01 tháng 6 2026
21 tháng 5 2026
(Tiếp theo 3...) CHUẨN BỊ KHÔNG THỪA
Truớc giờ làm Lễ Truy điệu, với lòng biết ơn và thương tiếc người
Mẹ, người Bà, người Cụ - bậc Gái đảm họ Phạm, dâu hiền tộc Lương, cháu con và Đại
Gia đình nhờ Đoàn Nhạc hiếu than đôi câu. Than rằng:
Mẹ ơi!
Nhớ khi xưa:
Sinh nơi Phạm tộc Cốc Tràng
Trong nhà nền nếp, không sang, chẳng giầu.
Tuổi thơ vất vả qua mau,
Mười năm mấy bận trắng đầu khăn tang.
Làm dâu về dưới Hương làng,
Thay chồng lo việc, họ hàng ngợi khen.
Quanh năm chân đất lấm lem,
Áo dầy miếng vá, quần đen nhuốm bùn.
Mười lần “vượt cạn qua truông”,
Bẩy con khôn lớn, muôn trùng khó khăn.
Thau chua, rửa mặn, cắt lăn,
Quanh năm mặc Rét, đói Ăn bốn mùa.
Chồng lo việc xã sớm trưa,
Mẹ già sức yếu, con thơ Ốm gầy.
Tảo tần Mưa Nắng Đêm Ngày,
Vui chưa đến lượt, No tầy cũng không.
Thế rồi:
Ngó Quê gạo Chợ, nước Sông,
Đất dầy người ở, ruộng không luống
cày.
Rời Biển lên chốn Rừng cây:
Cỏ giăng khắp chốn, Vắt đầy lối đi.
Mặc ai bỏ cuộc về Quê,
Vẫn bám Nơi mới, chẳng hề băn khoăn.
Với chồng, rất mực ân cần
Với con nuôi học: Mặc can, Kệ dèm.
Giữa đời lọc lõi bon chen,
Tâm thành vẫn vững, lòng thiền chẳng
lay.
Mẹ, Em, Chồng, Chị về mây,
Một mình gắng để xum vầy Cháu Con.
Bóng cao, tuổi hạc xế non,
Vẫn nêu nếp cũ, lòng son chẳng mờ.
Bởi thế nên:
Dẫu không “Vọng tộc Danh gia”,
“Hương thôn tiêu biểu” xứng nhà nêu
gương.
Bõ công cơ cực, đoạn trường,
Ơn gái Phạm đảm, dâu Lương chuyên cần.
Tu Trí, rèn Đức, tích Nhân,
Thập tứ tử hiếu bần hàn đã qua.
Ngoan, Hai Tám cháu quanh Bà,
Hai Bẩy bé Chắt, đấy Hoa tặng người.
Đứa gần Dâng mớ cá tưới,
Đứa xa năng ghé, Thưa lời hỏi han.
Đủ ăn thương kẻ bần hàn,
Đói nghèo vẫn một lòng Nhân trau dồi.
Đều vun Đức, Tín rèn người,
Học cao khéo ở, thấp thời trông nhau.
Vẹn tình, Chung thủy, Trước sau,
Gian nan không quản, khổ đau chẳng sờn.
Phúc, Phần xứng tấm lòng Son,
Vững nơi gốc Tử, đẹp phần Quế Lan...
Những mong nhiều dịp đón Xuân,
Tuổi hạc Mẹ vững như vầng Thái Sơn.
Chắc nơi chỗ dựa chúng Con,
Để cho Cháu Chắt mãi còn gương soi.
Bỗng đâu:
Nay nơi Tiên cảnh đang chờ,
Mẹ về “Chín suối” con thơ xé lòng.
Còn đâu dáng mẹ lưng còng,
Nhắc nhở mỗi bận con không vâng lời.
Bà đâu còn ở trên đời,
Để cho cháu nhận những lời bảo ban.
Ới Mẹ ơi !
Trước giờ chuyển cữu, di quan,
Cúi xin bái biệt, Vong lên Thiên đàng.
Âm dương đôi ngả, chín tầng,
Cầu Vong siêu độ, nẻo đường Vân Du
Trống, Kèn sầu báo giọt thu,
Cháu con đồng lạy, đợi quy giờ lành.
-TN LĐM, 5/2026-
20 tháng 5 2026
(Tiếp 2) CHUẨN BỊ, KHÔNG THỪA
Kính
thưa các quý vị đại biểu đại diện cho các ban ngành, đoàn thể!
Kính
thưa Ban Lễ tang;
Kính thưa bà con trong tang trường !
