[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


20 tháng 5 2026

(Tiếp 2) CHUẨN BỊ, KHÔNG THỪA

Kính thưa các quý vị đại biểu đại diện cho các ban ngành, đoàn thể!

Kính thưa Ban Lễ tang;

Kính thưa bà con trong tang trường !

Người xưa có nói: “Sinh thành Đông hải khoát; Dưỡng dục Thái sơn cao”.Kính thưa Hương hồn Mẹ: Cha mẹ đã cho chúng con một thể xác và một tâm hồn để mà hiện hữu từ chỗ nhỏ xíu, thơ dại đến khi khôn lớn, trưởng thành.

Theo thời gian, Mẹ ngày càng Già, Yếu đi để chúng con cháu ngày một lớn lên, trưởng thành có công có việc, có cửa, có nhà. Đúng là “Cây nhân đức Mẹ trồng, cho đời Con hiển đạt” !

Hôm nay, trong giờ phút này chúng con có mặt ở đây để hiểu rằng từ nay các con Trai, Gái, Dâu, Rể các Cháu, Chắt Nội Ngoại… thấu hiểu rằng đã vĩnh viễn mất Mẹ, mất Bà, mất Cụ,…nhưng sẽ luôn thầm nguyện:  “Đạo Hiếu hiền Con tích để xứng Mẹ dưỡng nuôi”!  

Dẫu vẫn biết “thân Cát bụi phải trở về cát bụi” nhưng chúng con cháu vẫn đau xót khôn nguôi và mỗi làn thăm lại ngôi nhà cũ lon tj hỏi: “Cảnh cũ còn đây, người xưa đâu tá” ? Lòng thêm tan nát, Xin vĩnh biệt Mẹ, Bà, Cụ kính yêu.

Kính thưa toàn thể Tang trường: Sau một năm chống chọi với bệnh tật hiểm ác, tuổi cao, sức yếu Mẹ, Bà, Cụ  chúng tôi đã ra đi. Đó là một sự thiếu hụt rất lớn, không gì bù đắp được trong đời sống tình cảm và về mọi phương diện của đại gia đình chúng tôi.

Từ khi mẹ chúng tôi lâm bệnh đến tận những phút cuối cùng và trong cả buổi tang lễ hôm nay, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự chia sẻ, giúp đỡ của các Cơ quan đoàn thể, các ông bà, các bác, các anh chị em bạn bè. Lời Đầu tiên, thay mặt Con cháu Cụ và gia đình xin chân thành cám ơn Bà con lối xóm, Anh em bè bạn, Họ hàng đã Thăm nom mẹ tôi trong lúc ốm đau, Có mặt trong khi tiẽn đưa,…Đó là nguồn động viên lớn với gia đình và anh em con cháu chúng tôi.

Lời thứ Hai, Mai là 3 ngày Mẹ tôi rời trần thế, theo phong tục Cổ truyền và Nghi thức địa phương gia đình có làm một lễn nhỏ. “Tam Nhật”. thay mặt Con cháu Cụ và gia đình xin kính mời các đ/c lãnh đạo, bà con,… đến Tăng trường uống chén Rượu nhạt chia buồn vớn anh, em cùng con, cháu chúng tôi.

Lời thứ Ba, dù đã cố gắng nhưng trong lúc “tang gia bối rối” không khỏi có những sơ xuất, thiếu sót, xin được niệm tình thứ tha !

-Trưởng Nam Lương Đức Mến cẩn soạn, -



Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

(Tiếp) Chuẩn bị KHÔNG THỪA

Kính thưa: Lãnh đạo các đoàn thể và các đ/c đại diện lãnh đạo các ban ngành của  thôn, xã và tỉnh Lào Cai.


Kính thưa: Ban tang lễ và gia đình hiếu chủ.

Kính thưa: Toàn thể bà con trong tang trường.

Trong giờ phút buồn đau và thương xót này, chúng ta tập trung tại đây để vĩnh biệt một con người. Đó là Cụ Phạm Thị Uyển ! Cụ đã trút hơi thở cuối cùng vào hồi       giờ ngày   / 06 /2026 tức là ngày  tháng 5 năm  Bính Ngọ.

