[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


16 tháng 4 2026

Liệu tôi CÓ PHÁI LÀ BÁC SĨ KHÔNG?

Việc trở thành bác sĩ thường xuất phát từ sứ mệnh cứu người, đam mê lĩnh vực y tế, mong muốn chăm sóc sức khỏe cộng đồng và sự hy sinh, nỗ lực học tập suốt đời. Đây là nghề đòi hỏi sự tử tế, vị tha, và mang lại ý nghĩa sâu sắc khi giúp bệnh nhân vượt qua nỗi đau nhưng cũng là thách thức trí tuệ và sự kiên trì.

Thường do gia đình hoặc cá nhân và trách nhiệm xã hội: Nghề y là nghề cao quý, luôn được xã hội cần trong cả thời chiến lẫn thời bình.

Hành trình trở thành bác sĩ tuy nhiều khó khăn, vất vả nhưng cũng mang lại những niềm vui hạnh phúc. Khi lựa chọn trở thành bác sĩ có nghĩa là phải làm việc chăm chỉ, tận tụy và hy sinh, thách thức giới hạn của cơ thể, tạo hoá;

Tuy là những người ở tuyến đầu chống lại bệnh tật, đối mặt với những nguy hiểm, nhưng họ đều là những con người bình thường, có xương có thịt, cũng mệt mỏi và yếu đuối.

Về vấn đề này, xưa kia Tể tướng Phạm Trọng Yêm (范仲淹, 989 - 1052)[1] từng nói: “Cách tốt nhất để giúp ích cho thế gian là làm tể tướng; nếu không thể làm tể tướng, cách tốt nhất để giúp ích cho nhân dân bằng kiến thức của mình là làm bác sĩ. Nếu bạn làm một bác sĩ giỏi, bạn có thể chữa khỏi bệnh cho vua và cha mẹ, cứu sống nhân dân thế gian, dạy mọi người giữ gìn sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Có nghề nào tốt hơn nghề bác sĩ để cứu người và giảm bớt đau khổ cho nhân dân ngay cả khi bạn ở dưới đáy xã hội?”

Cổ nhân có câu: “Bất vi lương tướng – Tắc vi lương y” (不為良相, 則為良醫, có nghĩa là nếu không thể làm một tể tướng giỏi giúp nước, thì hãy làm một thầy thuốc giỏi giúp đời)

  Trở thành bác sĩ pháp y (Forensic Pathologist)  thường xuất phát từ đam mê tìm kiếm sự thật, lý tưởng công lý, và yêu thích khoa học hình sự. Đây là ngành đặc thù, đóng vai trò “nói thay tiếng nói của người đã khuất”, giải oan cho người vô tội, làm rõ trắng đen, giúp gia đình nạn nhân tìm lại công bằng và lặng lẽ cống hiến. Nó đòi hỏi sự kiên trì cao, tư duy logic, không ngại khó khăn/thương tích để bảo vệ công lý. Nó cũng được xem là hành nghề y “thuần túy” nhất, luôn vững niềm tin vì lý tưởng công lý. Có nhiệm vụ: Xác định nguyên nhân, thời gian và cơ chế tử vong; Đánh giá mức độ tổn hại cơ thể trên người sống trong các vụ án cố ý gây thương tích, xâm hại tình dục; Phân tích cơ cơ chế hình thành dấu vết hiện trường, huyết thống; Nhận dạng tử thi trong các vụ tai nạn, thảm họa,....

Nhưng phải chịu áp lực lớn: Luôn phải giữ vững đạo đức, đối mặt với sự co kéo giữa các bên liên quan và sự nguy hiểm và học tập công tác lâu dài (học Y đa khoa, sau đó chuyên sâu về Pháp y, cọ sát thực tiễn), đòi hỏi bản lĩnh và sự tận tụy. Do vâỵ việc lựa chọn nghề này là sự dũng cảm đối mặt với tử thi, nỗi sợ và áp lực từ xã hội, tất cả vì lý tưởng cao đẹp.