Kính thưa Hương hồn Mẹ: Cha mẹ đã cho chúng con một thể xác và một
tâm hồn để mà hiện hữu trên trần thế từ chỗ nhỏ xíu, thơ dại đến khi khôn lớn, trưởng thành.
Người xưa có nói: “Sinh thành Đông hải khoát; Dưỡng dục Thái sơn cao”.
Theo thời gian, Mẹ ngày càng Già, Yếu đi để
chúng con cháu ngày một lớn lên, trưởng thành có công có việc, có cửa, có nhà, yên bề gia thất.
Đúng là “Cây nhân đức Mẹ trồng, cho đời Con hiển đạt” !
Hôm nay, trong giờ phút này chúng
con có mặt ở đây để hiểu rằng từ nay các con Trai, Gái, Dâu, Rể các Cháu, Chắt
Nội Ngoại… thấu hiểu rằng đã vĩnh viễn mất Mẹ, mất Bà, mất Cụ,…nhưng sẽ luôn thầm
nguyện: “Đạo Hiếu hiền Con tích để xứng
Mẹ dưỡng nuôi”!
Dẫu vẫn biết “thân Cát bụi phải trở về
cát bụi” nhưng chúng con cháu vẫn đau xót khôn nguôi và mỗi lần thăm lại ngôi
nhà cũ luôn tự hỏi: “Cảnh cũ còn đây, người xưa đâu tá” ? Lòng thêm tan nát, Xin
vĩnh biệt Mẹ, Bà, Cụ kính yêu.
Kính thưa toàn thể Tang trường: Sau một năm chống chọi với
bệnh tật hiểm ác, tuổi cao, sức yếu Mẹ, Bà, Cụ chúng tôi đã ra đi. Đó là một sự thiếu hụt rất
lớn, không gì bù đắp được trong đời sống tình cảm và về mọi phương diện của đại
gia đình chúng tôi.
Từ
khi mẹ chúng tôi lâm bệnh đến tận những phút cuối cùng và trong cả buổi tang lễ
hôm nay, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự chia sẻ, giúp đỡ của các Cơ quan
đoàn thể, các ông bà, các bác, các anh chị em bạn bè. Lời Đầu tiên, thay mặt
Con cháu Cụ và gia đình xin chân thành cám ơn Bà con lối xóm, Anh em bè bạn, Họ
hàng đã Thăm nom mẹ tôi trong lúc ốm đau, Có mặt trong khi tiễn đưa,…Đó là nguồn
động viên lớn với gia đình và anh em con cháu chúng tôi.
Lời thứ Hai, Mai là 3 ngày Mẹ tôi rời
trần thế, theo phong tục Cổ truyền và Nghi thức địa phương gia đình có làm một
lễ nhỏ rước Hương Hồn Mẹ tôi về gia từ. đồng là Lễ “Tam Nhật”. Thay mặt Con cháu Cụ và gia đình xin kính mời các đ/c lãnh
đạo, bà con,… đến Tăng trường uống chén Rượu nhạt chia buồn với anh, em cùng con,
cháu chúng tôi.
Lời thứ Ba, dù đã cố gắng nhưng trong
lúc “tang gia bối rối” không khỏi có những sơ xuất, thiếu sót trong nghi lễ, thưa gửi và việc đón tiếp, xin được niệm
tình thứ tha !
-Trưởng Nam Lương Đức Mến cẩn soạn, -
(Tiếp) Chuẩn bị KHÔNG THỪA
Kính
thưa: Lãnh đạo các đoàn
thể và các đ/c đại diện lãnh đạo các ban ngành của thôn, xã
và tỉnh Lào Cai.
Kính thưa: Ban tang lễ
và gia đình hiếu chủ.
Kính thưa: Toàn thể
bà con trong tang trường.
Trong giờ phút buồn
đau và thương xót này, chúng ta tập trung tại đây để vĩnh biệt một
con người. Đó là Cụ Phạm Thị Uyển ! Cụ đã trút hơi thở cuối cùng vào
hồi 6 giờ 10 ngày 23/06/2026
tức là ngày 07 tháng 4 năm Bính Ngọ.
Cụ
sinh năm Kỷ Mùi 1920 trong một nhà
nông dân nền nếp ở xã Cốc Tràng, tổng Cao Mật, huyện An Lão, tỉnh Kiến An
sau 1950 là thôn Cốc Tràng, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố
Hải Phòng từ 07/2025 là Thôn Cốc Lộc xã An Hưng, thành phố Hải Phòng.