Cụ sinh năm Kỷ Mùi 1920 (hay Nhâm Tuất 1923) trong một nhà nông dân nền nếp ở xã Cốc Tràng, tổng Cao Mật, huyện An Lão, tỉnh Kiến An sau 1950 là thôn Cốc Tràng, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng từ 07/2025 là Thôn Cốc Lộc xã An Hưng, thành phố Hải Phòng.

 Mẹ cha mất sớm, ngay từ nhỏ cụ đã trải cuộc sống gieo neo trên ruộng bãi bên bờ sông Văn Úc.

Lớn lên Cụ lấy chồng, về làm dâu họ Lương ở Phương Lạp cùng xã Cảnh Hưng xưa.

Tiếp đó là những tháng năm kháng chiến rồi khôi phục sau hòa bình đầy máu lửa và gian truân, bao khó khăn và thách thức.

Cụ quên mình lo mọi việc nhà để cụ ông yên tâm lo việc làng, việc xã.

Nhà nghèo mấy bận hữu sinh vô dưỡng cụ vẫn vững lòng thay chồng nuôi, dạy con ngoan, phụng dưỡng mẹ chồng, chăm lo việc họ.

Chính cái Đức, sự thương khó, nhẫn nhịn của cụ đã giúp cho gia cảnh ấm êm, anh em hòa thuận, mọi việc hanh thông, cháu con thành đạt.

Kính thưa bà con trong tang trường !

Đồng bằng đất chật, người đông. Biên cương rừng núi mênh mông cần khai hóa. Tháng 2 năm 1964, theo lời Đảng gọi, cụ cùng gia đình rời quê cha đất tổ Hải Phòng lên xây quê mới Lào Cai.

Vượt bao buồn nhớ, bỡ ngỡ, gian khó, thiếu thốn thủa ban đầu, cụ cùng lớp người tiền tiêu bền chí gây dựng An Phong.

Những khe lũng ngập ngụa,  lầy sình; những bãi hoang ken dầy cỏ môi, mọc đầy lau lách; những sườn đồi chằng chịt cây rừng, vắt muỗi vo ve.

 Nay thành ruộng, thành vườn, nên làng, nên xóm có phần công của cụ.

Cụ là lớp người đầu tiên trong 21 hộ, 93 người với 35 lao động chính ngày ấy khởi thủy công việc lập nên An Phong rộng lớn như ngày nay.

Trong gian khó, nhiều người đã chán nản bỏ về, tìm sang nơi khác.

 Nhưng cùng với những người kiên trung còn lại, cụ đã bám trụ khai khẩn ruộng nương, làm nhà tạo xóm.

Khi đủ ăn cụ biết nhường cơm sẻ áo cùng bà con củng cố xóm thôn cho đến tận cuối đời trong kì đổi mới.

Kính thưa hương hồn Cụ!

Công lao đóng góp của cụ dẫu không được tính bằng Huân chương, danh hiệu; nhưng được biết đến như một tấm gương trong.

Cảm phục sao tấm lòng hiền thục, chân tình, hay lam, ham làm, hi sinh, nhẫn nhịn cả trong lúc éo le.

Còn lưu mãi gương dâu thảo, vợ hiền, mẹ đảm, người xã viên giỏi trong những ngày tay trắng đi lên thời khởi lập hay trong những năm tháng sau này.

 Lớp lớp thanh, thiếu niên quanh vùng đến giờ vẫn nhớ và truyền cho nhau nghe nhiều chuyện cảm động về người nữ nông không biết chữ nhưng giầu lòng nhân ái, chịu thương, chịu khó đảm việc nhà, khuyên cháu con ăn học.

Kính thưa các đ/c lãnh đạo, thưa toàn thể bà con !

Người xưa từng nói:

 “Trên nối nghiệp tổ tông truyền lại, Dưới nêu gương con cháu noi theo”.

50 năm chung cuộc sống vợ chồng, cụ và cụ ông Lương Đức Thân đã giữ được nếp nhà, đóng góp cho dân, cho xóm và nuôi dạy cháu con.

Ông, bà sinh nhiều bận nhưng nuôi đến trưởng thành được: 5 trai, 2 gái. Cụ ông do mắc bệnh đã ra đi năm 1997 cũng trên mảnh đất này (nay là xóm An Phong, thôn An Hồ, xã Xuân Quang tỉnh Lào Cai) gắn bó cả thời sung sức của Ông Bà và những người cùng thời.