Công việc thầm lặng, nhưng sự đóng góp của bác sĩ pháp y trong thành công của những chuyên án đấu tranh với tội phạm là con số không hề nhỏ. Các kết luận giám định pháp y đều có giá trị chứng cứ và truy nguyên cao, giúp rút ngắn “bước điều tra ban đầu và cơ quan tố tụng truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cao quý là thế, nhưng các bác sĩ pháp y cũng có phần chạnh lòng vì ngày càng ít người muốn theo đuổi, gắn bó với nghề không chỉ bởi xã hội, người thân ghẻ lạnh, e ngại định kiến mà còn chính bởi những áp lực, vất vả của công việc đặc thù này.

“Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?”... Song nghề này luôn việc làm ổn định, sẽ có việc làm cho đến khi “thiên hạ” tìm ra cách chữa bệnh… chết !. Đồng thời sẽ không bị gọi dậy lúc nửa đêm để mổ cấp cứu hay đỡ đẻ, hiếm khi bị kiện vì “lỗi Điều trị” (như các GĐV ở VPYTW) hoặc khỏi lo thủ tục mở “Phòng khám tư”,…..

Nhưng chấp nhận việc luôn không có “bồi đưỡng” thêm, lương “ba cọc ba đồng” được trang bị tối thiểu, môi trường làm việc đôi khi rất khó chịu,…

Do đặc thù công việc, đội ngũ y bác sĩ làm công tác pháp y công tác tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh. Công việc đặc biệt  đòi hỏi mỗi cán bộ phải có trách nhiệm, trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghiệp vụ tốt cùng tinh thần khách quan, tỉ mỉ, chính xác, toàn diện vừa thường xuyên, vừa đột xuất, bất ngờ, lại liên quan đến nhiều yếu tố độc hại,…

Thực tế, bác sĩ pháp y trước hết vẫn được đào tạo đầy đủ như mọi bác sĩ đa khoa khác (giải phẫu, bệnh học đại cương, sinh lý, sinh lý bệnh, dược học, triệu chứng học, bệnh học cụ thể, cấp cứu, phẫu thuật thực hành,....) Bác sĩ chuyên khoa, …

Nếu bác sĩ lâm sàng chữa bệnh cứu người, thì bác sĩ pháp y góp phần bảo vệ sự thật và công lý.

Bác sĩ pháp y (nói chính xác Bác sĩ – Gám định viên pháp y)  vẫn là bác sĩ, chỉ khác với bác sĩ lâm sàng ở sứ mệnh phục vụ cho xã hội.

Vì thể, chúng tôi vẫn là bác sĩ ! Còn vì sao không có PY “ngoài công lập” và các “Bác sĩ pháp y không mở phòng khám tư” là vấn đề khác, nằm ngoài bài viết này !

-Ngày 29/02/Bính Ngọ, Lương Đức Mến Bs từ nhiều nguồn TK, kiểm nghiệm-



[1] Ông tự Hy Văn, thụy Văn Chính, là một nhà chính trị, nhà văn, nhà quân sự, nhà giáo dục thời Bắc Tống (北宋, 960–1127).

Cha ông là Phạm Dung 范墉, thân mẫu là Tạ thị , ông từng làm nhiều chức vụ khác nhau trong chính quyền Bắc Tống những ngày đầu mới thành lập, Phạm Dung mất ở Từ Châu khi con trai Trọng Yêm được 1 tuổi (990). Mẹ ông là Tạ phu nhân, đã cải giá (lấy Chu Văn Hàn 朱文翰, người Trường Sơn, từng nhận chức Bình Giang Thôi quan) đến huyện Trường Sơn, Truy Châu, Sơn Đông nên Phạm Trọng Yêm được cải tên thành Chu Thuyết. Sau đó ông tới chùa Lễ Toàn trên dãy núi Trường Bạch đọc sách, mỗi ngày chỉ thổi nấu một nồi cháo. Ông là người tự hiểu thân thế của mình, cũng nhân tiện để từ biệt mẹ đẻ, đã một thân một mình tới Nam Kinh đèn sách. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 8 (大中祥符八年, 1015) đời Tống Chân Tông ông đỗ tiến sĩ  進士第, tới Quảng Đức quân làm tư lý tham quân (coi công việc hình ngục), liền đón mẹ mình về nuôi dưỡng.