Mẹ cha mất sớm,
ngay từ nhỏ cụ đã trải cuộc sống gieo neo trên ruộng bãi bên bờ sông
Văn Úc.
Lớn
lên Cụ lấy chồng, về
làm dâu họ Lương ở Phương Lạp cùng xã Cảnh Hưng xưa.
Tiếp đó là những
tháng năm kháng chiến rồi khôi phục sau hòa bình đầy máu lửa và gian
truân, bao khó khăn và thách thức.
Cụ quên mình lo mọi
việc nhà để cụ ông yên tâm lo việc làng, việc xã.
Nhà
nghèo mấy bận hữu sinh
vô dưỡng cụ vẫn vững lòng thay chồng nuôi, dạy con ngoan, phụng dưỡng
mẹ chồng, chăm lo việc họ.
Chính cái Đức, sự thương
khó, nhẫn nhịn của cụ đã giúp cho gia cảnh ấm êm, anh em hòa
thuận, mọi việc hanh thông, cháu con thành đạt.
Kính thưa bà con trong
tang trường !
Đồng bằng đất chật,
người đông. Biên cương rừng núi mênh mông cần khai hóa. Tháng 2
năm 1964, theo lời Đảng gọi, cụ cùng gia đình rời quê cha đất tổ
Hải Phòng lên xây quê mới Lào Cai.
Vượt bao buồn nhớ, bỡ
ngỡ, gian khó, thiếu thốn thủa ban đầu, cụ cùng lớp người tiền tiêu
bền chí gây dựng An Phong.
Những khe lũng ngập
ngụa, lầy sình; những bãi hoang ken dầy cỏ môi, mọc đầy lau
lách; những sườn đồi chằng chịt cây rừng, vắt muỗi vo ve.
Nay thành ruộng,
thành vườn, nên làng, nên xóm có phần công của cụ.
Cụ là lớp
người đầu tiên trong 21 hộ, 93 người với 35 lao động chính ngày
ấy khởi thủy công việc lập nên An Phong rộng lớn như ngày nay.
Trong gian khó, nhiều
người đã chán nản bỏ về, tìm sang nơi khác.
Nhưng cùng với
những người kiên trung còn lại, cụ đã bám trụ khai khẩn ruộng nương,
làm nhà tạo xóm.
Khi đủ ăn cụ biết
nhường cơm sẻ áo cùng bà con củng cố xóm thôn cho đến tận cuối đời
trong kì đổi mới.
Kính
thưa hương hồn Cụ!
Công lao đóng góp của
cụ dẫu không được tính bằng Huân chương, danh hiệu; nhưng được biết
đến như một tấm gương trong.
Cảm phục sao tấm lòng
hiền thục, chân tình, hay lam, ham làm, hi sinh, nhẫn nhịn cả trong lúc
éo le.
Còn lưu mãi gương dâu
thảo, vợ hiền, mẹ đảm, người xã viên giỏi trong những ngày tay trắng
đi lên thời khởi lập hay trong những năm tháng sau này.
Lớp lớp thanh,
thiếu niên quanh vùng đến giờ vẫn nhớ và truyền cho nhau nghe nhiều
chuyện cảm động về người nữ nông không biết chữ nhưng giầu lòng nhân
ái, chịu thương, chịu khó đảm việc nhà, khuyên cháu con ăn học.
Kính
thưa các
đ/c lãnh đạo, thưa toàn thể bà con !
Người xưa từng nói:
“Trên nối nghiệp
tổ tông truyền lại, Dưới nêu gương con cháu noi theo”.
50 năm chung cuộc sống
vợ chồng, cụ và cụ ông Lương Đức Thân đã giữ được nếp nhà, đóng
góp cho dân, cho xóm và nuôi dạy cháu con.
Ông, bà sinh nhiều bận
nhưng nuôi đến trưởng thành được: 5 trai, 2 gái. Cụ ông
do mắc bệnh đã ra đi năm 1997 cũng trên mảnh đất này (nay là xóm An
Phong, thôn An Hồ, xã Xuân Quang tỉnh Lào Cai) gắn bó cả thời sung sức
của Ông Bà và những người cùng thời.
Các con trai gái của
ông bà đều đã trưởng thành. Hai con gái cụ xây dựng gia đình theo
nghề trồng trọt tiếp mẹ cha xây dựng xóm thôn ở An Phong (nay là An Hồ), ở Phố Lu và đều là
những lao động chân chính, chịu thương, chịu khó.
