[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


08 tháng 2 2026

Tìm về VĂN KHẤN TRƯỚC TẾT NĂM 2026

1.     Mời TỔ TIÊN VỀ ĂN TẾT

Tín chủ  con kính lạy:

- Chín phương Trời, năm phương Đất, mười phương chư Phậ

- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa; ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, ngài Bản gia Thổ địa Long mạch Tôn thần, ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính th

- Các ngài: Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ; Quan Dẫn hồn Sứ giả Ngũ đạo Tướng quân, quan Đường xứ Thổ địa Chính thần cùng liệt vị tôn thần cai quản ở trong xứ nghĩa địa nhân dân thôn An Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào

- Ngài Ngài Đương Ất Tỵ niên Chí đức Tôn thần: Ngô Toại Đại tướng Quân; Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải Hành binh chi Thần, Hứa Tào Phán quan;

- Các Ngài Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần,

Trưởng nam phái Út, Chi Hai họ Lương gốc xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã chuyển cư lên Lào Cai từ năm 1964 tiếp Kính lạy Hương linh: Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ, Hiển khảo Lương Đức Th

Hôm nay là ngày   /02/2026, nhằm ngày    /Chạp năm Ất Tỵ, năm thứ 81 của nước CHXHCN Việt Nam, Trưởng Nam cùng mẫu thân, các em, các cháu vâng theo lệ cũ

Tại khu mộ tổ tiên của gia đình trong nghĩa địa nhân dân thôn  An Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng xưa nay thuộc xã Xuân Quang, tỉnh Lào Ca

Nhân sắp sang năm mới Bính Ngị 2026, tín chủ con thành tâm sắm lễ: quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám chứng kiến lời khấn cầu rằ

Gia đình chúng con có 2 ngôi mộ đã được quy tập là nơi cát táng củ

- Tổ Tỉ Đặng Thị Chỉ hiệu Diệu Cầm sinh năm Canh Dần 1890 tại bản quán, tạ thế ngày 22/12/1982, tức là ngày 08 tháng Một năm Nhâm Tuất; Mộ phần đã quy tập trong Lương Đức mộ viên ở nghĩa địa nhân dân thuộc địa phận xóm An Phong, thôn An Hồ ở km 36 Quốc lộ 70 thuộc địa phận xã Phong Niên huyện Bảo Thắng từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Một Tân Tỵ

- Hiển khảo Lương Đức Thân (hiệu…….) sinh năm Quý Hợi 1922, tạ thế lúc 2 giờ 5 phút sáng ngày Thứ Ba 21/01/1997 (tức là ngày 13 tháng Chạp năm Bính Tí); Cát táng, đặt tại nghĩa địa nhân dân thôn An Hồ, xã Phong Niên huyện Bảo Thắng từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Một Tân Tỵ)

Vậy chúng con xin kính cáo các đấng Thần linh, Thổ công, Thổ phủ Long Mạch, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ và Chư vị Tôn thần cai quản trong khu vực này được hay, kính mời chư Thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho các Hương linh luôn vững chắc mộ phần, yên ổn cốt xương, siêu thoát vong hồn. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bìn

Chúng con Đồng xin các quan ngài cai quản nơi đây mở lượng hải hà, quan Sứ giả dẫn đường, bố cáo cho các ty mọi nơi thuộc hạt biết, không ai ngăn cản cho vong hồn được nhận lĩnh lễ vật an ổn ở nơi mộ phần, khiến cho vong âm, người dương đều được hưởng phúc lạ

Lại xin đưa vong hồn về trước gia đường trong ngày Tết để cho con cháu phụng sự, báo đáp thâm ân, tỏ lòng hiếu kính.

Âm dương cách trở, bát nước nén hương, tâm nguyện lòng thành, lễ bạc tiến dâng, cúi xin chứng giám, phù hộ độ tr

Theo như thường lệ tuế trừ cáo tế, cúi xin chư vị tôn thần, liệt vị gia tiên, và các hương linh đang ngự nơi đây giáng lâm án toạ, phủ thuỳ chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ toàn gia lớn bé trẻ già bình an thịnh vượng, bách sự như ý, vạn sự tốt lành, luôn luôn mạnh khoẻ, gia đình hoà thuận.

