[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


28 tháng 2 2026

Văn khấn tại gia nhân ngày RẰM THÁNG GIÊNG

(Lồng kết Lễ Phật tiết Thượng nguyên, Cầu an trừ hạn Cửu diệu, Giỗ Tổ Lương tộc đồng yết cáo sang tuổi 72)

Kính nghe:

Có thờ có thiêng, có kiêng có lành; Có Hiếu được đáp đền,  có Kính ắt Phật, Thần phù hộ.

Cành rợp bóng, dòng chảy không ngừng vì gốc vững, nguồn dài; Gia môn khang thái bởi Linh Miếu trường tồn, oai linh Tiên Tổ.

Uống nước phải nhớ nguồn, hưởng trái thơm nhớ ơn người trồng; Đó là nếp hiếu nghĩa ngàn xưa, là đạo cương thường vạn cổ.

Bởi thế cho nên: Nhân sắp đến Rằm đầu năm, chữ gọi Thượng nguyên, gặp kỳ giỗ Tổ, ngưỡng vọng Tôn linh; Từ nơi biên viễn hướng vọng cố hương, Lễ bạc lòng thành, những mong tường tỏ.

 Hôm nay: chủ Nhật ngày 01/03/2026, tức ngày 13 Giáp Tuất, tháng Giêng Canh Dần năm Bính Ngọ, ngày kia là Tết Nguyên tiêu, gặp kỳ tưởng nhớ Lương Đức gia tộc Triệu Tổ, lại trùng dịp con sang tuổi 72, đứng trước bàn thờ tại gia ở 328 Hoàng Liên, tổ 14, phường Kim Tân, tf Lào Cai nay là Tổ 14 Kim Tân phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai, 

Tín chủ con: Đệ Thất đại Lương Đức tộc gốc Phương Hạ, xãChiến Thắng, huyện An Lão xưa nay là xã An Hưng, tf Hải Phòng: Lương Đức Mến, sinh năm 1955, hiện ngụ tại Số nhà 328 đường Hoàng Liên thuộc tổ 14 Kim Tân, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai, cùng Vợ, Con, Các cháu,...sắm sanh phẩm vật,...dâng lên trước án,

Kính lạy :

- Chín phương Trời, năm phương Đất, chư Phật mười phương, Ba ngôi Tam Bảo;

- Ngài Đương cai Bính Ngọ niên Chí đức Tôn thần: Văn Triết Đại tướng quân; Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao Hành Binh chi Thần, Nhân Tào Phán quan;

- Chín ngài Tinh quân trên Thiên đình chủ từng sao trong Cửu diệu;

- Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng, các Ngài Thổ Địa, Táo Quân, Long Mạch Tôn Thần của xứ này;

Con tiếp Kính thỉnh:

 Thủy tổ Lương Công Trạch, Tổ tỉ Nguyễn Thị Lã; Đệ Nhất Đại Tổ Lương Công Nghệ, Tổ Tỉ Lương Thị Còi cùng Hương linh Lương tộc Lịch đại tổ tiên, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Hiển khảo và các bậc phụ thờ theo tiên tổ của Lương tộc.

Cùng các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ, y thảo phụ mộc ở trong vùng biên viễn sôi động.

 Chữ rằng:  Vạn vật tạo thế gian, Cây theo cội lớn, nước tự nguồn trôi nên uống nước phải tìm Giếng chẩy ra; Người sinh trong trời đất, Thẩy cháu con ai nấy đều chung cành, cùng gốc nên phải báo ơn dầy Tiên Tổ.

Ngặt vì nỗi:

 Theo dòng đời, vì kế mưu sinh, chúng con phải rời bỏ quê hương, lên thành phố biên cương, nuôi dạy cháu con, theo cùng thời cuộc.

Lại những ngày tay trắng khai cơ san đất, lấp hồ, dẫu gian khó vẫn một lòng, một dạ.

Qua bao bận chí bền vượt khó, chiếu đất màn trời, vỡ ruộng, dựng nhà lòng vẫn nhớ về đất Tổ.

Đến nay:

Người ở lại phát huy truyền thống, bồi đắp quê hương; kẻ ra đi giữ biên thùy,  lòng không nguôi nhớ bể.

“Uống nước nhớ nguồn”, xanh chồi lá luôn nhớ sân hoè; “Vấn Tổ tầm Tông”, lớp hậu duệ vọng nơi đất Tổ.

Đất nước trải bao thăng trầm rồi non sông một mối thu về; Dòng họ qua mấy bận điêu linh, nay ngày càng rạng rỡ.