Thời Tống Nhân Tông (宋仁宗, 1010-1063), ông đảm nhận chức vụ hữu tư gián. Năm 1038, vua Cảnh Tông (西夏景宗, 1003-1048, Lý Nguyên Hạo 拓跋元昊) của Tây Hạ 西夏 sau khi tự lập làm hoàng đế nhà nước Tây Hạ đã phát động chiến tranh Tống-Hạ (宋夏戰爭, 1038–1044, 1081-1082, ...), ông cùng Hàn Kỳ (韓琦, 1008–1075) đảm nhận chức vụ kinh lược an phủ chiêu thảo phó sứ Thiểm Tây 陝西, trợ giúp Hạ Tủng dẹp loạn.

Năm Tống Nhân tông thứ tư(宋仁宗天聖四年, 1026) mẹ ông mất, Phạm Trọng Yêm về Thiên phủ 天府 (nay là Thương Khâu, Hà Nam 河南商丘)Ninh Lăng 寧陵 thủ táng ba niên. Thời gian này ông ở Nam Kinh 南京 và đảm nhận Thiên phủ học giáo thụ 天府學教授.

Tháng 7 năm Khánh Lịch thứ 3 (慶曆三年, 1043) ông được thăng chức thành xu mật phó sứ, tham tri chánh sự (phó tể tướng). Trong năm này, ông cùng Phú Bật 富弼, Hàn Kỳ 韓琦 đề xuất cải cách công việc triều chính. Nhóm của ông đề xuất cái mà sử sách sau này gọi là “đáp thủ chiếu điều trần thập sự” (答手詔條陳十事, 10 điều cần cải cách), trong đó có “minh truất trắc, quân điền phú, tu võ bị, giảm lao dịch” (明黜陟, 抑僥幸, 精貢舉、擇官長, 均公田, 厚農桑, 修武備、減徭役, 推恩信, 重命令, bổ nhiệm, bãi miễn rõ ràng; thu thuế quân điền; tu sửa võ bị, bớt lao dịch), sử sách Trung Quốc gọi là “Khánh Lịch tân chính 慶曆新政” hay “Khánh Lịch chi trị 慶曆之治”. Cuộc cải cách Khánh Lịch này nhanh chóng thất bại vào năm 1045 do bị các quan lại, chủ yếu là bè đảng của Hạ Tủng 夏竦 phản đối, ông bị giáng chức, chuyển tới Đặng Châu 鄧州, Hàng Châu, Thanh Châu. Năm Hoàng Hữu thứ 4 (1052) ông chết vì bệnh tại Từ Châu 徐州.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

13 tháng 4 2026

Liệu có QUÁ TẢ

Khi về AP thăm mẹ và trông nhà (11/4/2026), tôi thấy đồ vật xếp và thói quen của Cụ có một số “khác lạ”. Tôi liền đổi hết: không cho Cụ uống Café, Bò húc, Sâm buổi Tối mà thế bằng Trà Xanh không độ, Yến xào, Sữa chua,…  

“Liệu như vậy có “quá tả” không nhỉ ?

Như mọi bài, trước hết nói về ngữ nghĩa   

Tả hữu左右 là từ Hán Việt chỉ phía trái và phía phải, hoặc những người hầu cận, thân tín. Cụm từ này còn mang nghĩa “khoảng” (về thời gian/số lượng) hoặc “giúp đỡ, nó gắn liền với quy tắc “Nam tả, nữ hữu” (Nam trái, nữ phải, sắp xếp theo quan niệm Âm - Dương) và “cánh tả - cánh hữu – ôn hòa (hệ thống chính trị) hay “Tả hữu bệ hạ” (theo chế độ hầu cận Vua Chúa xưa) hoặc “Tả phù Hữu bật” (trong Tử vi/Phong thủy),…  

“TẢ”: - Phía tay trái, ngược với Hữu là bên tay phải; nó là bất chính.

“Tả chiêu hữu mục” 左昭右穆 là việc sắp đặt trong thờ cúng,…: bên tả gọi là Tả chiêu (các đời Lẻ), ngôi thờ bên hữu gọi là Hữu (các đời Chẵn).

“Tả phái” (H: 左派, A: Party of left wing, P: Le parti de gauche) là đảng phái ngồi bên cánh tả của nghị viện, thuộc phe cấp tiến, có tính cách cực đoan, đối lập với phái ngồi bên cánh hữu của nghị viện, thuộc phe bảo thủ. Phái ôn hòa thì ngồi ở giữa hai phái tả và hữu.