Năm con trai của cụ
đều được học hành và nay là những Sĩ quan Trung, Cao cấp, những lãnh
đạo, những cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm, bản lĩnh và được tin
tưởng của Công an tỉnh, Sở Lao động - Thương binh xã hội Lào Cai, Công
an tỉnh Lào Cai và đoàn thể xã Xuân Quang (xưa là Phong Niên). Nay nhiều người đã trở thành những hưu nhân
gương mẫu
Các con dâu, con rể của
cụ đều là những cán bộ, giáo viên, công chức, người lao động, kinh
doanh mẫu mực có trình độ chuyên môn cùng với các con trai, con gái của cụ
họ tạo thành gia đình có “Thập Tứ tử Hiếu”.
Gốc rễ bền sinh cành
rợp bóng, nguồn rộng sâu tạo dòng chảy không ngừng.
Nối tiếp truyền
thống cha ông, các cháu của cụ đều là những con ngoan, trò giỏi.
Tuy chưa thông mặt
chữ, chưa từng vào Đảng nhưng cụ đã sinh ra, nuôi dạy những thạc sĩ,
bác sĩ, kĩ sư và cháu con cụ đủ lập thành 2 Chi bộ.
Hai Cụ
sinh, nuôi, xây dựng gia đình cho 7 người con đến tháng 5/2026 này thành 15 cả Dâu và Rể
và Cụ đã có 28 cháu nội, ngoại, dâu, rể; các cháu đã sinh cho cụ 27 chắt
nội ngoại đủ gái và trai đang sống và học tập tại Nam Định (nay là Ninh Bình),
Hải Phòng, Hà Nội và Lào Cai.
Các cháu lớn đã phấn đấu
thành những kĩ sư, công an, giáo viên, cán bộ trong cơ quan Nhà nước, nhân
viên doanh nghiệp ở Hà Nội, ở tỉnh; nhiều cháu đã thành thạc sĩ, sĩ quan,
trở thành đảng viên khi tròn tuổi 20. Các cháu nhỏ đang theo học tại các
trường đều là những cháu chăm ngoan. Chẳng một ai vướng vòng lao lý, mang tiếng
xấu với đời.
Cụ đã
được UBND huyện xác nhận
Kỷ lục “Gia đình có nhiều người trình độ trên Đại học nhất”, được tặng
Giấy khen và Bằng khen của Huyện, tỉnh Lào Cai, Thành phố Hải Phòng và Chính
Phủ.
Thật là: Dẫu không
phải Danh gia vọng tộc, cũng xứng dòng tiêu biểu hương thôn !. Công nuôi
dạy đó của Cụ đáng là khâm phục.
Sau khi cụ ông qua đời,
các con Cụ sống nơi thị thành muốn đón cụ ra để an hưởng tuổi già. Nhưng
nặng lòng với nơi gắn cả đời gian khó, nặng tình với xóm thôn, bà
con An Phong mà cụ quyết tâm ở lại nơi đây mà năm 2020 sáp nhập thành thôn An Hồ sau đó năm 2025 Phong Niên nhập thành xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai.
Những ngày cuối đời
cụ thấy bao phấn khởi vì tận mắt chứng kiến những thay đổi ở thung
lũng La Cà Bốn ngày xưa ấy. Nhưng tuổi cao, bệnh trọng đã không cho cụ
được chứng kiến tiếp những đổi thay chắc sẽ còn to lớn.
Vào
lúc giờ 6 giờ 10 phút
ngày 23 tháng 5 năm 2026 tức là ngày 07 tháng 4 năm Bính Ngọ, trái tim Cụ
ngừng đập sau một cơn đau đột ngột tại nơi Cụ từng gắn bó hơn 50
năm đời lao động, chăm sóc gia đình trong vòng tay yêu thương, kính
trọng và đau nhớ của cháu con, họ mạc.
Cụ hưởng thọ 107 tuổi, thật đúng với câu:
Vượng phu ích tử hơn sáu
chục năm sáng danh dâu hiền Lương tộc;
Ân Tổ tri căn ngót một
trăm niên nêu chí gái đảm Phạm gia.
Kính thưa hương hồn cụ
! Trong giờ phút biệt ly, Cụ về âm giới mãi xa xăm, chúng tôi trên
dương trần luôn tưởng nhớ.
Ôi, từ nay: Vắng
cụ trong luận bàn việc xóm, còn đâu lời khuyên bảo lúc cam go.
Liên Hoa Tự
khuyết chân quy tâm sáng; Tổ đồng hương vắng ủy Hội nhiệt thành.
