Nếu
đọc “Cổ thư” thì sẽ gặp đơn vị chỉ thời gian khác với ngày nay mà người Việt,
nhất là lớp người cao tuổi hay nhớ câu: “Canh
Một dọn cửa, dọn nhà, Canh Hai dệt cửi, canh Ba Đi nằm...” hoặc “Nửa đêm giờ Tý canh Ba”,...Vây Cách tính
giờ “Canh, Khắc” giống và khác nhau so với cách tính hiện thế nào ?
THỜI GIAN (A:Time,
P: Temps, H: 時間) là yếu tố
vô cực, nó có như vốn có và sẽ tồn tại vĩnh viễn cùng vũ trụ. Một đơn vị đo thời
gian là “một thời
gian chuẩn (thường không đổi theo thời gian) dùng để làm mốc so
sánh về độ lớn cho mọi thời gian khác. Đó là khái niệm vật lý chỉ trình tự
xảy ra của các sự kiện và đo lượng (nhiều hay ít) mà sự kiện này xảy ra
trước hoặc sau sự kiện kia. Thời gian chỉ có
một chiều duy nhất (cho đến nay được biết đến) đó là từ quá khứ 過去, qua hiện tại 現在 và tới tương
lai 未来.
Tuy có quan niệm, có cảm thức về thời gian, nhưng không phải dân tộc nào,
nước nào, thời đại nào cũng biết chia ra
những mốc thời gian một cách chuẩn mực, giống nhau.
Ban đầu PHÉP ĐO THỜI GIAN còn đơn giản, không có
những dụng cụ thiên văn tối tân và đồng hồ chính xác, mà chủ yếu dùng bóng nắng
bởi Mặt Trời tự nó là cái đồng hồ.
Để nhận thức thời gian, qua tích lũy kinh nghiệm cổ nhân từ
khái niệm ngày (日, có mặt trời), đêm (夜, không có ánh mặt trời) ban đầu dần đến nhận
xét đêm có trăng, đêm không trăng (Sóc, 朔), trăng tròn (Vọng,望) trăng khuyết hình
thành nên khái niệm tháng (月). Nhiều ngày, tháng chung một đặc trưng thời tiết hình thành
nên mùa. Các mùa tuân theo một quy luật nhất định và
vòng đó gọi là năm (Niên,年). Khi cần chia nhỏ đơn vị thời gian dưới ngày người ta chia ra giờ. Trên năm hợp thành Giáp,
Hội giáp, Thập kỉ, Thế kỉ, Thiên niên kỉ. Như vậy, chính vẻ đẹp
hùng vĩ của bầu trời ban đêm và sự chuyển dịch của Mặt Trời, Mặt Trăng và các Hành tính (ngôi
Sao) đã góp phần quan trọng cho tư thế của con người mãi mãi đứng thẳng,
giúp con người dần hoàn thiện mình và phát minh ra phép đo thời gian và cách tính
Lịch.
Để nhận thức thời gian
trong ngày, xưa kia cổ nhân dùng: Bóng nắng (Khuê biểu), Thủy triều, Tiếng
Gà gáy,…Đồng hồ nhang (Hương triện), Đồng hồ cát, Đồng hồ nước (Lậu hồ),
Đồng hồ mặt trời (Nhật quỹ), Đồng hồ sao, Bóng nắng, Thủy triều,…Từ đó
hình thành nên khái niệm thông dụng đến nay là “Khắc, Canh” và một số phương
pháp nhằm phân chia giờ giấc, phục vụ sinh hoạt.
Tôi nhớ mãi, hồi nhỏ nhà
nghèo chả sắm nổi đồng hồ thế mà mẹ tôi, một nông dân mù chữ nhưng chỉ dặn qua
là hằng đêm bà gọi chúng tôi dậy đi học bản thân bà dậy nổi lửa thổi cơm, nấu
cám lợn,... rất đúng giờ!
Người xưa một ngày ăn 2 bữa,
bữa sáng sau khi mặt trời mọc trước ngung trung nên gọi là thực thời 食时 hoặc tảo thực 早食; bữa chiều sau
khi mặt trời xế về tây trước khi lặn, gọi là bô thời 晡时.