“Tả tư hữu tưởng” 左思右想 là suy tới nghĩ lui, phải trái, rất cẩn thận.

“Tả xung hữu đột” 左衝右突 là đánh bên tả, đánh bên hữu, ý nói phải đối phó nhiều phía cùng một lúc.

“Tả khuynh”: khuynh hướng ủng hộ sự bình đẳng xã hội, tiến bộ, nhà nước phúc lợi và thường phản đối phân tầng xã hội, bất bình đẳng; chú trọng bảo vệ người yếu thế, thúc đẩy nữ quyền và môi trường,

Tư tưởng: Ưu tiên bình đẳng, công bằng xã hội, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa dân chủ xã hội.

Chính sách: Thường ủng hộ vai trò lớn hơn của nhà nước trong kinh tế, nâng cao phúc lợi, thuế cao hơn đối với người giàu để tái phân phối thu nhập.

Quan điểm xã hội: Ủng hộ đa văn hóa, quyền LGBT, nữ quyền, phản chiến và bảo vệ môi trường.

Vị trí: Nằm bên trái trên phổ chính trị, khi trung gian kéo dài đến gần cực tả (đôi khi gọi là trung tả).

Khái niệm “cánh Tả” trái ngược với “cánh hữu”, nơi đề cao chủ nghĩa bảo thủ, thị trường tự do và hệ thống phân cấp xã hội và không cực đoan như nhóm “cực tả”, tìm kiếm giải pháp công bằng xã hội, mọi người đều bình đẳng, bất kể năng lực, đề cao vai trò điều tiết của nhà nuớc để chia sẻ phúc lợi, lấy của nguời giàu, chia cho kẻ nghèo khó.

Mạnh được yếu thua. Muốn tồn tại phải mạnh, không trông chờ ỷ lại mà phải tự hành động mà vươn lên, thượng tôn sự phát triển, mở đường cho kẻ mạnh, tư nhân hoá, tự do cạnh tranh, giảm thuế, giảm sự quản lý điều tiết, không thể hình tượng hoá quá lãnh tụ.

Thiên hữu là những kẻ hãnh tiến, không quan tâm đến kẻ yếu, không muốn chia sẻ cơ hội cho người khác. Cánh hữu thường bị những người thiên tả coi là đại diện cho một xã hội lang sói, không có tình thương là “Xã hội cùi chỏ“ (Ellbogengesellschaft)

Ngược lại những người thiên tả thường là những người đấu tranh vì quyền lợi của nguời nghèo, giúp đỡ người tỵ nạn, bảo vệ môi truờng, chống chiến tranh, theo chủ nghĩa hòa bình v.v.

Hiện nay, chính khách thường hay hứa hão, nhưng dù sao nghe  cánh tả nói cũng sướng lỗ tai hơn.

Nói riêng về nghiện caffeine: Đó là tình trạng phụ thuộc thể chất/tâm lý do tiêu thụ quá 400-500mg/ngày (khoảng >4 tách cà phê), dẫn đến sương mù não, đau đầu, mệt mỏi và cáu kỉnh khi ngừng đột ngột. Triệu chứng cai thường bắt đầu sau 12-24 giờ và kéo dài 2-10 ngày. Cần giảm dần lượng caffeine để tránh tác dụng phụ và cai nghiện an toàn.

Dấu hiệu nhận biết :

Phụ thuộc: Cảm thấy không thể tỉnh táo hoặc không thể bắt đầu ngày mới nếu không có cà phê.

Dung nạp: Cần uống ngày càng nhiều caffeine hơn để đạt được tác dụng tỉnh táo như trước.

Triệu chứng cai (khi ngừng uống): Đau đầu (thường là đau nhói), buồn nôn, mệt mỏi, khó tập trung, cáu kỉnh.

Tác dụng phụ khi quá liều: Run tay chân, co giật cơ, mất ngủ, bồn chồn, nhịp tim nhanh hoặc không đều, tăng huyết áp.