Bà, Mẹ đâu gửi câu
thưa gửi; Giường cột xa trong họ cậy ai.
Vẫn
biết vòng luân hồi của kiếp trần gian, quy luật của cuộc
sống: âm, dương thế chỗ, trăng tròn lại khuyết; sinh tử phù du, nhưng sao sự ra
đi của Cụ không khỏi khiến
chúng ta ngậm ngùi thương tiếc, lòng
thắt khôn cầm, nặng
đau trong dạ.
Cụ đã đi xa, nhưng:
Xóm làng ghi công người mở đất. Bà con học tập đức bền gan.
Cháu con đau một nỗi: Nghĩa sớm hôm ấp lạnh quạt
nồng, Tơ tóc những hiềm chưa báo trả ơn nuôi nấng áo dầy cơm nặng,
Biển trời khôn xiết mấy công lao.
Nay Hiếu tử hãy còn lưu lị sở, mà mẫu thân
đã vội lánh trần.
Hậu sinh mất tiền nhân mẫu mực; Chị em thương tiếc
bạn đồng cam.
Chúng tôi, dân An Hồ, Xuân Quang cảm phục cụ: Sống tận tuỵ mọi
người yêu quý; Chết thuỷ chung, họ tộc tiếc thương.
Sớm tối nào quên niềm ái mộ. Tháng ngày khôn
xiết nỗi bi ai.
Nhưng “Sinh kí, tử quy”, Thuốc trường sinh,
đào Vương Mẫu chưa trao. Bút chú tử, sách Nam Tào đã định.
Ôi thôi thôi !
Từ nay vắng lặng, xót đau nào mà kể cho nguôi.
Cầu vong linh cõi tiên cảnh nhàn du, Yên thân xác
đặt nơi đất tốt.
Chốn âm giới vong về
an nghỉ. Nơi dương trần luôn nhớ khói hương.
Hôm nay, với sự hiện diện đông đủ của bà con và gia đình;
thay mặt cho toàn thể nhân dân thôn xin được ghi nhận những công lao của Cụ đã
đóng góp cho thôn, xã, cho Hội đồng hương và hội Quy Liên Hoa tự. Trước linh
cữu của Cụ, chúng tôi kính chúc cho vong hồn Cụ sớm được an bình siêu thoát,
phiêu diêu.
Cụ Uyển
ơi! Hơn trăm tuổi Cụ rời xa
trần thế.
Cả một đời vất vả gian
nan.
Sống phấn đấu đương
hưởng chút an nhàn.
Theo tổ tiên Cụ về nơi
chín suối.
Phút lâm chung nội,
ngoại gần xa,
Cùng bà con hàng xóm quanh
nhà.
Xin cúi đầu thắp một tuần nhang.
Nơi suối vàng thiên thu yên nghỉ.
Xin chúc Cụ thanh thản lên đường.
Xin vĩnh biệt từ đây …xa cách.
Cảm
tạ bà con cô bác, họ mạc xa gần, lối xóm cận lân,
Anh em đồng chí, bạn thông gia của con cháu,
các bậc thông gia liên gia của gia tộc; và các cấp lãnh đạo đã
đến phúng viếng, chia buồn và có lời phân ưu thống thiết.
Xin được kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt Cụ
Trước lúc di quan, trong giờ truy điệu, đề
nghị dành một phút mặc niệm !
Xin chân thành cảm ơn tất cả các quý vị và bà con.
(Xong người đọc đứng nghiêm cúi
đầu và đốt "bài này" đi).
-Trưởng Nam: Lương Đức Mến cẩn soạn-
18 tháng 5 2026
Chuẩn bị KHÔNG THỪA
DANH SÁCH TỔ TIÊN
HỌ LƯƠNG
(Gốc làng Hương, xã Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng
nay là thôn Phương Hạ xã An Hưng, thành phố Hải Phòng)
Vào thời Lê – Mạc (南北朝,
1533-1592), tổ Thượng Lương Đắc Cam 梁贵公諱甘字三郎
từ Thanh Hoá ra gặp học trò Bảng nhãn Lương Đắc Bằng là
Nguyễn Bỉnh Khiêm (阮秉謙, 1491-1585) ở Vĩnh Lại xứ Đông. Trạng
Trình đã đưa con cháu thầy học mình về lập nghiệp và gây dựng cho Lương Đắc Cam
ở thôn Lao Chữ 牢渚, tổng Dương Áo 陽襖,
huyện Tân Minh 新縣, phủ Nam Sách 南策,
trấn Hải Dương 海陽 (nay là thôn Chử Khê, xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng).
