Vừa qua, công tác sắp xếp, sáp nhập thôn, xã, tỉnh và đặt tên trên địa bàn được triển khai thuận lợi nhờ thực hiện theo nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, để người dân trực tiếp tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến, bình chọn và quyết định phương án. Chính quyền chỉ đóng vai trò tư vấn, định hướng nên sớm triển khai và đưa Đề án, vào cuộc sống. Việc giữ lại một hay một số thành tố của địa danh cũ trong tên mới sẽ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, lịch sử,…giúp các thế hệ sau hiểu được nguồn cội và thêm tự hào về quê hương.
Nay, phong trào “nhập thôn” đã rộ lên kéo theo đó là việc “đặt
tên thôn” mới. Đành rằng việc chọn tên thôn là ưu tiên thôn lớn,…và tin rằng sẽ
“đúng quy trình” nhưng, là một công dân từng “ngâm cứu” đề tài này cứ thử “lạm
bàn” tí xem sao.
Những năm qua, cùng với sự thay đổi về
chính trị, quân sự, kinh tế thì hệ thống tổ chức phân cấp hành chính Việt Nam
thay đổi nhiều lần, địa giới, địa danh các đơn vị hành chính có liên
quan cũng lắm đổi thay và rất phức tạp.
Từ Lộ 路, Trấn 鎭, Xứ 処, Tỉnh 省, Phủ 府, Châu 州, Mường 𤞽, Huyện 縣, Tổng 總, Xã 社 đến Động 峒, Làng 廊, Thôn 村, Sách 柵,Bản 本, Xóm 𥯎, Trại
赛 nhiều lần tách nhập, thêm, bớt, thay đổi tên gọi và lại diễn ra trong những khoảng thời gian khác nhau, nhiều địa danh đã đi vào quá khứ. Ở Việt Nam bên cạnh những lớp địa danh thuần Việt, là
một số lượng phổ biến các lớp địa danh Hán - Việt hay các địa danh có nguồn gốc
từ các ngôn ngữ dân tộc thiểu số hay có cả địa danh gốc Pháp ngữ, Anh
ngữ,…. Trên
địa bàn Lào Cai hầu hết các địa danh hành chính ở nơi người Mông - Dao cư trú đều đọc theo
âm đọc Hán (người địa phương ở đây gọi là
tiếng Quan Hỏa), còn địa
bàn vùng người Tầy, Dáy thì ghi theo âm Nôm hay Pháp. Hay nói cách khác, ban đầu
đây là những địa danh hoàn toàn chưa theo âm Việt và để có những địa danh ghi bằng
chữ quốc ngữ như hiện nay thì những địa danh này đã phải trải qua một quá trình
quốc ngữ hóa. Do vậy mặc dù hiện nay các địa danh đã được ghi bằng chữ quốc ngữ
(chữ Việt), nhưng xét về âm đọc thì
chúng ta vẫn có thể nhận ra chúng là những địa danh được ghi bằng cả chữ Hán 漢字 lẫn chữ Nôm 𡨸喃 và Pháp ngữ, phiên âm không thống nhất hay không nhất
quán với cách gọi ngày nay,. Do đó, muốn hiêủ cặn kẽ phải tham khảo nhiều tư liệu. Qua đó nếu
tìm về nguyên nghĩa thì rất nhiều địa
danh hiện nay viết và đọc sai do tam sao thất bản mất hẳn ý nghĩa tốt đẹp của người đặt tên.
Trong các cấp hành chính trên thì cấp xóm, làng, thôn, bản tương
đối ổn định về địa giới, địa danh và về tên gọi thường mang tên Việt (Nôm).Việc thay đổi địa giới, địa danh
huyện, tỉnh tương đối dễ khảo cứu. Riêng việc thay đổi cấp xã tương đối khó
khăn. Theo truyền thống, việc đặt tên làng xã Việt Nam thường theo một vài quy
luật:
1.Tên làng xã ghi theo âm Nôm thường là những làng cổ. Ví dụ nhiều
vùng có các làng trùng tên là Hạ, Hầu, Thượng theo vị trí địa lý và đôi khi cả
vai vế của làng. Các tên Nôm trong tài liệu xưa và Gia phả đa phần ghi bằng chữ
Nôm (như Làng Cốc 廊谷, Làng Hương廊香, Làng Đo 廊𡳢), nhưng cũng nhiều khi
chép bởi chữ Hán (ví dụ làng Khuốc được
viết là 古曲, tức Cổ Khúc).
2. Tên làng xã mang âm Xá 舍 sau tên dòng họ phản ánh tính huyết thống đa số của dòng họ đó
trong khu dân cư, có Phạm Xá 范舍, Đặng Xá 鄧舍, Nguyễn Xá 阮舍, Đỗ Xá 杜舍...Nhưng có địa danh mà từ
tố đầu là âm chỉ tên một họ nhưng thực ra không thuộc nhóm này, ví dụ Lương Trạch
涼澤 thuộc Hạ Am下庵, Vĩnh Bảo 永保 chỉ có nghĩa là vùng đất
có đầm nước nông chứ không phải như Lương Xá 梁舍 thuộc Gia Lộc 嘉祿, Hải Dương thì đúng là
chỉ nơi cự ngụ của Lương tộc.
3. Tên phản ánh đặc điểm địa lý: Cao Mật 高密, An Bồ 安培, Bằng Trạch 憑宅, Giang Khẩu 江口... hay nhiều địa danh mà
hậu tố 場 “tràng”, với nghĩa sân phơi, chợ...như Cốc
Tràng 谷場, An Tràng 安場, Văn Tràng 文場, Mông Tràng 蒙場.
