châu) làm kinh đô, được chỉ huy bởi những tướng lĩnh có năng lực như Nhạc Phi (岳飛, 1103-1142) và Hàn Thế Trung (韓世忠1089-1151). Nam Tống nổi tiếng với kinh tế, văn hóa rực rỡ nhưng yếu kém quân sự, cuối cùng sụp đổ trước vó ngựa Mông Cổ.). Tiết Quý Tuyên người Vĩnh Gia (Ôn Châu, Chiết Giang, Trung Quốc). Ông tự Sĩ Long 士龍, hiệu là Cấn Trai 艮齋, thuộc học phái Vĩnh Gia nổi tiếng v thực học., ông sống vào giữa thế kỷ XII.

Chính ông cho rằng: ngoài Lậu hồ (漏壺đồng hồ Cát hay đồng hồ Nước) và Nhật quỹ (日揆, đồng hồ Mặt Trời) , người ta còn dùng Hương triện 香篆 để xem giờ, nhất là v ban đêm. Hương triện có thể là hương vòng (nhang vòng). Trên hương vòng có vẽ 5 dấu đđịnh 5 canh. Nếu muốn thức dậy canh nào, người ta buộc một vật nặng nhỏ vào vòng hương, vào khoảng giờ muốn dậy. Hương cháy đến đó sẽ làm rơi vật nặng ấy xuống một cái chậu đồng, gây nên tiếng động đđánh thức người dậy. Người ta cũng có thể dùng những hộp hương khắc hình chữ Thọ theo kiểu chữ Triện, hương cháy đến đâu sẽ cho biết đêm đã đến canh mấy.

[2] Khắc có nghĩa là 1 phần 100 của ngày, tức là 14 phút 24 giây. Gốc của danh từ này này là cái thẻ mang nét khắc trỏ giờ và khắc được đặt nổi trên mặt nước của thùng nước dưới của đồng hồ”.

Tác giả Thanh Nghị định nghĩa là 1 phần 6 của ngày, tức một ngày bao gồm 6 khắc.

Có người trừ ban đêm 5 canh (tức 10 giờ), còn lại 14 giờ (tức 60ph x 14 =840 phút), đem chia cho 6 khắc nên mỗi khắc có 140 phút, tức 2 giờ 20 phút !

Lại có tác giả, cho rằng: “khắc là thời gian rất ngắn”, đổi 1 khắc = 1/96 ngày = 15 phút.

[3]Hiện được dùng không thông dụng, để chỉ khoảng thời gian bằng 1/4h, tức là 15 phút.

Có ý lý giải: Một ngày đêm được chia thành 12 canh giờ, mỗi canh giờ lại được chia thành 60 khắc. Một khắc tương đương với 2 phút thời gian hiện nay. Cách tính thời gian bằng khắc thường được sử dụng đđo thời gian ngắn, ví dụ như thời gian nấu ăn, thời gian uống thuốc,...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn “Lốc” ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão và từ 07/2025 là xã An Hưng, thành phố Hải Phòng (SSN)- Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai và từ 07/2025 là phường Lào Cai tỉnh Lào Cai (SSN)

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với “Ẩn danh”.
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!