Thuỷ tổ Lương Công Trạch梁公宅
Đệ Nhất đại Tổ (Kị chồng): Lương Công Nghệ, Tổ tỉ Lương
Thị Còi
Giỗ Tổ Rằm tháng Giêng tại Từ đường đặt
tại thôn Phương Hạ, xã An Hưng
Đệ Nhị Đại Tổ Hay Đệ Nhất Tổ ngành:
Lương Công Tú với Tổ tỉ gồm Đào Thị Nhượng, Nguyễn Thị Dụng, Hoàng Thị Châu, Đặng
Thị Chiền. Giỗ Tổ ngành vào 19.2 âm lịch do Lương Đức Thành duy trì tại nhà
cháu ở thôn Phương Hạ.
Tằng Tổ khảo (Cụ Chồng) Lương Đức Hanh, Tổ Tỉ: Đặng Thị
Chẻo. Giỗ vào !5/Chạp tại nhà Lương Đức Tơ
Tổ Khảo (ông chồng): Lương Đức Trinh (thường được gọi là “Trinh bé”, để phân biệt
với “Chinh lớn” tức cụ Giáo Chinh征. Giỗ 17/9), Tổ Tỉ: Nguyễn Thị Lễ (Giỗ 01/11).
Bá phụ khảo: Lương
Đức Quýnhmất sớm, khiếm tự. Kỵ 04/G
Tổ cô: Lương Thị Mẹt
Hiển khảo (bố chồng) : Lương Đức Trinh (第五代祖梁德楨, Giỗ 29/Chạp), Hiển Tỉ: Đặng
thị Chỉ (Bà Nội chúng tôi, kị 08/11)
Chồng: Lương Đức
Thân (Kị ngày 13/Chạp)
HỌ PHẠM
(Gốc làng Cốc, xã Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng nay
là thôn Cốc Lộc, xã An Hưng, thành phố Hải Phòng)
1.Tổ
là cụ Phạm Đình Khanh 范廷牼.
Cụ là hậu duệ đời thứ 16, 17 của Phạm Ngũ Lão và là người con thứ tư của Thượng
tổ Phạm Công Quý 范公貴.
Cụ từ Đường Hào sang lập nghiệp ở Cốc Tràng, Cao Mật năm Bính Thân, 1716. Cụ mất
ngày 09 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ nhất (Canh
Thân, 1740). Đời sau suy tôn là Cụ Tổ họ Phạm ở đây 范皋密肇祖
2.Ông
Nội là Phạm Huy Thiều (Nam duy nhất
trong 3 người con) thuộc đời thứ 9;
3.Bố
đẻ là Phạm Văn Nhạc (范文樂,
1888-1936, kị 14 tháng Chạp, là Út trong
3 trai, 2 gái) thuộc đời thứ 10.
Mẹ đẻ Đào Thị Thẩn (1885-1947, người làng Hạ, Kị 18/Chạp).
Cả
2 mộ đã được xây lại, khắc bia vào năm 2006 (Bính Tuất).
Ông bà sinh 2 trai (Kiểm, Kiển) và 3 gái (Uyển,
Ương, Tương).
4. Các
anh:
1. Phạm Văn Kiểm (范文檢, 1908-1991). Kị ngày 16/6, lấy 2 vợ:
* Bà cả: Đặng Thị Bè nổi tiếng căn cơ,
sinh 2 gái là P.T. Bộn, P.T. Mọn.
* Bà hai: Đặng Thị Huân, người làng Hầu,
đã có chồng con, nhưng chồng mất. Chục năm đầu vẫn ở lại làng Hầu, sau chuyển về
ở cả Cốc. Sinh P.V. Mót (Phạm Công Bình) và P.T. Bòn
2. Phạm Văn Kiển (范文繭, 1916-1997). Kị ngày 22/6. Ông nổi tiếng
học giỏi và hay chữ nhất vùng.
Vợ là Trần Thị Chút.
Ông bà sinh 4 gái (Khiên, Nhiên, Nhiễn, Nhiện) sau sinh tiếp 4 trai (Triển, Lãm, Lạm, Hởi).
5. Các
em Gái:
1. Phạm Thị Ương (范氏央, 1927-1988) Lấy ông Vũ Văn Miêu ở Văn
Khê, Có 2 gái, 3 trai (Loan, Ruệ, Sen,
Chuân, Chi). Chú, Dì đều đã mất tại quê.
2. Phạm Thị Tương 范氏襄 sinh năm Tân
Mùi, 1931.
