Bài đăng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phả đồ

Hôm nay, 19/2 Mậu Tuất (Chủ Nhật ngày 24/3/2019) là ngày GIỖ TỔ NGANH HAI

Hình ảnh
1. Đúng ra việc Giỗ Tổ Ngành (Chi) Hai là vào ngày 24 ( có chỗ viết 29 ) tháng 5 ( ngày kị của Tổ phụ Lương Công Tú 梁公秀 ) và do hậu duệ cụ Hợp đảm trách. 2. Tổ Chi Hai 第二支祖 , cụ Lương Công Tú 梁公秀 lấy 4 vợ : - Bà Cả: ĐÀO THỊ CỎN (Nhượng) :  Người cùng làng, trong họ Đào Đăng. Cụ thạo việc, quán xuyến giỏi, không con nhưng rất ghen, không cho chồng lấy vợ lẽ. Tổ tỉ kị ngày 18/2. Tương truyền : Cụ Đồ Thiệu lập kế, cho người nhà ra cày ruộng của cụ Tú và nói rằng: “ anh chị không người nối dõi, ruộng để em làm, không người ngoài họ lấy mất, phí đi ”. Cụ Cỏn ( Nhượng ) biết chuyện, bực quá mới thề rằng: kể cả người ăn kẻ ở, nếu người này có con sẽ lấy làm thiếp cho cụ ông. Ba bà sau đều là tá điền, ngủ với cụ ông sinh con. - Bà Hai: NGUYỄN THỊ DỤNG: 阮氏用 người Đông Am 東庵 , Vĩnh Lại 永賴 ( nay thuộc xã Cổ Am huyện Vĩnh Bảo ). Mất ngày 19/2 . Sinh 1 Nam là Xưng 梁德称 , kị 27/2, sinh 2 Nam là Lương Đức Hợp và  Lương Đức Hoà . - Bà Ba: HÒANG THỊ CHÂU: 黄氏周 người Tôn Lộc, không rõ ng...

Cô tôi, LƯƠNG THỊ THỊ

Hình ảnh
6.2.1- Cuộc đời : 梁氏巿 Sinh năm Giáp Dần, Duy Tân thứ 8 (1914) . Tóc dài, mỗi lần gội đầu phải kê ghế để đứng chải tóc. Lớn lên trong khốn khó, khong được học hành, phải cùng mẹ bươn chải nuôi em từ nhỏ. Người đảm đang, có trách nhiệm với việc họ, việc làng, hơi “khó tính”, ít hợp với con cái [1] . Vất vả đường chồng con. Năm 1962 từ Mĩ Đức, cùng gia đình con gái lên khai hoang ở Sơn Hải [2] , ở Đội An Lão. Hoàn cảnh “mẹ goá con côi” nên dù có ở quê mới vẫn không mấy khá giả. Khi các gia đình ở Chiến Thắng, Mỹ Đức lên lập HTX An Phong bên Phong Niên đã tích cực giúp giống rau, ngô, sắn. Năm 1966 chuyển sang Phong Niên [3] . Đến khi con rể ( Phạm Bá Ruân ) tái ngũ lại về Khánh Địa, Sơn Hải ( khi ấy thuộc Nông trường Hà Nội ) ở cùng con và cháu. Nông trường Phú Xuân đắp đập làm hồ nước dâng cao đường vào khó khăn. Khi con trai lấy vợ, ở riêng thì bà vẫn sống một mình. Thu nhập chủ yếu là rau và hoa quả trong vườn, có ít ruộng. Mất 5 giờ 30 sáng 06-Giêng, Nhâm Thân ( Chủ nhật 9/0...