Thành tâm bái thỉnh, cúi xin chư vị tôn thần và gia tiên tiền tổ chứng giám phù hộ độ

 Cẩn cáo !

-Lương Đức Mến, 21 tháng Chạp Ất Tỵ-

2. TẾT ÔNG TÁO

2.1.Trước hết, sắm Vàng mã: Bộ mũ ông Công gồm hai mũ của hai Táo ông và một mũ của Táo bà. Thêm Đinh tiền vuông (thay thế), tiền âm phủ (để biếu); nến, trầm.

2.2.Mâm cỗ cúng:

      - Thịt vai gáy lợn luộc chín.

      - Một bát canh; một đĩa xào có rau.

      - Một đĩa muối, đĩa gạo (rải quanh nhà sau cúng).

      - Hoa quả, trầu cau, rượu, nước.

Nhớ có cá chép với niềm tin cá chép hóa rồng để tiễn các vị Táo về trời chầu Ngọc Hoàng. Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo Quân một con gà luộc thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy! Không phải mâm cúng Gia tiên nên không cần bát cơm to, không bày 5 bộ bát đũa, chén.

2.3.Quá trình cúng ông Công ông Táo thường được làm trước thời điểm các Táo cưỡi cá chép lên trời, nghĩa là trước 12 giờ ngày 23 tháng Chạp Âm lịch hằng năm bởi theo quan niệm, cổng thiên đình sẽ bị đóng sau 12 giờ ngày 23.

Năm 2026 cúng ngày 23, 25, 27 tháng Chạp đều được

Trước khi vào bao sái bàn thờ phải có văn khấn xin phép

2.4.Sau khi khấn, lễ xong thì hoá vàng, hoá luôn cả cỗ mũ, đinh tiền năm trước kèm tiền âm phủ và thả cá chép còn sống xuống ao, sông suối cá sẽ hoá rồng để ông công cưỡi lên chầu trời. Sau đó, sẽ lập bài vị mới cho Táo công

Thông thường vào ngày này gia đình tôi cũng có mua bộ mũ ông Táo, quét dọn ban thờ, dùng gừng tươi giã hòa với rượu vẩy lên bàn thờ. Khấn cúng xong khi hóa vàng đốt cả chân hương (để lại 3 chân), chồng tiền cũ. Sau đó thay chống tiền mới và bát hương cứ thế để nguyên

2.5. Bài Khấn

2.5.1.  TRƯỚC KHI VỆ SINH (bao sái) BAN THỜ:

Con xin tấu lạy 9 phương Trời, 5 phương Đất, chư Phật 10 phương,

Con xin tấu lạy Ngọc Hoàng Đại Đế, các vị Thiên Tướng, Thiên Binh, Thiên Mã, cùng chư vị  Đại Thánh, Đại Thần, Đại Tiên;

Con xin tấu lạy Hoàng thiên Hậu thổ, chư vị Tôn thần;

Con xin tấu lạy: Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.

Xin tấu lạy vong linh Lương tộc lịch đại Tổ tiên, bà tổ cô và các bà cô các đời, ông mãnh, cô bé đỏ, cậu bé đỏ trong dòng họ gốc xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã chuyển cư lên Lào Cai cùng các hương linh lẩn quát quanh đây,

Tín chủ con là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955 cùng Vợ, con Trai, các cháu;

Tại gia đường ở SN 328 Hoàng Liên thuộc tổ 14 phường Kim Tân, tf Lào Cai xưa nay thộc phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai,

Nay nhân ngày 23 tháng Chạp, theo tục lệ cũng là chuẩn bị Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tín chủ con cảm nghĩ thâm ân trời đất, nhớ đức cù lao tiên tổ, xin phép chư vị Thánh, Tiên, Thần, Phật, Thổ công Thổ địa, Táo phủ thần quân, Gia tiên tiền tổ họ Lương cho phép tín chủ con được lau rửa đồ tự khí, dọn ban thờ cho sạch sẽ để tiễn năm cũ Ất Tỵ, đón năm mới Bính Ngọ.