Theo lịch cổ, người Á
Đông phân chia một ngày thành 12 canh giờ. Ứng theo 12 con giáp (thống nhất
với cách phân chia Ngày, Tháng, Năm theo Can Chi), mỗi một canh giờ bằng
khoảng 2 giờ theo đồng hồ 24 giờ. Theo cách tính này thì mỗi giờ được đặt tên theo Can
Chi gọi là “Can Chi giờ” (干支紀時法, Can chi kỷ thời pháp). Cách phân chia và gọi tên này còn có ý
nghĩa trong phong thủy, chiêm tinh và dự báo,... trong đời sống văn hóa và tâm
linh của người Trung Quốc nói riêng và người Á Đông nói chung. Theo đó:
Giờ Tý 子 là từ 23 giờ
đến 1 giờ sáng, tức nửa đêm, là thời điểm chính giữa ban đêm, đánh dấu sự chuyển
giao giữa ngày cũ và ngày mới, nằm giữa lúc mặt trời lặn và mọc, Chuột đang
hoành hành;
Giờ Sửu 丑 là từ 1 giờ
đến 3 giờ sáng hay nửa đêm về sáng, Trâu “nhai lại”;
Giờ Dần 寅 là từ 3 giờ
đến 5 giờ sáng tức nửa đêm về sáng đến rạng sáng, Hổ trở lại rừng sau khi đi kiếm
ăn về;
Giờ Mão 卯 là từ 5 giờ
đến 7 giờ sáng hay rạng sáng đến sáng tỏ, Mèo “tỉnh giấc”;
Giờ Thìn 辰 là từ 7 giờ đến 9 giờ sáng tức sáng sớm, Mặt Trời lên;
Giờ Tỵ 巳 là từ 9 giờ
đến 11 giờ sáng hay từ sáng đến gần trưa;
Giờ Ngọ 午 là từ 11 giờ
đến 13 giờ trưa lúc giữa trưa, đúng Ngọ là 12 giờ trưa;
Giờ Mùi 未 là từ 13 giờ
đến 15 giờ chiều là buổi xế chiều;
Giờ Thân 申 là từ 15 giờ
đến 17 giờ chiều tức chiều muộn, Khỉ về rừng;
Giờ Dậu 酉 là từ 17 giờ
đến 19 giờ tối hay chập tối, Gà lên chuồng;
Giờ Tuất 戌 là từ 19 giờ
đến 21 giờ tối tức buổi tối, Chó ngủ yên;
Giờ Hợi 亥 là từ 21 giờ
đến 23 giờ tối khuya từ tối muộn tới gần nửa đêm.
Từ năm 1884 người ta chia ra trái đất thành 24 múi xẻ dọc từ Bắc xuống Nam
với kinh tuyến Greenwich làm chuẩn. Chú ý rằng việc quy đổi chỉ thật chính xác với
địa phương mà KT trung tâm (ở VN là 1050 Đ) đi qua, nên
mỗi mùa, căn cứ vào giờ mặt trời mọc, mà giờ Tý sẽ xê dịch khác
nhau chứ không phải bao giờ cũng là từ 23-01 giờ GMT.
Bên cạnh việc phân chia một
ngày thành 12 con giáp thì cổ nhân còn phân chia thời gian trong ngày khác. Đó
là cách phân chia thời gian trong ngày thành 5 canh (đêm, không có ánh mặt
trời), 6 khắc (ngày, có ánh mặt trời).
Trong đó đêm (khi mặt trời lặn là
hoàng hôn 黄昏, sau hoàng hôn là nhân định 人定, sau nhân định là
dạ bán 夜半 (hoặc gọi là dạ phân 夜分); sau
đó là kê minh 鸡鸣, rồi muội đán 昧旦, bình minh 平明) được chia thành 5 canh[1] (trống canh), ứng với các giờ Tuất 戌, Hợi 亥, Tý 子, Sửu 丑, Dần 寅. Tức là có 10 tiếng,
từ 19h tối hôm trước đến 5h sáng hôm sau:
Canh 1 là từ 19 giờ
đến 21 giờ tối (hoàng hôn 黄昏, còn gọi là nhật tịch 日夕, nhật mộ 日暮, nhật vãn 日晚), rơi vào giờ Tuất
- Chó rất thính;
Canh 2 là từ 21 giờ đến 23 giờ đêm (nhân định 人定, còn gọi là nhân tĩnh 人静, định hôn 定昏), rơi vào giờ Hợi - Lợn ăn no, ngủ kỹ;
Canh 3 là từ 23 giờ đến 1 giờ sáng (dạ
bán 夜半, còn gọi là Tí dạ 子夜), rơi vào giờ Tý, Chuột phá
phách;
Canh 4 là từ 1 giờ đến 3 giờ sáng (kê
minh 鸡鸣, còn gọi là hoang kê 荒鸡), rơi vào giờ Sửu, Trâu bắt
đầu ra đồng;
Canh 5 là từ 3 giờ đến 5 giờ sáng (bình
đán 平旦, còn gọi là lê minh 黎明, tảo thần 早晨, nhật đán 日旦), rơi vào giờ Dần, Hổ về rừng thôi kiếm ăn.