Nhờ phúc ấm Tổ tiên, cố gắng bản thân con học hành tấn tới, có công có việc nay sinh sống nơi phố phường biên ải.

Ơn trời gặp buổi “Quốc thái dân an”  phong tục xưa việc họ quay về; Phúc nhà nhớ câu “Tổ Công Tông Đức”, tuân lệ cũ vọng chiêm bái Tổ.

Từ một gia đình nay thành 3 Tiểu gia đình, Vượt mọi khó khăn, Xây đời no đủ.

Nay xin kính cẩn dâng:  hương, nến, trầm, trà, rượu, trầu, vàng, mã, xôi, gà, quả, hoa… ; trình bầy lễ mọn, biểu lộ lòng thành, Hướng nhớ Phật, Thần, tưởng vọng Thủy Tổ.

 Kính mời:

 Hoàng Thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn Thần, Phật, Thánh cùng Hương linh Lương tộc lịch đại liệt vị tổ tiên, các bậc phụ thờ và các phụ vị thương vong đã kính thỉnh giáng lâm trước án, xét xoi chứng giám, cùng  về hâm hưởng.

Chúng con nguyện:

Đem đạo nghĩa xử sự hàng ngày, lấy chữ nhân làm điều lẽ sống.

Nguyện nối nghiệp tổ tông truyền lại, dạy con cháu  mãi dõi noi theo,

Mở lòng Nhân, trồng cây Đức giữ nếp nhà vững bền muôn thủa.

Cúi xin :

Tôn Thần, Phật, Thánh, Cửu diệu Tinh quân, lễ bạc chấp kỳ; Giải hạn nhân tinh, giáng trần phù trợ.

Giúp gia đình, giải trừ vận hạn, đem đến điều lành, đem đi điều dữ.

 Mọi sự cát tường, xây dựng ấm no, vượt qua khốn khó.

Cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;

Giúp đệ tử: Đem đến điều lành, mang đi điều dữ, thêm chức thêm tiền, thẳng đường tiến bộ.

Bé nhỏ thơ hay ăn chóng lớn, luôn gặp vía lành; Người học hành mạnh khỏe chăm ngoan, đã thi là đỗ.

Đường công danh sự nghiệp hanh thông; Để dòng họ trường tồn tiến bộ.

Chúng con nay:

Lời quê chân thật, chỉ tấm lòng thành, dâng nén hương thơm cùng là phẩm lễ;

Khi hương đã tàn, vàng mã kim ngân con xin thiêu hóa: gửi xuống cõi âm; Lễ vật phẩm thừa, xôi, rượu, canh, thịt, cháu con xin cùng: kết đoàn thụ lộc.

Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.

-Cẩn cáo-

-(Lương Đức Mến cẩn soạn,28/02/2026)-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Thử soạn Bài Văn tế cho NGÀY GIỖ TỔ của DÒNG HỌ

Bởi nhiều nguyên do, năm Bính Ngọ 2026 này lại không thể về quê dự Giỗ Tổ được cũng chẳng về nhà Mẹ ở xóm An Phong, An Hồ, Phong Niên, Bảo Thắng xưa nay là Phong, thôn An Hồ, xã Xuân Quang tỉnh Lào Cai cùng Mấu thân và các em thực hiện viêc Giỗ Vọng tại Gia đường được mà tiến hành ngay tại 328 Hoàng Liên thuộc Tổ 14 Kim Tân phường Lào Cai tỉnh Lào Cai cùng dịp cúng Rằm tháng Giêng trước khi tôi về Hà Nội và Hải Phòng.

Trên cơ sở các Bài Văn khấn còn lạiLịch sử dòng họ cũng như tham khảo Văn Tế của các họ khác, soạn bài này kính dâng lên Tổ:

MỪNG HÔM NAY:

Rằm Nguyên Tiêu khí sáng, trời xanh, Đất Phương Hạ[1] rộn vui xóm ngõ;

Ngắm núi Voi sừng sững, tưởng lại cội xưa, Nhìn sông Úc vỗ bờ, nghĩ về nguồn cũ;

Con cháu tộc Lương, Từ mọi phương hướng về đất Tổ.

Tụ họp tại Từ đường cùng nhau Giỗ họ.

THUỶ TỔ XƯA:

Sinh tại Tiên Minh [2]; Mộc Thủy[3]thế phổ.

Nhà 2 con gặp cảnh điêu linh; Nước “lưỡng chế”[4]cơ đồ nghiêng ngửa.