* Người chồng đầu là Lương Hoàn Nhâm ở
thôn Hạ, tổng Cao Mật. Nhưng do vai vế thấp nên bà tự ái mà bỏ.
* Người chồng sau là Ngô Văn Trân ở Kim
Trâm, Mỹ Đức, An Lão (từ 7/2025 thuộc xã
An Khánh, tf Hải Phòng). NVT công
tác bên ngành vật liệu. Ông bà sinh ra N.T. Lai, N.V. Quý, N.T. Hoà, N.V. Phúc.
Từ khi sinh Hoà 2 người đã trục trặc nhau. Đến khi có Phúc thì căng hẳn, ông bà
li dị, bà đưa các con về tá túc bên ngoại (làng
Cốc). Đến tháng 6/1974 Dì đưa Lai, Hoà, Phúc lên An Phong, Phong Niên cạnh
nhà chị gái là PTU. N.V. Trân đưa Quý đi Hà Bắc ở nhà máy gạch gần Sen Hồ có thời
gian chuyển vào Nam đến năm 1985 về hưu sống với người vợ hai và 3 con bà này tại
Bắc Giang. NV Trân mất tại HB 2018 do bệnh, tuổi cao.
ĐƯƠNG SỐ:
Họ
và tên PHẠM THỊ UYỂN, hiệu Diệu Canh, Sinh 01/01/1920 tức tuổi Kỷ Mùi; Hưởng thọ 104 tuổi !
Nguyên
quán làng Cốc, tổng Cao Mật, phủ Kiến Thụy
sau là thôn Cốc Tràng, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng và từ
7/2025 là thôn Cốc Lộc, xã An Hưng, Hải phòng
Cư
ngụ từ 2/1964 tại thôn An Phong, xã Phong
Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và từ 7/2025 là xóm An Phong, thôn An Hồ,
xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai.
CON CHÁU
(tính đến 5/2026 bà có 5 Trai, 2 Gái, 6 Dâu, 2 Rể, 28 Cháu, 27 Chắt)
|
SỐTT |
HỌ VÀ TÊN |
NĂM SINH |
MỆNH |
|||||
|
|
Con
Trai (5) |
|||||||
|
1 |
Lương Đức Mến |
1955 |
Ất Mùi |
Sa Trung Kim |
||||
|
2 |
Lương Đức Thuộc |
1957 |
Đinh Dậu |
Sơn Hạ Hỏa |
||||
|
3 |
Lương Đức Thức |
1962 |
Nhâm Dần |
Kim Bạch Kim |
||||
|
4 |
Lương Đức Luân |
1966 |
Bính Ngọ |
Thiên Hà Thủy |
||||
|
5 |
Lương Đức Luận |
1970 |
Canh Tuất |
Thoa Xuyến Kim |
||||
|
|
Con
Dâu (6) |
|||||||
|
1 |
Phạm Thị Mến |
1958 |
Mậu Tuất |
Bình Địa Mộc |
||||
|
2 |
Lữ Thị Nghị |
1959 |
Kỷ Hợi |
Bình Địa Mộc |
||||
|
3 |
Phạm Anh Đào |
1964 |
Giáp Thìn |
Phú Đăng Hỏa |
||||
|
4 |
Nguyến Thị Thi |
1974 |
Giáp Dần |
Đại Khên Thủy |
||||
|
5 |
Bùi Thị Hợp |
1968 |
Mậu Thân |
Đại Dịch Thổ |
||||
|
6 |
Nguyễn Thị Ngọc Anh |
1978 |
Mậu Ngọ |
Thiên
ThượngHỏa |
||||
|
|
Con
Gái (2) |
|||||||
|
1 |
Lương Thị Thường |
1959 |
Kỷ Hợi |
Bình Địa Mộc |
||||
|
2 |
Lương Thị Lý |
1968 |
Mậu Thân |
Đại Dịch Thổ |
||||
|
|
Con
Rể (2) |
|||||||
|
1 |
Vũ Văn Hoàn |
1959 |
Kỷ Hợi |
Mất 2024 Giáp Thìn |
||||
|
2 |
Nguyễn Văn Bình |
1965 |
Ất Tỵ |
Phú Đăng Hỏa |
||||
|
|
Cháu
Nội Trai (8) |
|||||||
|
1 |
Lương Đức Hải Thương |
1985 |
Ất Sửu |
Hải Trung Kim |
||||
|
2 |
Lương Đức Thuận |
1981 |
Tân Dậu |
Thạch Lựu Mộc |
||||
|
3 |