Quy ước PHÂN CẤP TỘC-CHI-NGÀNH

Hình ảnh
1. Tôi vốn học Y nên hiểu rõ Phân loại khoa học trong Sinh học đã được Carolus Linnaeus  ( 1707 - 1778 )  xây dựng từ thế kỷ XVIII. Trong đó, từ gốc là Sinh vật ( Organism ), bên dưới là các đơn vị phân loại ( taxon ) như: giới (kingdom), ngành ( phylum ), lớp ( class ), bộ ( order ), họ ( family ), chi ( genus ) và loài ( species ). Xác định một cá thể thuộc chi, loài nào là nó mãi thuộc chi loài đó, thế mà còn lẫn lộn nhiều khi học, nghiên cứu. Huống chi dòng họ luôn phát triển dài ra mãi nên càng rối hơn. 2. Hơn nữa, trong Gia phả học 家譜學 chưa thấy có phân loại mang tính thống nhất như vậy, kể cả hướng dẫn của cụ Cử Phan Kế Bính [1] , khi vào năm 1915 soạn ra cuốn Việt Nam phong tục nghiên cứu nghiêm túc, có tính phản biện về thuần phong mỹ tục của Việt Nam [2] . Để thuận tiện trong việc chép Gia phả, từ xưa cổ nhân đã sử dụng thuật ngữ “dòng tộc”, chỉ tập hợp những người cùng huyết thống, kế tục từ đời này sang đời khác và thuật ngữ “dòng họ” được dùng để chỉ cộng ...

Phả đồ dòng họ

Hình ảnh
Nhân việc tu sửa nhà của Mẫu thân và dựng cung thờ Tổ tiên ở thôn An Phong, xã Phong Niên, bắt tay tiếp tục dựng CÂY PHẢ HỆ của dòng họ. Nhưng thật khó bởi: tư liệu thiếu, trình thao tác CorelDRAW ở mức “vừa mần vừa học” lại liên tục “ma chay, cưới xin, …” nên rất chậm. Dù sao cũng đã căn bản hoàn tất. Tổng phả đồ: Phả đồ ngành Cụ Trinh: Nội dung : chép từ Thượng tổ tới đời thứ 9. Trong đó chủ yếu chép về các gia đình, thành viên đang sống ở Lào Cai còn các phái, chi, ngành khác chỉ chép dòng Trưởng để thấy mối liên hệ. Kỹ thuật:  1. Từ Đời thứ Hai trở xuống: ngành Trưởng ô mầu Đỏ, ngành Hai mầu Vàng, ngành Ba mầu Xanh Nhạt, ngành Út mầu Xanh Biển. 2. Cha-con nối với nhau bằng đường vạch thẳng. 3. Các cháu Nội: Con TRAI chữ IN ĐỨNG, con gái viết Chữ Thường; các cháu ngoại: Con TRAI chữ IN NGHIÊNG , con gái viết Chữ Thường nghiêng . 4. Người có tên ở hàng trên là bác, cha, chú của người có tên hàng dưới liền kề, người có tên bên phải là anh người ở ...

Danh sách các thành viên Lương Đức trên Lào Cai

Hôm thứ Sáu ngày 06/01/2012, tức là ngày 13 tháng Chạp Tân Mão, là ngày giỗ lần thứ 15 của thân phụ tôi, Đệ Ngũ đại tổ Lương Đức Thân ( 1922-1997 ) gặp khá đông các cháu, tôi đã bổ sung gần đủ tên các cháu họ Lương Đức hiện ở Lào Cai, tính đến 01/2012. DANH SÁCH Các thành viên Lương Đức gốc Hải Phòng ở Lào Cai -*- (Để tiện theo dõi, trong bảng này thứ tự sơ-thân là: Tổ ->Ngành->Phái->Chi, Nữ dùng chữ nghiêng ) Đời thứ 6 ( các gia đình có đánh số TT là  đã lên Lào Cai ) Thứ  tự CHA (đời 5) MẸ  (đời 5) CÁC CON (đời 6) GHI CHÚ 1 Lương Đức Chức Phạm Thị Chuyển 1. Lương Đức Hồ ( 191?-1983 ) Thuộc ngành Trưởng, hậu duệ cụ Tuấn Những người khác ở quê chưa khảo cứu 2 Lương Đức Trính Đặng Thị Chỉ Lương Thị Ri ( 1912-1945 ) Thuộc phái út ngành Ba, hậu duệ cụ Tú 2. Lương Thị Thị ( 1914-1992, ở Sơn Hải, B Thắng ) 3. Lương Đức Thân ( 1922-1997, ở Phong Niên, BT ) 4. Lư...