Xứ Đông[5] lụt lội, bao cảnh tang thương; Làng xóm xác xơ, đời càng thêm khổ.

Đành một gánh từ bỏ quê hương; Dắt vợ con tìm nơi dễ thở[6].

Thấy bên tả sông Văn nước ngập, muỗi đầy, người vẫn còn thưa; Bèn sang đó đắp bờ thau chua, rửa mặn, phát hoang, cầy vỡ.

Công sức mồ hôi đã thấu đến trời, Lại được họ Nguyễn, họ Mai[7]giang tay giúp đỡ.

Xây thành xóm, thành ruộng thành đồng; Dựng nên nhà, nên chồng, nên vợ.

Hoài cố hương, trở lại Đăng Lai[8]; Tiếp căn cơ và hương khói Tổ.

Lưu cháu con xây dựng Hạ Hương; Khởi tổ tiên họ Lương tân thổ.

ĐẾN ĐỨC TỔ TA :

Cha vốn gốc Phương Lai, Mẹ Quan Bồ[9] cùng lộ.  

Tuổi thơ ấu, xa cách chẳng biết nhau, Thời khôn lớn  nên duyên chồng vợ.

Tiếp việc mẹ cha xây dựng Hạ Hương[10], Bao công sức, khơi mương, vượt thổ.

Bồi lấp bãi lầy, Dọn quang lăn, cỏ.

Đây Cốc Tràng, Tôn Lĩnh, Kim Côn khi sương chiều, khi nắng sớm, nghĩa hương thôn ấm lạnh đỡ đần; Kìa Hương Lạp, Mông Tràng, Tôn Lộc[11], lúc nắng Hạ, lúc mưa Đông, tình xóm làng răng môi gắn bó.

Việc cấy cày, đã hết dạ chăm lo; Đường học vấn, còn dày công dạy dỗ[12].

Thuật xử thế ngoài êm trong ấm, thầy hay bạn tốt, chọn nhân nghĩa phương châm; Việc tề gia trên thuận dưới hòa, con thảo cha hiền, dùng hiếu từ quy củ.

Công ơn mở đất, ai cũng kính yêu; Tâm huyết xây quê, đời càng thấy rõ.

Theo đà tiến triển, cùng dân cũ tô điểm quê cha; Giữ nếp cổ truyền, nhớ cội nguồn dựng xây đất tổ.

THẾ RỒI :

Đang lo cấy cày, gặp buổi nhiễu nhương; Lại thương nỗi nhân dân đói khổ.

Vâng mệnh trên, Văn Úc xuôi dòng; Việc điếu phạt phò Vua dẹp bỏ[13].

Rằm tháng Giêng phỉ bình nhưng Cụ bị trận vong; Nhớ lời dặn, cháu con chọn làm ngày giỗ Tổ.

Sống nhiệt thành, tử trận linh thiêng; Với hậu thế Người luôn phù hộ[14].

HẬU DUỆ TRUYỀN :

Noi gương Tổ: ngày thất bát hai vợ chồng- Bên nồi, bên con, thau chua rửa mặn lập ra làng xóm, gây nghiệp kiệm cần; Học tiền nhân: Buổi khai hoang vài chi phái- Vượt núi, băng rừng, san đồi, vỡ ruộng dựng nên thôn bản, xây dòng tiến bộ[15].

Lời xưa, ý nay bồi đắp: đạo Thánh hiền cháu con ghi nhớ noi theo; Đất cũ, làng mới xum vầy: tình cốt nhục khắp nơi thân thương gắn bó.

Đức khai cơ cao tựa núi Voi; Ân dưỡng dục dài hơn sông Úc.

Mênh mông bể cả, tổ ấm tài bồi; Thăm thẳm non cao, tôn công tế độ.

Để có ngày phú quý, bao công sức đổ xuống đất này; Vì sự nghiệp mai ngày, biết bao lần vượt khó. 

Quê hương đổi mới nhờ địa lợi mà bát ngát màu xanh; Nội lực phát huy lấy nhân hoà để vượt qua gian khổ.

ĐÚNG LÀ:

 Tu nhân, tích đức, Phật đền cho; Khổ tứ, lao tâm, Trời chẳng phụ.

Trải lúc cơ trời biến cải, dù buổi thái bình hay cơn binh lửa, sức âm phò quả đã vô cùng; Qua tuần cuộc thế đổi thay, dù nơi đất khách hoặc chốn quê nhà, ơn mặc trợ mỗi ngày mỗi tỏ.