Nguyên nhân gây nghiện:

Caffeine cạnh tranh với adenosine (chất gây buồn ngủ) trong não. Việc sử dụng hàng ngày khiến cơ thể tạo ra nhiều thụ thể adenosine hơn, buộc bạn phải nạp nhiều caffeine hơn để duy trì sự tỉnh táo.

Tác hại của việc nghiện/lạm dụng:

Mất ngủ mãn tính: Gây suy nhược cơ thể.

Rối loạn tiêu hóa: Tăng acid dạ dày gây buồn nôn, đau dạ dày.

Tác động tim mạch: Tăng huyết áp, run tay chân.

Cách cai nghiện caffeine :

Giảm từ từ (Tapering): giảm dần lượng cà phê hàng ngày trong 1-2 tuần (ví dụ: trộn cà phê thường với loại đã loại bỏ caffeine - decaf).

Thay thế đồ uống: Chuyển sang trà thảo mộc, nước lọc, hoặc nước trái cây để giữ cơ thể đủ nước.

Tăng cường vận động: Tập thể dục giúp tăng năng lượng tự nhiên và giảm căng thẳng do cai.

Ngủ đủ giấc: Đảm bảo giấc ngủ để cơ thể hồi phục.

Chuyện nhà mình

Như ở bài https://holuongduclaocai.blogspot.com/2026/04/nghi-ma-chan-cho-cai-tuoi-gia.html tôi từng viết: ..“Đã là “người gìa”, thuộc lớp người “xưa nay hiếm” thì khỏi phải kiêng khem gì nữa trong ăn uống nhưng cũng đừng vì thế mà đưa người già (vốn giầu tính thụ động) vào con đường “nghiện ngập”, lao vào “nghiện” những thứ họ chưa từng “nghiện”, đặc biệt là Rượu, Bia, Caffe, Chè, Thuốc,...”…Do “lực bất tòng tâm” nhà lại “đông anh lắm em” nên lắm người  “bất chấp” hết và  thế là,…

Việc tôi không cho Cụ uống Café, Bò húc, Sâm vào buổi Tối nghe chừng Cụ và một vài em không ưng, có người còn lớn tiếng: bà vẫn ngủ được, uống 1 chút không sao,…

Nhưng  “không là không”, nhất là những thứ mà thời còn khỏe Mẹ tôi chưa từng biết đến, như: Café, Bò húc, Sâm, Đường,…Đặc biệt, ngườì ít vận động, tuổi cao sau mổ kết xương do gẫy cổ xương đùi Trái”,... như Mẹ tôi càng phải kiêng ! Với lại nhà tôi không thuộc diện rủng rỉnh” tiền  và Cụ đâu đã “đến Ga cuối của cuộc đời” và dẫu sao thì mới  là ban đầu nên “ngăn ngừa” vẫn hơn!

Mãi rồi Cụ và mọi người cũng tin và “làm theo”, miễn là mình “kiên trì”, “có tiền” và “thời gian” !

Nhưng “cách” của tôi xem ra hơi nặng về “hành chính, bắt buộc” và liệu có “thiên tả” không ? Chưa biết nhưng rõ là có hiệu quả !  

-        Lương Đức Mến, BS từ nhiều nguồn TK và chiêm nghiệm, 26/02/Bính Ngọ-

 

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

11 tháng 4 2026

CHĂM SÓC người già bị gẫy cổ xương Đùi đã Phẫu thuật

Gãy cổ xương đùi là chấn thương thường gặp nhất ở người già, dẫn tới nguy cơ tàn tật cao, hiện nay có nhiều phương pháp điều trị mang lại hiệu quả. Tuy nhiên việc phục hồi chức năng sau chấn thương gãy cổ xương đùi như thế nào để đem lại hiệu quả cao là rất quan trọng.

1. Phục hồi chức năng chi người gãy cổ xương đùi

1.1 Nguyên tắc

Phục hồi lại tầm vận động của khớp háng.

Gia tăng sức mạnh của các nhóm cơ khớp háng, khung chậu, cơ mông.

Khôi phục lại dáng đi, Lấy lại các hoạt động, sinh hoạt bình thường cho người bệnh.

Hạn chế những tai biến do bất động lâu.