Kính thỉnh chư vị, gia tiên chứng tâm cho gia trung tín chủ chúng con, nhất một lòng, trung một dạ hương khói phụng thờ chư vị tôn thần gia tiên tiền tổ, nguyện chư vị giáng phúc trừ tai độ âm độ dương, cho gia trung chúng con. Con xin đa tạ

Khi bao sái xong tín chủ sắp lại đồ tế khí xin kính thỉnh các Ngài về ngự để gia đình được tiếp phụng thờ, nương nhờ sự chở che.

 Cẩn cáo!

2.5.2. KHI BÀY LẠI BAN THỜ:

- Con lạy chín phương Trời, năm phương Đất, mười phương Phật;

- Con xin tấu lạy Ngọc Hoàng Đại Đế, các vị Thiên Tướng, Thiên Binh, Thiên Mã, cùng chư vị Đại Thánh, Đại Thần, Đại Tiên;

- Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần;

- Kinh lạy ngài Đương Ất Tỵ niên Chí đức Tôn thần: Ngô Toại Đại tướng Quân; Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải Hành binh chi Thần, Hứa Tào Phán quan;

- Con kính lạy ngài bản gia Đông Trù Tư mệnh, Táo phủ Thần quân; Thổ địa Long mạch Tôn Thần; Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần,

Tín chủ con là: Lương Đức Mến sinh năm Ất Mùi 1955, hậu duệ đời thứ Bẩy của Lương Đức gia tộc gốc Chiến Thắng, An Lão xưa nay là  xã An Hưng, Hải Phòng;

Cư trú là SN 328 đường Hoàng Liên, thuộc địa phận tổ 14, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai xưa nay thuộc phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Trưởng Nam chi phái

Hôm nay là thứ Ba ngày 10 tháng 02 năm 2026 nhằm ngày 23 Ất Mão tháng Chạp Kỷ Sửu năm Ất Tỵ 2026, là ngày Thanh Long Hoàng Đạo, tục gọi là ngày Tết Táo Quân, chuẩn bị bước sang mới Bính Ngọ,

Tại gia đường ở xóm An Phong, thôn An Hồ xã Phơng Niên huyện Bâỏ Thắng xưa nay thuộc xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai;

Tín chủ con cùng toàn gia, tuân theo lệ cũ, thành tâm sắm sửa: hương, hoa, kim ngân, trà, quả, áo, mũ, hia, cá, xôi, gà, canh, muối, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến tôn thần,

Đốt nén Tâm hương cung thỉnh kính mời: ngài Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Thổ Địa Long Mạch Tôn thần, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần, những là vị chủ ngũ tự gia thần, thương xót tín chủ

Giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật, tín chủ trình báo:

Vừa dịp hết năm, tháng vừa cuối Chạp.

Gia đình sửa lễ, tâm thành dâng lên.

Cảm tạ phúc dày nhờ Thần phù hộ. Kính mong thần Bếp tâu bẩm giúp cho:

Trong năm qua núp nhờ ân phúc, vận khí hanh thông mọi việc đều như ý.

Vượt mọi khó khăn, Gia tộc thảo dân; Trong một năm qua, Đã nhiều nỗ lực.

Tiến bộ vượt bực, Đương chức chuyên cần, Hưu nhân gắng cố

Các Tiểu gia đình, Vượt mọi khó khăn, Xây đời no đủ.

Ba mươi Tư chắt cả gái và trai, hay ăn chóng lớn

Dâu Nội sinh con, khỏe mạnh hân hoan,

Mẹ già gặp nạn đã qua nguy kịch;

Việc họ lo toan, Trong ngoài trọn vẹn;

Nhiều chuyện hứa hẹn, Phát triển đi lên.

Còn nhiều thắng lợi, Cũng lắm khó khăn;

Xin gắng chuyên cần, để luôn phát triển

Mẫu thân  chúng con sang tuổi trên Trăm tỉnh táo, tinh nhanh.