Đất lành người đảm, đời này sang đời nọ, thụ hưởng hồng ân;  Nhân tốt quả xinh, lớp trước tiếp lớp sau, đượm nhuần phúc thọ.

NAY GẶP BUỔI:

Kinh tế thị trường,  Giao lưu mở cửa.

Dẫu đã hướng đi lên; Còn muôn điều thách đố.

 Sao cho kịp bước canh tân, Để khỏi mang danh bảo thủ.

 Học ông cha: mở óc suy tư, Cùng dòng họ: bền gan gắng cố.

 Khắp tứ phương: Nam, Bắc, ngược, xuôi, Dù bách nghệ : sĩ, nông, công, cố.

Đường kinh doanh đã quyết là thành, Nghiệp khoa cử đã thi là đỗ.

BỞI THẾ CHÁU CON NAY:        

Tu sửa Gia đường; Chỉnh trang Phần mộ.

Nhớ người góp công sửa chỗ đi về; Ghi người công đức xây nơi thờ tự.

Mộ phần tu chỉnh, nghìn thu cựu tích tô bồi; Tự sở phong quang, năm Phái cơ ngơi minh lộ.

Sưu tầm tài liệu, thi văn tuyển trạch, phụ lục dồi dào; Bổ túc di dung, thế thứ phân minh, Phái Chi đầy đủ.

HÔM NAY :

Sát cánh bên nhau, Trước bàn thờ Tổ.

Sắm hương hoa, một lễ chân thành, Tưởng công đức muôn phần ngưỡng mộ.

Nghe Chúc văn, lưu công đức muôn đời;  Dõi sơ đồ, rõ quế hòe trăm nụ.

Cúi  nguyện  nghĩ: Vầng nhật nguyệt sáng rạng mười phương; Đức Tổ tông lưu danh muôn thuở.

Ngẩng cao trông: Phúc ấm nối đời, “Tế thần, thần tại'” giáng nơi Từ Đường; Cháu con thờ phụng, “Xuân kị Thu thường” đều kỳ cúng giỗ.

Thắp nén hương nghi ngút tại Gia đường, Đặt cành hoa ngạt ngào dâng lên mộ Tổ.

Tấm lòng tôn kính, lễ bạc tiến nghinh; Văn tế nôm na, tấc thành biểu lộ.

Tưởng nhớ ân sâu Đấng Anh Linh, Tâm nặng nghĩa dầy Tiên Liệt Tổ.

Nguyện Hiếu, Trung, vì Nước vì Dân, Tròn Tình, Nghĩa với Đời, với Họ.

Mang Chính Tâm dạy cho con cháu, lấy Nhân Tín làm điều xử sự.

Người ở quê giữ phần hương khói chăm sóc Gia đường, tạo tôn phần mộ.

Kẻ đi xa khơi dòng ôn cố, dốc tâm dựng cơ đồ, rạng danh đất cũ.

CÚI XIN:

Lương tộc Lịch đại Tổ tiên từ cõi linh thiêng, Ân Đức dẫn đường giúp con cháu ngày thêm tiến bộ.

Để mọi người đạt thành may mắn; Cho toàn gia Khang Ninh Phúc Thọ.     

Làng xóm mạnh giầu, Quốc cường, dân phú.

Khắp ngược xuôi, Hạnh phúc Yên Vui, dòng Lương tộc mãi mãi sáng danh; Đều trai gái, công đức ngàn trùng, giữ nếp gia tiên, khói hương muôn thuở.

Lòng thành kính bái, xin được chứng minh; Ước vọng dâng lên, kính xin tế độ.

 -Cẩn cáo-

-Lương Đức Mến (Đời thứ Bẩy) phụng soạn đầu Xuân Ất Mùi 2015, sửa Xuân Bính Ngọ 2026, 遞七代梁德悗 奉纂-




[1] Xưa thuộc tổng Cao Mất, huyện An Lão, phủ Kiến Thụy; từ sau 1966 thuộc xã Chiến Thắng, huyện An Lão, tf Hải Phòng và từ sau 7/2025 thuộc xã An Hưng (Chiến Thắng  nhập với  An Thái, An Thọ và bỏ cấp huyện An Lão), Hải Phòng.