1.2 Những biện pháp

Sau phẫu thuật kết hợp xương Phòng ngừa biến chứng do nằm lâu như viêm phổi, loét do tỳ đè, huyết khối, đau. Duy trì tầm vận động của các khớp, tránh teo cơ, cứng khớp do bất động kéo dài. Tăng sức cơ, phục hồi khả năng di chuyển. Các phương pháp phục hồi chức năng bao gồm:

Nhiệt trị liệu: Nhiệt nóng trị liệu vùng cơ vùng đùi, khớp háng, có thể dùng chườm ấm bằng túi chườm.

Vỗ rung giúp long đờm, hạn chế nguy cơ viêm phổi

Thay đổi tư thế nằm thường xuyên tránh nguy cơ loét do tỳ đè.

Vận động khớp: Có thể thực hiện sớm sau mổ khoảng 3 ngày, vận động chủ động hay thụ động nhờ sự giúp đỡ của nhân viên y tế hay người nhà. Tập co duỗi khớp háng, khớp gối mỗi lần co duỗi khoảng 45 giây, mỗi lần tập khoảng 10 đến 15 phút, ngày 4-6 lần. Ngoài ra tập vận động khớp cổ chân, nhất là động tác gập mu chân.

Tăng sức cơ: Bằng cách tập co duỗi khớp gối hay tập co cơ tĩnh ( có sự co cơ nhưng không phát sinh vận động) người bệnh nằm ngửa gồng cơ khoảng 5 đến 10 giây, thực hiện khoảng 10 đến 15 lần. Tập sớm tránh hiện tượng teo cơ.

Tập đi nạng trong vòng 6 tháng đầu người bệnh dùng nạng gỗ tập đi thanh ngang đầu trên của nạng để tựa bên lồng ngực, dáng đi thẳng, mắt nhìn thẳng phía trước, không cúi nhìn xuống chân, hai vai ngang bằng.

Sau 6 tháng có thể tập đi chịu sức nặng cơ thể một phần, chỉ dùng nạng để hỗ trợ. Sau đó tăng dần sức nặng cơ thể lên khớp háng có thể không dụng nạng.

Khi liền xương vững tập các động tác như đứng lên, ngồi xuống, tăng leo cầu thang. Chú ý tình trạng sức khỏe để có thời gian tập hợp lý.

Khi vết mổ lành không bầm tím, có thể xoa bóp nhẹ nhàng, không dùng các loại dầu cao hay cồn xoa bóp.

Sau bó bột Người bệnh có thể tập đi lại sau khi bó bột 24 đến 48 giờ. Tập đi bằng nạng, làm tăng sức cơ vùng khớp háng và đùi. Tập đi nạng tương tự như với trường hợp sau phẫu thuật kết hợp xương.

Sau khi tháo bột gia tăng tập vận động khớp gối, khớp háng,tập tăng sức mạnh của cơ, chườm ấm, xoa bóp nhẹ nhàng giúp tăng lưu thông máu

Sau phẫu thuật thay khớp háng: tương tự như sau phẫu thuật kết hợp xương tuy nhiên thời gian tập đi lại sớm hơn, phục hồi nhanh hơn

Sau 3 ngày phẫu thuật người bệnh tập đi lại bằng nạng hay khung tập đi.

Tập các động tác tăng vận động khớp như co duỗi tăng dần tầm vận động để đạt tầm vận động như bình thường

Từ tuần thứ 4 người bệnh có thể đi lại bình thường, tập tăng cường sức cơ như đạp xe tại chỗ, tăng dần theo sức chịu đựng.

2. Những chú ý

Tập phục hồi chức năng sau gãy cổ xương đùi rất quan trọng giúp tăng tuần hoàn máu, giãn cơ, giảm đau, đề phòng nguy cơ do nằm lâu, teo cơ cứng khớp.

Nên tập sớm nhất có thể, vì để càng lâu thì khả năng teo cơ cứng khớp cao hạn chế khả năng phục hồi như bình thường.

Tập đều đặn tăng dần theo sức chịu đựng và bài tập phù hợp với giai đoạn của bệnh. Tập đúng theo hướng dẫn, đề phòng tai biến khi tập không đúng cách

Tập chung vào tập vận động tăng cường sức cơ và tăng tầm vận động của khớp.

Không nên đắp hay bôi các loại cao lá không rõ nguồn gốc.

Không bắt chéo chân phẫu thuật sang bên chân lành.