Các con trai gái của ông bà đều đã trưởng thành. Hai con gái cụ xây dựng gia đình theo nghề trồng trọt tiếp mẹ cha xây dựng xóm thôn ở An Phong (nay là An Hồ), ở Phố Lu và đều là những lao động chân chính, chịu thương, chịu khó.

Năm con trai của cụ đều được học hành và nay là những Sĩ quan Trung, Cao cấp, những lãnh đạo, những cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm, bản lĩnh và được tin tưởng của Công an tỉnh, Sở Lao động - Thương binh xã hội Lào Cai, Công an tỉnh Lào Cai và đoàn thể xã Xuân Quang (xưa là Phong Niên). Nay nhiều người đã trở thành những hưu nhân gương mẫu

Các con dâu, con rể của cụ đều là những cán bộ, giáo viên, công chức, người lao động, kinh doanh mẫu mực có trình độ chuyên môn cùng với các con trai, con gái của cụ họ  tạo thành gia đình có “Thập Tứ tử Hiếu”.

Gốc rễ bền sinh cành rợp bóng, nguồn rộng sâu tạo dòng chảy không ngừng.

 Nối tiếp truyền thống cha ông, các cháu của cụ đều là những con ngoan, trò giỏi.

 Tuy chưa thông mặt chữ, chưa từng vào Đảng nhưng cụ đã sinh ra, nuôi dạy những thạc sĩ, bác sĩ, kĩ sư  và cháu con cụ đủ lập thành 2 Chi bộ.

Hai Cụ sinh, nuôi, xây dựng gia đình cho 7 người con đến tháng 5/2026 này thành 15 cả Dâu và Rể và Cụ đã có 28 cháu nội, ngoại, dâu, rể; các cháu đã sinh cho cụ 27 chắt nội ngoại đủ gái và trai đang sống và học tập tại Nam Định (nay là Ninh Bình), Hải Phòng, Hà Nội và Lào Cai.

Các cháu lớn đã phấn đấu thành những kĩ sư, công an, giáo viên, cán bộ trong cơ quan Nhà nước, nhân viên doanh nghiệp ở Hà Nội, ở tỉnh; nhiều cháu đã thành thạc sĩ, sĩ quan, trở thành đảng viên khi tròn tuổi 20. Các cháu nhỏ đang theo học tại các trường đều là những cháu chăm ngoan. Chẳng một ai vướng vòng lao lý, mang tiếng xấu với đời.

Cụ đã được UBND huyện xác nhận Kỷ lục “Gia đình có nhiều người trình độ trên Đại học nhất”, được tặng Giấy khen và Bằng khen của Huyện, tỉnh Lào Cai, Thành phố Hải Phòng và Chính Phủ.

Thật là: Dẫu không phải Danh gia vọng tộc, cũng xứng dòng tiêu biểu hương thôn !. Công nuôi dạy đó của Cụ đáng là khâm phục.

Sau khi cụ ông qua đời, các con Cụ sống nơi thị thành muốn đón cụ ra để an hưởng tuổi già. Nhưng nặng lòng với nơi gắn cả đời gian khó, nặng tình với xóm thôn, bà con An Phong mà cụ quyết tâm ở lại nơi đây.

Những ngày cuối đời cụ thấy bao phấn khởi vì tận mắt chứng kiến những thay đổi ở thung lũng La Cà Bốn ngày xưa ấy. Nhưng tuổi cao, bệnh trọng đã không cho cụ được chứng kiến tiếp những đổi thay chắc sẽ còn to lớn.

Vào lúc  giờ 5 phút  ngày   tháng   năm 2026 tức  là ngày tháng 5 năm Bính Ngọ, trái tim Cụ ngừng đập sau một cơn đau đột ngột tại nơi Cụ từng gắn bó ngót 50 năm đời lao động, chăm sóc gia đình trong vòng tay yêu thương, kính trọng và đau nhớ của cháu con, họ mạc.

Cụ hưởng thọ 104  tuổi, thật đúng với câu:

Vượng phu ích tử hơn sáu chục năm sáng danh dâu hiền Lương tộc;

Ân Tổ tri căn ngót một trăm niên nêu chí gái đảm Phạm gia. 