[2]  Tiên Lãng xưa, vào thời Lê Thánh Tông là huyện Tân Minh 新明縣năm 1600 do kiêng húy Vua Lê Kính Tông hiệu Duy Tân nên Tân Minh đổi thành Tiên Minh 先明 sau đó do phạm húy Vua Hàm Nghi (hiệu Ứng Minh) nên năm 1884 đổi thành Tiên Lãng 先朗. Từ 01/7/2025, địa danh Tân Minh dùng đặt cho xã mới hình thành từ gần 4 xã gộp lại là Cấp Tiến, Kiến Thiết, Đoàn Lập, một phần Tân Minh; Tiên Minh đặt cho  xã mới hình thành từ gần 3 xã gộp lại là Tiên Minh, Tiên Thắng, một phần Tân Minh còn Tiên Lãng dùng đặt cho xã mới hình thành từ 4 xã gộp lại là Khởi Nghĩa, Quyết Tiến, Tiên Thanh, Tiên Lãng các xã này thuộc thẳng tf Hải Phòng, bỏ huyện Tiên Lãng. 

[3] Bộ Mộc ghép với chữ Thủy viết dưới dạng bộ thành ra chữ Lương , chỉ tên dòng họ.

[4] Vừa có Vua (vua Lê) lại vừa có Chúa (Chúa Trnh).

[5] Đất An Lão hồi đó thuộc tỉnh Hải Đông, còn gọi là xứ Đông.

[6] Giữa thế kỷ XVIII, Gia phả chép: “gặp cảnh “Gia bần niên cơ” Thượng tổ “bên nồi bên con” từ Tiên Minh sang đất Cao Mật khai cơ, lập nghiệp”

[7] Họ Nguyễn, Họ Mai là những họ đến Cao Mật trước họ Lương.

[8] Đăng Lai 登來 (sau cải là Phương Lai 芳來) thuộc tổng Kênh Thanh  (sau này là xã Cấp Tiến huyện Tiên Lãng) còn từ sau 01/7/2025 là xã Tân Minh (do Sáp nhập các xã Cấp Tiến, Kiến Thiết, Đoàn Lập, một phần Tân Minh và bỏ huyện Tiên Lãng) .

[9] Quan Bồ 關蒲 thuộc tổng Kênh Thanh  từ sau 7/2025 thuộc xã Tiên Minh (do nhập các xã Tiên Minh, Tiên Thắng, một phần Tân Minh và bỏ huyện Tiên Lãng)

[10]  Làng Hạ là tên Nôm của Mông Tràng Hạ蒙場下, làng Hương là tên Nôm của Hương Lạp 香粒 thuộc tổng Cao Mật 高密總, nơi Thượng tổ dừng chân ban đầu khoảng năm 1750. Năm 1883 Hương Lạp 香粒 đổi thành Phương Lạp 芳粒 do kị húy tên vợ Vua Tự Đức, dưỡng mẫu Vua Kiến Phúc (建福1869-1884) là Nguyễn Thị Hương 阮氏香 và đến 1966 hai làng nhập một, nay thống nhất gọi là thôn, thôn Phương Hạ. Từ sau 7/2025 là một thôn thuộc xã An Hưng (Chiến Thắng  nhập với  An Thái, An Thọ và bỏ cấp huyện An Lão), Hải Phòng

[11] Các xã thuộc tổng Cao Mật tính từ thượng nguồn xuống là: Kim Côn 今崑, Côn Lĩnh 崑嶺, Mông Tràng Thượng 蒙場上, Mông Tràng Hạ 蒙場下, Phương Lạp方粒, Cốc Tràng 谷場, thôn Tôn Lộc 尊祿 và Cao Mật 高密.

[12] Con cháu cụ Đồ Thiệu 第四枝宗  梁公劭

      [13] Nhiều khả năng Ngoại Tổ là người chỉ huy hương binh 鄕兵正營 trong vùng hay thuyền lương (chức “Tào vận ty” 漕運司) ở cửa sông Úc tiếp tế cho quan quân khi đánh dẹp khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu ((阮有求, 1712-1751), 

[14] Viết sâu và kỹ hơn khi phân tích bài “Hạ Thập kỳ” của cụ Đồ Thiệu ca ngợi Công Đức Ngoại Tổ và lịch sử ngày giỗ Tổ Rằm Tháng Giêng.

[15] Chỉ các chi phái họ Lương gốc thông Phương Hạ, xã Chiến Thắng, huyện An Lão xưa mà nay là xã An Hưng,  đi xây dựng quê hương mới ở Lào Cai, Điện Biên, Đắc Lắc,…

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn “Lốc” ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão và từ 07/2025 là xã An Hưng, thành phố Hải Phòng (SSN)- Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai và từ 07/2025 là phường Lào Cai tỉnh Lào Cai (SSN)

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với “Ẩn danh”.
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!