Thôi để tiết kiệm, thời gian Táo nhà, Xin tạm kể sơ, Kính nhờ tấu giúp

Cúi xin tôn thần: xá mọi lỗi lầm trong một năm qua, gia ân châm chước.

Nay con làm lễ với tấm lòng thành, tỏ lòng biết ơn; Xin tiễn chư ngài về trời trình tấu.

Mong tới năm nay, tiếp được chở che; Ban lộc ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già:

An ninh khang thái, Vạn sự tốt lành, Gia đạo hưng long, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;

Đem đến điều lành, mang đi điều dữ, tăng lộc, tăng người,

Già mạnh khỏe, tinh anh nêu gương sống đẹp; Trẻ thêm chức thêm tiền, thẳng đường tiến bộ.

Bé bú mớm hay ăn chóng lớn, luôn gặp vía lành; Lớn học hành mạnh khỏe chăm ngoan, đã thi là đỗ

Giờ xin:

Thiêu hóa hương hoa, Cùng là vàng mã; Đôi lời khấu tạ, Mạo muội tỏ bày.

Có sớ văn này, Kính cậy Táo quân, Tấu tới Ngọc Hoàng, Mọi điều tường tỏ.

Tín chủ cáo biệt. Về lo đón Tết,

Chúng con người trần, lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, Dãi tấm lòng thành, trình tấu thực thà. Cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì, Muôn trông ơn đức.

Cẩn cáo!

-Lương Đức Mến, cẩn soạn, ngày 21 tháng Chạp Ất Tỵ-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

07 tháng 2 2026

MÃI LÀ CÔNG AN NHÂN DÂN

Nghỉ hưu là bước ngoặt cuộc đời,

Khi đủ tuổi, đến thời gian gác kiếm,

Ngẩng cao đầu về tháng năm cống hiến,

Thoảng chút buồn nghĩ lại buổi chia ta

Đã hết “đương” là vĩnh viễn từ nay

“CỰU SĨ QUAN”, người của thôn, của phố,

Chuyển sinh hoạt về với phường với tổ,

Quanh mình giờ là Cô, Bác, Chú, Anh

Vì đã hưu nên dẫu tóc chẳng xanh

Không phải nhuộm để dối mình còn trẻ,

Chẳng đau đầu với hồ sơ, án lý,

Chẳng phải chờ, nghe ngóng, đợi nâng lương.

Làm “hưu nhân” thanh thản với đời thường:

Không “đóng thùng”, chẳng đi giày, đội mũ,

Cảnh phục, cấp hàm xếp sâu trong tủ

Buổi được mời, khi nhớ mở ra mang.

Từ ngày ấy là hết chặng làm “quan”

Thành “thứ dân” suốt phần đời còn lại.

Lời thề xưa thấm trong ta mãi mãi

Nguyện sáng trong không thể lẫn vàng thau!.

Nghỉ hưu rồi nhưng đã thực nghỉ đâu:

Người cùng phố, gia đình và lớp trẻ

Vẫn gọi mình như đã thành thông lệ

Nên càng cần vững toàn diện, toàn thân.

Rảnh việc quan, hiểu hai chữ “LÀM DÂN”,

Chuyện phố phường, chuyện người cao tuổi,

Chuyện họ hàng, chuyện nhà chuyện hội,

Chuyện bon chen, chuyện vần vũ thế gian...

Về nghỉ hưu trở thành “Cựu Sĩ quan”

Nhưng chất lính suốt đời không thay đổi.

Vẫn rạch ròi, đầy lạc quan, sôi nổi

Sống có tình, nhân, nghĩa, đễ, hiếu, trung.

Chẳng ai bắt vẫn tự nguyện “Ba cùng”:

Ở, ăn, sống chung một nơi cư trú,

 Lương ngần ấy luôn duy trì nộp đủ,

Chơi khuya về không quên ngủ cùng “Dân”.

Tuổi Lục tuần đôi lúc cũng “Hồi xuân”,

Ngắm bóng hồng thoáng gợi lòng ao ước.

Cũng mơ thầm: nếu thời gian quay ngược

Nay hưu rồi, ngồi tựa để lắng nghe!