Không ngồi thấp, háng gấp quá 90 độ.

Không xoay chân phẫu thuật vào trong.

Không gập đùi vào bụng hoặc gập lưng xuống quá nhiều làm cho góc đùi và thân người nhỏ hơn 90 độ.

Không ngồi trên những chiếc ghế không có tay vịn, vì như thế người bệnh rất khó khăn khi đứng dậy.

Khi đi vệ sinh: không nên ngồi trên bồn cầu thấp mà phải ngồi trên bồn cầu cao để đùi không gấp quá 90 độ.

Không nên cúi người quá thấp để nhặt vật dụng sinh hoạt hay để đi tất.

 Chăm sóc người già gãy cổ xương đùi sau phẫu thuật cần tập trung vào việc vận động sớm (từ ngày thứ 2), phòng chống loét/huyết khối, và dinh dưỡng cao. Cần tuân thủ nguyên tắc: không gập háng  >90 độ, không bắt chéo chân, và không xoay chân vào trong để tránh trật khớp. Phục hồi chức năng đúng cách giúp bệnh nhân sớm tự lập.

1. Giai đoạn ngay sau mổ (1-3 ngày đầu)

Tư thế: Nằm ngửa, chân phẫu thuật kê cao, đặt gối giữa hai chân để giữ háng ở tư thế dang, tránh xoay ngoài.

Vận động tại giường: Tập co cơ tĩnh (cơ đùi, cơ mông), gấp duỗi cổ chân từ ngày đầu tiên.

Vận động sớm: Từ ngày thứ 2, khuyến khích ngồi dậy và tập đứng tại chỗ để tránh ứ đọng phổi và tăng tuần hoàn.

Theo dõi: Kiểm tra băng vết mổ (chảy máu, thấm dịch), tình trạng sưng nề chân.

2. Giai đoạn phục hồi chức năng (Sau 3 ngày - 1 tháng)

Tập đi: Sử dụng khung tập đi hoặc nạng, chịu lực một phần lên chân phẫu thuật.

Chăm sóc vết mổ: Thay băng hàng ngày, rút dẫn lưu sau 48 giờ.

Tư thế sinh hoạt: Không ngồi ghế thấp, không cúi người quá sâu; Không bắt chéo hai chân; Sử dụng bồn cầu cao để đùi không gập quá 90 độ so với thân người.

3. Chăm sóc tại nhà và dinh dưỡng

Phòng chống loét: Thay đổi tư thế thường xuyên nếu bệnh nhân nằm nhiều, giữ vệ sinh da khô thoáng.

Dinh dưỡng: Ăn thức ăn dễ tiêu, giàu canxi (sữa, hải sản), magie (chuối, rau xanh), kẽm (đậu đỗ) và vitamin D để tái tạo xương.

Tái khám: Kiểm tra lại sau 1-2 tháng hoặc khi có dấu hiệu bất thường.

Lưu ý: Tuyệt đối không dùng dầu cao, cồn xoa bóp trực tiếp vào vùng khớp háng.

4. Dấu hiệu cần báo bác sĩ ngay

Vết mổ sưng, nóng, đỏ, chảy dịch hoặc máu.

Đau tăng dữ dội không giảm khi dùng thuốc.

Chân phẫu thuật bị ngắn lại hoặc xoay ngoài đột ngột (dấu hiệu trật khớp).

Từ chuyện của tôi:

Về “cái chân” của Mẹ:

Mẹ tôi năm nay (2026) đã sang tuổi 104. Cụ ngã ngày 29/5/2025 tại KVHL nhà con Trai cụ là LĐ Thức (Thi) được LĐ Thuộc và LĐ Thức đưa ngay lên BVĐK tỉnh. Nhận điện, tôi gọi xe cháu Tư về AP, gặp xe Thuộc gần BV nên biết rõ, tôi đi tiếp về nhà Cụ chuẩn bị” (cùng LT Nghị, vợ Thuộc) đồng điện cho LĐ BVĐK tỉnh.

Ngày 30/5: sau khi tham khảo ý kiến Bs CCN (gây mê), ý kiến Bs PNT ()…  các ACE khác, tôi quyết định Mổ kết hợp xương để phòng ngừa biến chứng do nằm lâu (viêm phổi, loét do tỳ đè, huyết khối, đau,...)