Kính thưa hương hồn cụ ! Trong giờ phút biệt ly, Cụ về âm giới mãi xa xăm, chúng tôi trên dương trần luôn tưởng nhớ.

 Ôi, từ nay: Vắng cụ trong luận bàn việc xóm, còn đâu lời khuyên bảo lúc cam go.

Liên Hoa Tự  khuyết chân quy tâm sáng; Tổ đồng hương vắng ủy Hội nhiệt thành.

Bà, Mẹ đâu gửi câu thưa gửi; Giường cột xa trong họ cậy ai.  

Vẫn biết vòng luân hồi của kiếp trần gian, quy luật của cuộc sống: âm, dương thế chỗ, trăng tròn lại khuyết; sinh tử phù du, nhưng sao sự ra đi của Cụ không khỏi khiến chúng ta ngậm ngùi thương tiếc, lòng thắt khôn cầm, nặng đau trong dạ.

Cụ đã đi xa, nhưng: Xóm làng ghi công người mở đất. Bà con học tập đức bền gan.

Cháu con đau một nỗi: Nghĩa sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, Tơ tóc những hiềm chưa báo trả ơn nuôi nấng áo dầy cơm nặng, Biển trời khôn xiết mấy công lao.

Nay Hiếu tử hãy còn lưu  lị sở, mà mẫu thân đã vội lánh trần.

Hậu sinh mất tiền nhân mẫu mực; Chị em thương tiếc bạn đồng cam.

Chúng tôi, dân An Hồ, Xuân Quang cảm phục cụ: Sống tận tuỵ mọi người yêu quý; Chết thuỷ chung, họ tộc tiếc thương.

Sớm tối nào quên niềm ái mộ. Tháng ngày khôn xiết nỗi bi ai.

Nhưng  “Sinh kí, tử quy”, Thuốc trường sinh, đào Vương Mẫu chưa trao. Bút chú tử, sách Nam Tào đã định.

Ôi thôi thôi !

Từ nay vắng lặng, xót đau nào mà kể cho nguôi.

Cầu vong linh cõi tiên cảnh nhàn du, Yên thân xác đặt nơi đất tốt.

Chốn âm giới vong về an nghỉ. Nơi dương trần luôn nhớ khói hương.

Hôm nay, với sự hiện diện đông đủ của bà con và gia đình; thay mặt cho toàn thể nhân dân thôn xin được ghi nhận những công lao của Cụ đã đóng góp cho thôn, xã, cho Hội đồng hương và hội Quy Liên Hoa tự. Trước linh cữu của Cụ, chúng tôi kính chúc cho vong hồn Cụ sớm được an bình siêu thoát, phiêu diêu.

Cụ Uyển ơi! Hơn trăm tuổi Cụ rời xa trần thế.

                      Cả một đời vất vả gian nan.

                     Sống phấn đấu đương hưởng chút an nhàn.

                     Theo tổ tiên Cụ về nơi chín suối.

                     Phút lâm chung nội, ngoại gần xa,

                    Cùng bà con hàng xóm quanh nhà.

       Xin cúi đầu thắp một tuần nhang.

       Nơi suối vàng thiên thu yên nghỉ.

       Xin chúc Cụ thanh thản lên đường.

        Xin vĩnh biệt từ đây …xa cách.

 Cảm tạ  bà con cô bác, họ mạc xa gần, lối xóm cận lân,

 Anh em đồng chí, bạn thông gia của con cháu, các bậc thông gia liên gia của gia tộc;  và các cấp lãnh đạo đã đến phúng viếng, chia buồn và có lời phân ưu thống thiết.

Xin được kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt Cụ

Trước lúc  di quan, trong giờ truy điệu, đề nghị dành một phút mặc niệm !

Xin chân thành cảm ơn tất cả các quý vị và bà con.

(Xong người đọc đứng nghiêm cúi đầu và đốt "bài này" đi).