Rảnh họp hành, luôn dịp ghé thăm quê,

Lúc hiếu, hỉ, khi lại về việc họ:

Thương quê nghèo, thương cảnh đời gian khó

Muốn giúp nhiều nhưng “Lực bất tòng tâm”.

Trở lại nhà nhiều bữa chẳng dọn mâm:

Mỗi một mình, tự xoay trần làm chủ.

Con sinh cháu thành ra ta xa vợ,

Nhà thêm người mình lại hóa cô đơn

Sẵn thời gian, muốn hiểu biết trăm miền

Đi du lịch, thăm lại nơi chốn cũ,

Dạo phồn hoa, viếng danh lam cẩm tú

Yêu đất này, bao cảm xúc đầy vơi

 Lúc rảnh rang nhìn, ngẫm lại sự đời

Quên giận, ghét để nương theo quy luật.

Tự bằng lòng giữa những điều được-mất,

Ngẩng cao đầu thanh thản giữa nhân gian.

Ngành 81 luôn đậm chữ VÌ DÂN

Đội ngũ vững, lên chính quy hiện đại

Tâm sáng trong, vượt muôn trùng trở ngại.

Vững niềm tin nối tiếp những chiến công.

Giữa đời thường, luôn tâm nguyện trong lòng:

Hưu trí rồi vẫn khắc ghi lời Bác!

Vẫn vững, trong như thời đang công tác

Bởi ta mãi là “CÔNG AN NHÂN DÂN”.

- Lương Đức Mến,  ngày QTNCT 2014, sửa lại 8/2016, sửa tiếp 06/02/2026-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Nhân có sự “chồng lấn” lịch tháng giáp Tết Bính Ngọ thử TÌM HIỂU VỀ LỊCHNhân có sự “chồng lấn” lịch tháng giáp Tết Bính Ngọ thử TÌM HIỂU VỀ LỊCH

1. Nhu cầu cuộc sống đặt ra cho con người cần phân biệt những gì thuộc về quá khứ, những gì đang diễn ra và những gì sẽ diễn ra tiếp theo. Từ đó hình thành nên khái niệm Thời gian 時間 . ‘

 Để nhận thức thời gian, qua tích lũy kinh nghiệm cổ nhân từ khái niệm ngày (, có mặt trời), đêm (, không có ánh mặt trời) ban đầu dần đến nhận xét đêm có trăng, đêm không trăng (Sóc, , New Moons), trăng tròn (Vọng, ) trăng khuyết hình thành nên khái niệm tháng . Nhiều ngày, tháng chung một đặc trưng thời tiết hình thành nên mùa. Các mùa tuân theo một quy luật nhất định và vòng đó gọi là năm (Niên, ). Chính quá trình giao tiếp, sự phát triển của xã hội đặt ra yêu cầu phân chia thời gian.

2. Hệ thống đặt tên cho các chu kỳ thời gian, thông thường là theo các ngày được gọi là lịch . .

Cách tính lịch gọi là Lịch pháp 曆法 gắn liền với thiên văn, với chiêm tinh học, là sản phẩm quan trọng mà các nền văn minh cổ của Trung Hoa, Ai Cập, Babilon, Hy Lạp đã đạt được. Quyển sách ghi lại lịch, đếm ngày, để ghi chép công việc, để tính toán sự biến chuyển của các mùa gọi là Lịch thư (H: 曆書, A: Almanac, P:Almanach), tức sách lịch, niên giám. Vậy: Lịch là một hệ thống tổ chức, ghi chép thời gian theo cách thuận tiện cho việc điều tiết cuộc sống dân sự, các lễ nghi tôn giáo cũng như cho các mục đích lịch sử và khoa học. Nói một cách dễ hiểu: “Lịch” là phép quy định những khoảng thời gian, mà hiện nay ta thường biết đến là các từ: Khi cần chia nhỏ đơn vị thời gian dưới ngày người ta chia ra giờ, phút, giây... trên năm hợp thành Giáp, Hội giáp, Thập kỉ, Thế kỉ, Thiên niên kỉ.