Lương Đức Hòa |
1983 |
Quý Hợi |
Đại Hải Thủy |
||||
|
4 |
Lương Đức Thắng |
1990 |
Canh Ngọ |
Lộ Bàng Thổ |
||||
|
5 |
Lương Đức Anh Đình |
1991 |
Tân Mùi |
Lộ Bàng Thổ |
||||
|
6 |
Lương Đức Quảng |
1994 |
Giáp Tuất |
Sơn Đẩu Hỏa |
||||
|
7 |
Lương Đức Minh |
2004 |
Giáp Thân |
Tỉnh Tuyền Thủy |
||||
|
8 |
Lương Đức Minh Đăng |
2009 |
Kỷ Sửu |
Thích Lịch Hỏa |
||||
|
|
Cháu
Nội Gái (3) |
|||||||
|
1 |
Lương Thị Huyền Thương |
1983 |
Quý Hợi |
Đại Hải Thủy |
||||
|
2 |
Lương Thị Nguyệt |
1989 |
Kỷ Tỵ |
Đại Lâm Mộc |
||||
|
3 |
Lương Thị Tuyết |
1991 |
Tân Mùi |
Lộ Bàng Thổ |
||||
|
|
Cháu
Ngoại Trai (3) |
|||||||
|
1 |
Vũ Văn Hiển |
1981 |
Tân Dậu |
Thạch Lựu Mộc |
||||
|
2 |
Vũ Văn Hạnh |
1983 |
Kỷ Tỵ |
Đại Hải Thủy |
||||
|
3 |
Nguyễn Văn Hiếu |
1996 |
Bính Tý |
Giản Hạ Thủy |
||||
|
|
Cháu
Ngoại Gái (2) |
|||||||
|
1 |
Vũ Thị Huệ |
1986 |
Bính Dần |
Lô Trung Hỏa |
||||
|
2 |
Nguyễn Thị Thảo |
1999 |
Kỷ Mão |
Thành Đầu Thổ |
||||
|
|
Cháu
Dâu Nội (5) |
|||||||
|
1 |
Phạm Thanh Hòa |
1988 |
Mậu Thìn |
Đại Lâm Mộc |
||||
|
2 |
Vũ Thị Vân Anh |
1983 |
Quý Hợi |
Đại Hải Thủy |
||||
|
3 |
Nông Thu Khánh |
1985 |
Ất Sửu |
Hải Trung Kim |
||||
|
4 |
Đỗ Thị Quỳnh Như |
1997 |
Đinh Sửu |
Giản Hạ Thủy |
||||
|
5 |
Vũ Thị Ngọc Ánh |
2000 |
Canh Ngọ |
Bạch Nạp Kim |
||||
|
|
Cháu
Dâu Ngoại (2) |
|||||||
|
1 |
Phạm Thúy Kièu |
1989 |
Kỷ Tỵ |
Đại Lâm Mộc |
||||
|
2 |
Lê Thị Hồng |
1986 |
Bính Dần |
Lư Trung Hỏa |
||||
|
|
Cháu
Rể Nội (3) |
|||||||
|
1 |
Nguyễn Trọng Sinh |
1983 |
Quý Hợi |
Đại Hải Thủy |
||||
|
2 |
Vũ Tiến Duy |
1988 |
Mậu Thìn |
Đại Lâm Mộc |
||||
|
3 |
Nguyễn Minh Tân |
1991 |
Tân Mùi |
Lộ Bàng Thổ |
||||
|
|
Cháu Rể Ngoại (2): Giáp Tý1984 (Triệu Ngọc Hồng, Hải Trung Kim), Giáp Tuất 1994 (Vũ Đình Vinh, Sơn Đầu Hỏa) | |||||||
Chắt Nội (9): NT 2012, ÂM 2016, MT 2008, NT 2012, KS 2009, ÂM 2015, QM 2023, QM 2023, ÂT 2025 |
||||||||
|
Chắt
Ngoại (16): NT 2012, GN 2014, QT 2013, GN 2014, BT 2016, KH 2019, CD 2010, BT 2016, QT 2013, BT 2017, ÂM 2015, BT 2017, MT 2018, ND 2022, ÂT 2025 |
||||||||
-Lương Đức Mến, ST và BS, 02/4/Bính Ngọ-
Cám ơn bạn đến thăm nhà
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn “Lốc” ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão và từ 07/2025 là xã An Hưng, thành phố Hải Phòng (SSN)- Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai và từ 07/2025 là phường Lào Cai tỉnh Lào Cai (SSN)
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với “Ẩn danh”.
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!