-Trưởng Nam: Lương Đức Mến cẩn soạn-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

18 tháng 5 2026

Chuẩn bị KHÔNG THỪA

DANH SÁCH TỔ TIÊN

HỌ LƯƠNG

(Gốc làng Hương, xã Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng nay là thôn Phương Hạ xã An Hưng, thành phố Hải Phòng)

Vào thời Lê – Mạc (南北朝, 1533-1592), tổ Thượng Lương Đắc Cam 贵公諱甘字三郎 từ Thanh Hoá ra gặp học trò Bảng nhãn Lương Đắc Bằng là Nguyễn Bỉnh Khiêm (阮秉謙, 1491-1585) ở Vĩnh Lại xứ Đông. Trạng Trình đã đưa con cháu thầy học mình về lập nghiệp và gây dựng cho Lương Đắc Cam ở thôn Lao Chữ 牢渚, tổng Dương Áo 陽襖, huyện Tân Minh 新縣, phủ Nam Sách 南策, trấn Hải Dương 海陽 (nay là thôn Chử Khê, xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng).

Thuỷ tổ Lương Công Trạch梁公宅

Đệ Nhất đại Tổ (Kị chồng): Lương Công Nghệ, Tổ tỉ Lương Thị Còi

Giỗ Tổ Rằm tháng Giêng tại Từ đường đặt tại thôn Phương Hạ, xã An Hưng

Đệ Nhị Đại Tổ Hay Đệ Nhất Tổ ngành: Lương Công Tú với Tổ tỉ gồm Đào Thị Nhượng, Nguyễn Thị Dụng, Hoàng Thị Châu, Đặng Thị Chiền. Giỗ Tổ ngành vào 19.2 âm lịch do Lương Đức Thành duy trì tại nhà cháu ở thôn Phương Hạ.

Tằng Tổ khảo (Cụ Chồng) Lương Đức Hanh, Tổ Tỉ: Đặng Thị Chẻo. Giỗ vào !5/Chạp tại nhà Lương Đức Tơ

Tổ Khảo (ông chồng): Lương Đức Trinh (thường được gọi là “Trinh bé”, để phân biệt với “Chinh lớn” tức cụ Giáo Chinh. Giỗ 17/9), Tổ Tỉ: Nguyễn Thị Lễ (Giỗ 01/11).

Bá phụ khảo: Lương Đức Quýnhmất sớm, khiếm tự. Kỵ 04/G

Tổ cô: Lương Thị Mẹt

Hiển khảo (bố chồng) : Lương Đức Trinh (第五代祖梁德楨, Giỗ 29/Chạp), Hiển Tỉ: Đặng thị Chỉ (Bà Nội chúng tôi, kị 08/11)

Chồng: Lương Đức Thân (Kị ngày 13/Chạp)

HỌ PHẠM

(Gốc làng Cốc, xã Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng nay là thôn Cốc Lộc, xã An Hưng, thành phố Hải Phòng)

1.Tổ là cụ Phạm Đình Khanh 范廷牼. Cụ là hậu duệ đời thứ 16, 17 của Phạm Ngũ Lão và là người con thứ tư của Thượng tổ Phạm Công Quý 范公貴. Cụ từ Đường Hào sang lập nghiệp ở Cốc Tràng, Cao Mật năm Bính Thân, 1716. Cụ mất ngày 09 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ nhất (Canh Thân, 1740). Đời sau suy tôn là Cụ Tổ họ Phạm ở đây 范皋密肇祖

2.Ông Nội là Phạm Huy Thiều   (Nam duy nhất trong 3 người con) thuộc đời thứ 9;

3.Bố đẻ là Phạm Văn Nhạc (范文樂, 1888-1936, kị 14 tháng Chạp, là Út trong 3 trai, 2 gái) thuộc đời thứ 10.

Mẹ đẻ Đào Thị Thẩn (1885-1947, người làng Hạ, Kị 18/Chạp).

 Cả 2 mộ đã được xây lại, khắc bia vào năm 2006 (Bính Tuất).

Ông bà sinh 2 trai (Kiểm, Kiển) và 3 gái (Uyển, Ương, Tương).

4. Các anh:

1. Phạm Văn Kiểm (范文檢, 1908-1991). Kị ngày 16/6, lấy 2 vợ:

* Bà cả: Đặng Thị Bè nổi tiếng căn cơ, sinh 2 gái là P.T. Bộn, P.T. Mọn.