3.Lịch sử từng có nhiều phép làm lịch. Thông dụng nhất hiện nay là:

3.1. Năm Dương lịch (, The sun calendar/Le calendrier solaire) được gọi tên bằng số đo dạng tuyến tính (線性關係, linear) biểu diễn được trên trục số, không bao giờ lặp lại. Do vậy nhân loại sẽ không còn được gặp năm dương lịch (Lịch Gregorius được dùng từ 15/10/1582) mang tên 2026! Phép tính lịch nầy dựa vào chu kỳ mặt Trời và mặt Trời thuộc Dương nên gọi như vậy. Lịch hiện đang sử dụng là lịch Gregory .

3.2. Còn năm Âm lịch (, lunar calendar/ Le calendrier lunaire) dựa vào chu kỳ mặt Trăng và mặt Trăng thuộc âm nên gọi như vậy mà thực tế hiện đang dùng là Âm Dương lịch 陰陽 được áp dụng từ thời Minh (,1368 – 1644)  và hoàn chỉnh như ngày nay dưới triều Thanh (清朝, 1644 – 1911) lại đặt tên bởi Can Chi 干支 theo chu kỳ (环状, cyclic) trong Lục thập hoa Giáp 六十花甲 hay “chu kỳ Giáp Tý” 甲子 do đó 60 năm sau nhân loại sẽ gặp lại năm mang tên Ất Tỵ 乙巳!. Lịch âm hiện tại, Âm dương hiệp lịch (陰陽合歷, Lunisolar calendar)  đã  phối hợp năm có bốn muà 四時: Xuân , Hạ , Thu , Đông và tám tiết chính 八節 trong 24 tiết khí 節氣 với tháng có trăng tròn, trăng khuyết, đêm không trăng.

4.Âm lịch và Dương lịch cùng là phép tính đo thời gian và một năm (bình thường) đều gồm 12 tháng nhưng cách tính khác nhau nên có sự “vênh” nhau về đại lượng chỉ thời gian. Trong đó năm mới Dương lịch bao giờ cũng đến sớm hơn năm mới Âm lịch hơn 1 tháng. Do vậy có sự “chồng lấn” ở tháng 1, 2 năm Dương lịch mới vẫn thuộc năm Âm lịch cũ. Điều đó dễ nhầm khi quy đổi tuổi dương lịch sang âm lịch và ngược lại, ngay cả với người gọi là “thầy” nếu đơn giản hóa. Khi đó “xem” sao mà chính xác được! Ví dụ:

4.1. Chị dâu họ tôi là Nguyễn Thị Đê, sau một đợt ốm dài (Xơ gan cổ trướng) đã mất hồi 23 giờ 25 phút ngày 21/3/2011 tức đêm thứ Hai ngày 17/02 âm lịch tại nhà riêng ở thôn Soi Chát xã Sơn Hải. Tứ trụ tử là Bính Tý, Ất Hợi, Tân Mão, Tân Mão (tháng 2: từ 11 giờ 40 đêm, theo âm lịch mới tính là ngày hôm sau nên vẫn thuộc giờ Bính Tý của ngày Ất Hợi 17/2).

Theo CHỨNG MINH THƯ thì chị sinh ngày 30/01/1953. Do không nắm rõ nguyên lý tính lịch nên gia đình đinh ninh chị tuổi Quý Tị. Thực ra, do sự “chồng lấn” giữa hai loại lịch nên năm Quý Tị bắt đầu từ thứ Bẩy ngày 14/02/1953 (Bính Thân, Giáp Dần, Quý Tị) và kết thúc vào thứ Ba ngày 02/02/1954 (29 tháng Chạp tức Kỷ Sửu, Ất Sửu, Quý Tị). Do vậy ngày 30/01/1953 vẫn là năm Nhâm Thìn (từ ngày 27/01/1952 đến ngày 13/02/1953) và đó là ngày 17 tháng Chạp âm (có Bát tự là : xx, Nhâm Ngọ, Quý Sửu, Nhâm Thìn), tức chị tuổi Thìn, 59 tuổi!

Nếu chị tuổi Tị và ngày sinh là ngày âm lịch thì vô lý bởi năm Quý Tị vào tháng Giêng không có ngày 30, ngày cuối tháng là ngày 29 tháng Giêng, tức 14/3/1953 (có Bát tự là: xx, Giáp Tý, Giáp Dần, Quý Tị) và vào thứ Bẩy.