Ban ngày (khi mặt trời mọc gọi là đán 旦, tảo 早, triêu 朝, thần 晨; khi mặt trời lặn gọi là tịch 夕, mộ 暮, vãn 晚; giữa
trưa là nhật trung 日中, chính Ngọ 正午, đình Ngọ 亭午; thời gian gần nhật trung gọi là ngung
trung 隅中; xế chiều về gọi là trắc 昃, nhật điệt 日昳) được chia thành 6 Khắc[2]:
Khắc 1 là từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng;
Khắc 2 là từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40 sáng;
Khắc 3 là từ 9 giờ 40 đến 12 giờ trưa;
Khắc 4 là từ 12 giờ đến 14 giờ 20 đầu giờ xế trưa;
Khắc 5 là từ 14 giờ 20 đến 16 giờ 40 chiều;
Khắc 6 là từ 16 giờ 40 đến 19 giờ chiều tối.
Như thế, Ban ngày dài 14 giờ, còn ban đêm dài 10 giờ tính theo hiện đại
Ngày nay, ngay học sinh tiểu học, nhờ sách giáo khoa (kinh
nghiệm thực tiễn cộng với sự hỗ trợ của các kính viễn vọng và máy tính điện tử, khoa học Thiên văn) cũng biết đến dưới giờ là Phút, Giây,…Chúng còn biết Điều 7 của Nghị định Số : 134/2007/NĐ-CP ngày
15 tháng 8 năm 2007 quy định về đơn vị đo lường chính thức
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Đơn vị đo thời gian tiêu chuẩn ở Việt Nam tuân thủ Hệ đơn vị SI là hệ đơn vị đo lường quốc tế (tiếng Pháp là Système International d”Unités; tiếng Anh là The International System of Units) là giây (kí hiệu s). Chúng cũng biết: ngoài hệ đơn vị SI, theo quy
định tại Điều 8 là: phút (min) = 60 s, giờ (h) = 60 min = 3
600 s, ngày (d) = 24 h = 86 400 s.
Như vậy, ngoài việc chia ra các buổi (sáng, trưa,
chiều, tối) thì CANH và KHẮC là đơn vị đo thời gian xưa và thực ra có thể coi đó là 2 hệ thống tính chứ làm gì có đoạn “đêm” 10 tiếng, “ngày” 14 tiếng! Cách này ngày nay ít dùng. Nhưng chúng ta cần biết để hiểu rõ về “đêm 5 Canh, ngày 6 khắc”.
Hơn nữa, một ngày (cả đêm) đều chia ra 24 giờ.
Nhưng khi xưa, chỉ chia ra làm 12 giờ, đặt khởi điểm ở giờ Tý (nửa đêm). Ban ngày chia làm 6 giờ gọi là 6 khắc, kể từ
giờ Mão đến giờ Thân (khoảng 5g sáng đến 17g chiều). Đây là thời gian quan trọng: Con người có thể lao động, con vật có thể hoạt động, kiếm ăn. Ban đêm chia ra 5 canh
từ giờ Tuất đến giờ Dần (khoảng từ 19g đến 5 g sáng hôm sau) là thời gian nghỉ ngơi của con người và một
số loài vật.
Mặt khác, tiếng “chiêng thu không” (thu cái không gian ban ngày lại)
đánh lên vào thời điểm này để cho người dân biết là đã đến giờ đóng cửa thành, mọi
người nên về nhà vì ngày xưa nhà ở luôn ở trong
thành.
Cũng theo quan niệm của cổ nhân về “Âm Dương sinh diệt”, thì Dương phải lớn hơn Âm một điểm để cái diệt không bị diệt hẳn, và cũng từ cái diệt đó mà sinh khởi nên ngày có 6 khắc mà đêm chỉ 5 canh (mà 6>5). Giờ Dậu (khoảng 17g đến 19g, chập choạng
tối, Gà lên chuồng,...) không thuộc về ngày cũng không thuộc về đêm, là thời điểm tranh tối tranh sáng. Như thế là đủ 12 giờ (24 tiếng hiện tại).