Sáng 31/5/2025 Cụ  được mổ tại T5 nhà 9 tầng mới xây của BVĐK tỉnh. Cuộc Mổ hoàn tất Cụ được  đưa về nằm tại Khoa HCCC.

Hôm sau, khi tỉnh từ 02/6-10/6 nằm tại phòng ĐTTYC của Khoa HSTC.

Đến sáng 11/6/2025: chuyển về Khoa PHCN của BVYCT (nơi con Dâu tôi làm) nằm buồng ĐTTYC chứ ko phải nằm buồng tập thể đông người (nên  2 giường, anh em tôi nằm thoải mái khi trông Cụ). Đúng hồi này mẹ tôi thêm một Chắt  (cháu Nội LĐ Luân) Như thế, về Chắt, đến sáng 13/6/2025  Mẹ tôi đã có 24 Chắt trực hệ với Cụ, do: Tôi: 4 cháu (2 N, 2 Ng); Thuộc: 4 cháu (N); Thường: 8 cháu (6N, 2 Ng); Thức: 01 cháu (N); Luân: 6 cháu (4 Ng, 2 N); Lý: 1 cháu (Ng). Riêng Luận mới có con (2T ) chưa có cháu.

Đây cũng là dịp chị họ tôi là LT Mong nằm Viện và “sếp” tôi là Tt BAX từ trần (18/6/2025). TM Hội Cựu CAND LC, tôi tham gia BLT và vì là TVBTL, tôi phải “trốn” ra đó thực thi nhiệm vụ.

Thời gian Mẹ đẻ tôi nằm ở đây: Việc chăm sóc y tế do BV đảm nhận; việc trông nom cụ có VC tôi cùng các em lo.

Đến đầu tháng 7 Cụ đã “ổn định” tôi đưa ra để cụ chọn các PA: Nằm tại chỗ ở tỉnh (tôi đã nói chuyện với LĐ Khoa N (chờ giường/phòng ĐTTYC) hoặc chuyển BVPHCN (Bs GĐ BV là H đã đồng ý) hay về nhà ở AP (theo PA: ở nhà TT hoặc  nhà Cụ),...     

Do mẹ đẻ tôi chọn, ngày 12/7/2025 tôi nhờ xe của BVYHCT đưa Cụ: Về An Phong, Phong  Niên, Bảo Thắng (từ 7/2025 thuộc  thôn An Hồ, xã Xuân Quang), Lào Cai theo “đường mới” có tôi và vợ ngồi trên xe CT cùng Mẹ và TX, LĐ Thức đi xe máy dẫn đường. Có dừng lại lối lên nhà TT để cụ lễ vọng giải an.

Tại nhà Mẹ đẻ, ở phòng riêng Cụ nằm ngày 18/7/lắp ĐHNĐ do trời nóng. Dịp này trong xóm Giỗ liên tục. Trong đó: 19/7 (25/6/Giáp Thìn) là Ngày Giỗ Đầu của em Rể tôi (mất 14giờ ngày 30/7/2024 tức 25/6/Giáp Thìn).

 Việc  chăm nom Mẹ

Những ngày đầu

Tiếp theo:

Các cháu gọi mẹ tôi bằng “cô” (anh PC Bình từ MN ra, anh PV L từ HP lên

Các cháu gọi mẹ tôi bằng “cô” (chị PT Bòn, con Cậu Cả PV Kiển, em HT, vợ VĐ Duệ, anh PC Minh, con Cậu Hai PV Kiểm) lên thăm từ 15/3 đến 17/3/2026. Cả 2 lần tôi đều từ tf về AP cùng các em tiếp đón đoàn kết hợp chăm Mẹ và trông nom nhà cửa.

Vòng 3 tôi  từ tf về chiều thứ Bẩy ngày 11/4/2026.   

-Lương Đức Mến, 19/6/Bính Ngọ, TK từ nhiều nguồn và thực tế BT, GĐ-

 

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn “Lốc” ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão và từ 07/2025 là xã An Hưng, thành phố Hải Phòng (SSN)- Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai và từ 07/2025 là phường Lào Cai tỉnh Lào Cai (SSN)

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với “Ẩn danh”.
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!