* Bà hai: Đặng Thị Huân, người làng Hầu, đã có chồng con, nhưng chồng mất. Chục năm đầu vẫn ở lại làng Hầu, sau chuyển về ở cả Cốc. Sinh P.V. Mót (Phạm Công Bình) và P.T. Bòn

2. Phạm Văn Kiển (范文繭, 1916-1997). Kị ngày 22/6. Ông nổi tiếng học giỏi và hay chữ nhất vùng.

Vợ là Trần Thị Chút.

Ông bà sinh 4 gái (Khiên, Nhiên, Nhiễn, Nhiện) sau sinh tiếp 4 trai (Triển, Lãm, Lạm, Hởi).

5. Các em Gái:

1. Phạm Thị Ương (范氏央, 1927-1988) Lấy ông Vũ Văn Miêu ở Văn Khê, Có 2 gái, 3 trai (Loan, Ruệ, Sen, Chuân, Chi). Chú, Dì đều đã mất tại quê.

2. Phạm Thị Tương 范氏襄 sinh năm Tân Mùi, 1931.

* Người chồng đầu là Lương Hoàn Nhâm ở thôn Hạ, tổng Cao Mật. Nhưng do vai vế thấp nên bà tự ái mà bỏ.

* Người chồng sau là Ngô Văn Trân ở Kim Trâm, Mỹ Đức, An Lão (từ 7/2025 thuộc xã An Khánh, tf Hải Phòng).  NVT công tác bên ngành vật liệu. Ông bà sinh ra N.T. Lai, N.V. Quý, N.T. Hoà, N.V. Phúc. Từ khi sinh Hoà 2 người đã trục trặc nhau. Đến khi có Phúc thì căng hẳn, ông bà li dị, bà đưa các con về tá túc bên ngoại (làng Cốc). Đến tháng 6/1974 Dì đưa Lai, Hoà, Phúc lên An Phong, Phong Niên cạnh nhà chị gái là PTU. N.V. Trân đưa Quý đi Hà Bắc ở nhà máy gạch gần Sen Hồ có thời gian chuyển vào Nam đến năm 1985 về hưu sống với người vợ hai và 3 con bà này tại Bắc Giang. NV Trân mất tại HB 2018 do bệnh, tuổi cao.

ĐƯƠNG SỐ:

Họ và tên PHẠM THỊ UYỂN,  hiệu Diệu Oanh, Theo tính toán của con cháu thì Bà sinh năm Giáp Tý 1924 nhưng theo Giấy tờ hiện tại thì Bà sinh 01/01/1920 tức tuổi Kỷ Mùi hay Canh Thân

Nguyên quán làng Cốc, tổng Cao Mật, phủ Kiến Thụy sau là thôn Cốc Tràng, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng và từ 7/2025 là thôn Cốc Lộc, xã An Hưng, Hải phòng

Cư ngụ từ 2/1964 tại thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và từ 7/2025 là xóm An Phong, thôn An Hồ, xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai.

CON CHÁU
(tính đến 5/2026 bà có 5 Trai, 2 Gái, 6 Dâu, 2 Rể, 28 Cháu, 27 Chắt)

SỐTT

HỌ  VÀ TÊN

NĂM SINH

MỆNH

 

Con Trai (5)

1

Lương Đức Mến

1955

Ất Mùi

Sa Trung Kim

2

Lương Đức Thuộc

1957

Đinh Dậu

Sơn Hạ Hỏa

3

Lương Đức Thức

1962

Nhâm Dần

Kim Bạch Kim

4

Lương Đức Luân

1965

Ất Tỵ

Phú Đăng Hỏa

5

Lương Đức Luận

1970

Canh Tuất

Thoa Xuyến Kim

 

Con Dâu (6)

1

Phạm Thị Mến

1958

Mậu Tuất

Bình Địa Mộc

2

Lữ Thị Nghị

1959

Kỷ Hợi

Bình Địa Mộc

3

Phạm Anh Đào

1964

Giáp Thìn

Phú Đăng Hỏa

4

Nguyến Thị Thi

1974

Giáp Dần

Đại Khên Thủy

5

Bùi Thị Hợp

1968

Mậu Thân

Đại Dịch Thổ

6

Nguyễn Thị Ngọc Anh

1978

Mậu Ngọ

Thiên ThượngHỏa

 