Căn cứ sự phân chia trên, chúng ta thấy:
a)- Ban ngày dài 14 giờ, còn ban đêm dài 10 giờ và thấy được “giờ
Tý canh Ba” là “Nửa đêm”, từ đó chúng ta tính được bảng 5 Canh:
|
TÊN CANH |
THỜI GIAN HIỆN NAY |
|
Canh 1 |
Từ
19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất |
|
Canh 2 |
Từ
21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi |
|
Canh 3 |
Từ
23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý |
|
Canh 4 |
Từ
1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu |
|
Canh 5 |
Từ
3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần |
b)- Ban ngày dài 14 giờ, chia
cho 6 khắc như bảng sau đây :
|
TÊN KHẮC |
THỜI GIAN HIỆN NAY |
TÊN KHẮC |
THỜI GIAN HIỆN NAY |
|
1 |
Từ
5 giờ đến 7 giờ 20 sáng |
4 |
Từ
12 giờ đến 14 giờ 20 xế trưa |
|
2 |
Từ
7 giờ 20 đến 9 giờ 40 sáng |
5 |
Từ
14 giờ 20 đến16 giờ 40 chiều |
|
3 |
Từ
9 giờ 40 đến 12 giờ trưa |
6 |
Từ
16 giờ 40 đến 19 giờ tối |
Như vậy, nếu chúng ta đem so sánh Khắc với Giờ, thì có 2 giờ 20
phút bằng 1 Khắc (14 giờ : 6 Khắc = 140
phút, tức là 2 giờ 20 phút).
Vậy nên, cổ nhân thường
nói: “Đêm Năm Canh, Ngày Sáu Khắc” là đúng!
- Lương Đức Mến, BS từ nhiều nguồn TK-
[1] Về nguồn gốc từ “canh”, theo Tiết Quý Tuyên (薛季宣, 1134-1173), nhà thơ, nhà lý học nổi tiếng đời Nam Tống (南宋, 1127–1279), một triều đại trong lịch sử Trung Quốc, được thành lập bởi Triệu Cấu (趙構, 1127-1187) sau khi nhà Bắc Tống (北宋, 960-1127) mất phần lớn lãnh thổ
phía Bắc vào tay nhà Kim (金朝, 1115-1234). Triều đại này cai trị miền Nam Trung Quốc, lấy Lâm An
(nay là Hàng Châu) làm kinh đô, được chỉ huy bởi những tướng lĩnh có năng lực như Nhạc Phi (岳飛, 1103-1142) và Hàn Thế Trung (韓世忠, 1089-1151). Nam Tống nổi tiếng với kinh tế, văn hóa rực rỡ nhưng yếu kém quân sự, cuối cùng sụp đổ trước vó ngựa Mông Cổ.). Tiết Quý Tuyên người Vĩnh Gia (Ôn Châu, Chiết Giang, Trung Quốc). Ông tự Sĩ Long 士龍, hiệu là Cấn Trai 艮齋, thuộc học phái Vĩnh Gia nổi tiếng về thực học., ông sống vào giữa
thế kỷ XII.
Chính
ông cho rằng: ngoài Lậu hồ (漏壺, đồng hồ Cát hay đồng hồ Nước) và Nhật quỹ (日揆, đồng hồ Mặt Trời) , người ta còn dùng Hương
triện 香篆 để xem giờ, nhất là về ban đêm. Hương triện có thể là
hương vòng (nhang vòng). Trên hương vòng có vẽ 5 dấu để định 5 canh. Nếu muốn thức dậy canh nào, người
ta buộc một vật nặng nhỏ vào vòng hương, vào khoảng giờ muốn dậy. Hương cháy đến đó sẽ làm rơi vật nặng ấy xuống
một cái chậu đồng, gây nên tiếng động để đánh thức người dậy. Người ta
cũng có thể dùng những hộp
hương khắc hình chữ Thọ theo kiểu chữ Triện, hương cháy đến đâu sẽ cho biết đêm đã đến canh mấy.
[2] Khắc có
nghĩa là 1 phần 100 của ngày, tức
là 14 phút 24 giây. Gốc của danh từ này này là cái thẻ mang nét khắc trỏ giờ và
khắc được đặt nổi trên mặt nước của
thùng nước dưới của đồng hồ”.
Tác giả
Thanh Nghị định nghĩa là 1 phần 6 của ngày, tức một
ngày bao gồm 6 khắc.
Có người
trừ ban đêm 5 canh (tức 10 giờ), còn lại 14 giờ (tức 60ph x 14 =840 phút), đem chia cho 6 khắc nên mỗi khắc
có 140 phút, tức 2 giờ 20 phút !
Lại có
tác giả, cho rằng: “khắc là thời gian rất ngắn”, đổi 1 khắc = 1/96 ngày = 15 phút.
[3]Hiện được dùng không thông dụng, để chỉ khoảng thời gian bằng
1/4h, tức là 15 phút.
Có ý lý giải: Một ngày đêm được chia thành 12 canh giờ, mỗi
canh giờ lại được chia thành 60 khắc. Một
khắc tương đương với 2 phút thời gian hiện
nay. Cách tính thời gian bằng khắc thường được sử dụng để đo thời gian ngắn, ví dụ như thời gian nấu ăn, thời gian uống thuốc,...