Ngay cả “thầy” Bùi Văn Thiếc cũng lấy tuổi Quý Tị để xem giờ, chọn ngày cho tang lễ! Rõ ràng như vậy là tính cho “vong” đẻ trước chị tôi 1 tuổi nhưng để anh và các cháu khỏi lo, tôi không phân tích rõ “cơ sở khoa học” của phép làm lịch và xem ngày như đã nói ở trên tức là giữ nguyên kết quả gia đình đưa.

Trường hợp chị tôi gia đình và thầy đổi một cách “máy móc” lại đúng tuổi 59 chị tôi khi mất.

4. 2. Còn trường hợp chú Lê Hồng Phát hàng xóm cạnh nhà tôi lại khác. Chú mất ngày 10 tháng 6  năm 2014 tức là ngày 13 tháng 5 năm Giáp Ngọ. Hồ sơ ghi chú sinh ngày 23/01/1965, tức là ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thìn tức khi mất chú 50 tuổi (âm). Nhưng cơ quan và trong gia đình có một số người biết một tí bảo đầu năm 1965 vẫn là năm “1964 âm” nên chú đã 51 tuổi!

Thực ra không hề “năm 1964 âm” và tuổi (âm lịch) = Năm hiện tại (DL) - Năm sinh (DL) + 1.

5. Năm nay Dương lịch là 2026 (MMXXVI) đã sang lâu rồi nhưng Âm lịch (nhuận 2 tháng 6, nên Lập xuân trong năm là 17/Chạp) vẫn là Ất Tỵ đến  17/02 mới sang Bính Ngọ (và nó kéo tới năm 2027, ngày 05/02).

-Lương Đức Mến, BS từ nhiều nguồn TK-  

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

27 tháng 1 2026

Thử xem việc ĐỔ TRẦN (MÁI) NHÀ VÀO THÁNG 4 BÍNH NGỌ

Đổ mái (cất nóc) vào tháng 4 năm Bính Ngọ (tháng 5 hay 6 năm 2026) có nhiều ngày tốt, đặc biệt các ngày Đại cát/Tiểu Cát, nhưng cần tránh ngày Hắc đạo để đảm bảo phong thủy đồng thời tránh ngày “kỵ tuổi” (đã viết ở phần khởi công). Các ngày đẹp nổi bật thời gian này có thể gồm:

Ngày 18/5/2026 vào thứ Hai, tức ngày 02/4 hay ngày Nhâm Thìn, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; là ngày Tư Mệnh Hoàng đạo;

Giờ tốt trong ngày: Dần (03h - 05h, sớm quá khó kịp), Thìn (07h - 09h – nên chọn), Tỵ (09h - 11h), Thân (15h - 17h), Dậu (17h - 19h), Hợi (21h - 23h)

Thứ Tư ngày 20/5/2026, tức này 04/4 hay ngày Giáp Ngọ, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; là ngày Thanh Long Hoàng đạo.

Giờ tốt trong ngày: Tí (23 - 01h), Sửu (01h - 03h), Mão (05h - 07h), Ngọ (11h - 13h, nên chọn), Thân (15h - 17h), Dậu (17h - 19h)

Thứ năm, ngày 21/5/2026 là ngày 5/4/ hay ngày Ất Mùi, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; là ngày Minh Đường Hoàng đạo.

Giờ tốt trong ngày :   (03h - 05h), Mão (05h - 07h), Tỵ (09h - 11h),Thân (15h - 17h), Tuất (19h - 21h), Hợi (21h - 23h).

Chủ nhật, ngày 24/5/2026 là ngày 8/4 hay Ngày Mậu Tuất, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; là ngày Kim Quỹ hoàng đạo (Tốt với mệnh Gia chủ). Nên Chọn bởi Chủ Nhật con cháu nghỉ làm, nghỉ học hơn nữa đây là ngày Thổ, hợp mệnh gia chủ (Sơn Hạ Hoả).