Con Gái (2)

1

Lương Thị Thường

1959

Kỷ Hợi

Bình Địa Mộc

2

Lương Thị Lý

1968

Mậu Thân

Đại Dịch Thổ

 

Con Rể (2)

1

Vũ Văn Hoàn

1959

Kỷ Hợi

Mất 2024Giáp Thìn

2

Nguyễn Văn Bình

1966

Bính Ngọ

Thiên Hà Thủy

 

Cháu Nội Trai (8)

1

Lương Đức Hải Thương

1985

Ất Sửu

Hải Trung Kim

2

Lương Đức Thuận

1981

Tân Dậu

Thạch Lựu Mộc

3

Lương Đức Hòa

1983

Quý Hợi

Đại Hải Thủy

4

Lương Đức Thắng

1990

Canh Ngọ

Lộ Bàng Thổ

5

Lương Đức Anh Đình

1991

Tân Mùi

Lộ Bàng Thổ

6

Lương Đức Quảng

1994

Giáp Tuất

Sơn Đẩu Hỏa

7

Lương Đức Minh

2004

Giáp Thân

Tỉnh Tuyền Thủy

 8

Lương Đức Minh Đăng

2009

Kỷ Sửu

Thích Lịch Hỏa  

 

Cháu Nội Gái (3)

1

Lương Thị Huyền Thương

1983

Quý Hợi

Đại Hải Thủy

2

Lương Thị Nguyệt

1989

Kỷ Tỵ

Đại Lâm Mộc

3

Lương Thị Tuyết

1991

Tân Mùi

Lộ Bàng Thổ

 

Cháu Ngoại Trai (3)

1

Vũ Văn Hiển

1981

Tân Dậu

Thạch Lựu Mộc

2

Vũ Văn Hạnh

1983

Kỷ Tỵ

Đại Hải Thủy

3

Nguyễn Văn Hiếu

1996

Bính Tý

Giản Hạ Thủy

 

Cháu Ngoại Gái (2)

1

Vũ Thị Huệ

1986

Bính Dần

Lô Trung Hỏa

2

Nguyễn Thị Thảo

1999

Kỷ Mão   

Thành Đầu Thổ

 

Cháu Dâu Nội (5)  

1

Phạm Thanh Hòa

1988

Mậu Thìn

Đại Lâm Mộc

2

Vũ Thị Vân Anh

1983

Quý Hợi

Đại Hải Thủy

3

Nông Thu Khánh

1985

Ất Sửu

Hải Trung Kim

4

Đỗ Thị Quỳnh Như

1997

Đinh Sửu

Giản Hạ Thủy

5

Vũ Thị Ngọc Ánh

2000

Canh Ngọ

Bạch Nạp Kim 

 

Cháu Dâu Ngoại (2)

1

Phạm Thúy Kièu

1989

Kỷ Tỵ

Đại Lâm Mộc

2

Lê Thị Hồng

1986

Bính Dần

Lư Trung Hỏa

 

Cháu Rể Nội (3)

1

Nguyễn Trọng Sinh

1983

Quý Hợi

Đại Hải Thủy

2

Vũ Tiến Duy

1988

Mậu Thìn

Đại Lâm Mộc

3

Nguyễn Minh Tân

1991

Tân Mùi

Lộ Bàng Thổ

 

Cháu Rể Ngoại (2): Giáp Tý1984 (Triệu Ngọc Hồng, Hải Trung Kim), Giáp Tuất 1994 (Vũ Đình Vinh, Sơn Đầu Hỏa)

Chắt Nội (9): NT2012, ÂM 2016, MT2008, NT2012, KS2009, ÂM2015, QM2023, QM2023, ÂT2025

Chắt Ngoại (16): NT2012, GN2014, QT2013, GN2014, BT2016, KH2019, CD2010, BT2016, QT2013, TB2017, ÂM2015, BT2017, ÂM2018, ND2022, ÂT2025

-Lương Đức Mến, ST và BS, 02/4/Bính Ngọ-


Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn “Lốc” ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão và từ 07/2025 là xã An Hưng, thành phố Hải Phòng (SSN)- Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai và từ 07/2025 là phường Lào Cai tỉnh Lào Cai (SSN)

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với “Ẩn danh”.
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!