Giờ tốt trong ngày: Dần (03h - 05h), Thìn (07h - 09h, nên chọn), Tỵ (09h - 11h), Thân (15h - 17h), Dậu (17h - 19h), Hợi (21h - 23h)

Thứ hai, ngày 25/5/2026 là ngày 9/4 hay ngày  , tháng  , năm  ; là ngày Kim Đường Hoàng đạo.

Giờ tốt trong ngày :  Sửu (01h - 03h), Thìn (07h - 09h), Ngọ (11h - 13h), Mùi (13h - 15h), Tuất (19h - 21h), Hợi (21h - 23h)

Thứ Tư ngày 27/5/2026, tức ngày 11/4 nếu lấy ngày Can chi: Ngày Tân Sửu, tháng Quý Tị, năm Bính Ngọ; Là ngày Ngọc Đường  Hoàng đạo

Giờ tốt: Canh Dần (3h-5h): Kim Quỹ, Tân Mão (5h-7h): Bảo Quang, Quý Tị (9h-11h): Ngọc Đường, Bính Thân (15h-17h): Tư Mệnh, Mậu Tuất (19h-21h): Thanh Long, Kỷ Hợi (21h-23h): Minh Đường

Thứ hai, ngày 1/6/2026 là ngày 16/4/2026 Âm lịch tức Ngày Bính Ngọ, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; là ngày Thánh Long Hoàng đạo

Giờ tốt trong ngày : Tí (23h - 01h),bSửu (01h - 03h), Mão (05h - 07h), Ngọ (11h - 13h), Thân (15h - 17h), Dậu (17h - 19h)

Thứ ba, ngày 2/6/2026 là ngày 17/4/2026 Âm lịch hay ngày Đinh Mùi, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; là ngày Minh Đường Hoàng đạo.

Giờ tốt trong ngày : Dần (03h - 05h), Mão (05h - 07h), Tỵ (09h - 11h), Thân (15h - 17h),Tuất (19h - 21h), Hợi (21h - 23h).

Thứ sáu, ngày 5/6/2026 là ngày 20/4/2026 Âm lịch tức là ngày Canh Tuất, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; là ngày Kim Quỹ Hoàng đạo .

Giờ tốt trong ngày : Dần (03h - 05h),Thìn (07h - 09h),Tỵ (09h - 11h),Thân (15h - 17h),Dậu (17h - 19h),Hợi (21h - 23h).

Thứ bảy, ngày 6/6/2026 là ngày 21/4/2026 Âm lịch tức là ngày Tân Hợi, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ; Nó là ngày Kim Đường Hoàng đạo.

Giờ tốt trong ngày : Sửu (01h - 03h), Thìn (07h - 09h), Ngọ (11h - 13h), Mùi (13h - 15h), Tuất (19h - 21h), Hợi (21h - 23h).

Thứ hai, ngày 8/6/2026 là ngày 23/4/2026 Âm lịch hay ngày Quý Sửu, tháng Quý Tỵ, năm Bính Ngọ, Ngày Ngọc Đường Hoàng đạo.

Giờ tốt trong ngày : Dần (03h - 05h), Mão (05h - 07h), Tỵ (09h - 11h), Thân (15h - 17h), Tuất (19h - 21h), Hợi (21h - 23h).

Thứ bảy, ngày 13/6/2026 là ngày 28/4/ Âm lịch và Chủ nhật, ngày 14/6/2026 là ngày 29/4/2026 Âm lịch nhưng cuối tháng âm lich rôi, không nên chọn

Lưu ý quan trọng:

Ngày xấu cần tránh: ngày Hắc Đạo, có sao xấu như Thiên Lao, Nguyên Vũ.

Chọn tuổi: Nên chọn ngày có can chi tương sinh với tuổi của gia chủ để công việc hanh thông, an cư lạc nghiệp.

Thời tiết: Tháng 5,6 dương lịch có thể có mưa, nên theo dõi dự báo thời tiết kỹ lưỡng.

Nghi thức: Gia chủ đổ 7 xô hay xẻng vữa phía trên nơi dự định đặt Ban thờ

Bài cúng (đã có).

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!