4. Phản ánh cây trồng như Phương Lạp 方粒 (nơi trồng lúa), Cam Đường 甘堂, hay tên phản ánh nghề nghiệp: Thổ Hà 土河 là làng gốm,
5. Phản ánh mong muốn an vui, Hạnh phúc: An Lão 安老, An Thái 安太, An Thọ 安寿, Vĩnh Ân 永恩, Vĩnh Bảo 宝, Phúc Châu 福珠, Phú Lộc 富祿, Phố Lu 富瀘, Phú Thịnh 富盛, Gia Phú 加富...Mong muốn điềm tốt lành như Kiến Thuỵ 瑞建, Khánh Hạ 場慶贺. Phản ánh nguyện vọng,
mong muốn được mùa, như Phong Lẫm 豐廩, Phong Mỹ 豐美,Phong Niên 豐年...
6. Những tên đặt, đổi trong giai đoạn 1945-1975 thì thường là Chiến Thắng, Quyết Tiến, Tân Tiến, Trung Dũng...Hay ghép tên 2 địa danh sáp nhập làm một
và đôi khi việc này rất tuỳ hứng làm mất ý nghĩa tốt đẹp vốn có của địa danh.
7. Đặc biệt khi rời quê tới khai hoang, lập nghiệp ở miền núi, người ta thường lấy
2 thành tố của 2 nơi (quê gốc và nơi ở mới)
ghép lại thành tên mới. Ví dụ: An Phong (Kiến An+ Phong Niên), Tân Phong (Tân Liên+Phong Niên), Vĩnh Hồ (Vĩnh Bảo+Sả Hồ), Vĩnh Phong (Vĩnh Bảo+ Phong Niên), An Trà (Kiến An +Bản Trà), An San (Kiến An+ Cốc San)...
Riêng vùng núi Bắc bộ do ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa mà phần lớn
địa danh đều xuất phát từ âm Hán-Việt
hay qua tiếng Quan Hoả. Nổi bật là:
1. Nhiều địa danh được hình thành do các thành tố chung chỉ các loại đối tượng địa lý chỉ núi, non, sông,
suối chuyển hóa thành các yếu tố chính chỉ địa danh hành chính: Pờ Hồ (白河), Suối Hồ (水河), Tu San (都山, Núi đẹp), Tung Chung Phố (宋东坡, Sườn phía Đông), Seng Sui (深水, Thâm Thuỷ, Suối sâu), Nhò Trong, Nhò Ngoài,…
2. Thể hiện thế giới tự nhiên mà họ đã quan sát được: Lùng Thàng (龙塘, Thung lũng), Seo Tủng (小 洞, Động nhỏ), Pờ Xì Ngài (白石崖, Vách đá trắng), Liền Sán (两 山, Dãy núi), Giàng Phìn (羊坪, Dương bằng), Tả Phìn
(大坪, Bãi bằng lớn), Phìn Chư (坪 子, Mảnh đất bằng), Sú Dí Phìn (树叶坪, Đám cây lá nhọn)…
Hoặc về kích thước: Tả Thàng (大塘, Ao lớn), Tả Phìn (大坪, Bãi bằng lớn), Seo Ngải Chồ
(小崖脚, Chân núi thấp), San Cha Trại (三家寨, Xóm ba nhà), Tả Chải
(大寨, Bản lớn), Ho Tsao Trai chắc là Hỏa Thiêu Chải (火燒寨, Bản lớn cháy), Phong Niên...
Hay về hình dáng địa danh: Chín Chư (金字 , Kim Tự, “chữ kim”)
Chín Chư Ngài (金字岩), Ky Quan (鸡 冠, Kê Quan, “mào gà”) - Ky Quan San (鸡冠山)
Có khi cư dân lựa chọn hình ảnh của các loài thực vật như cây
trúc (竹), cỏ gianh (茅), cây đào (桃)…hay những loài động vật như: con hổ (虎), con gà (鸡), con lợn rừng (野猪), con ngựa (馬) để định danh nơi mình ở. Ví dụ:
Khu Chu (苦 竹, Vầu đắng), Pờ Phú (白 虎 Bạch Hổ, “Hổ trắng”) - Pờ Phú Chải (白虎寨, Trại Hổ trắng), Xuân
Đào (春桃, Vườn Đào xuân) , Suối Mã Mán 𤂬馬蠻.
Người ta cũng dựa vào vị trị,…để định danh: Ma Lủ (馬路, Đường ngựa), Giang Đông 江東. Cách định danh này cũng đã thể hiện văn hóa định cư của các cư dân ở đây rất gần với văn hóa người Hán và người
Việt. Vì ngay đối với người Việt bao giờ cũng ưu tiên nơi định cư của mình gần sông
nước, đường giao thông và nó thành một trong những tiêu chuẩn định cư của mình “nhất cận
thị nhị cận giang”…
3. Những địa danh có tồn tại yếu tố phương hướng: yếu tố “Nàn” (南, Nam) khá phổ biến như : Nàn Sán (南山, Nam Sơn), Nàn Hồ (南河, Nam Hà), Sảng Nàn Cang (上南岗, Thượng Nam Cương)…Hay
chỉ vị trí: Sang Chỉu Cài (上旧街, Phố cũ trên), Sàng Chải (上寨, Bản trên), Trung Chải (中寨, Bản giữa), Xả Lùng
Phình (下龙 坪, Bản dưới lũng), Sả Séng (下乡, Làng dưới)...
4. Trong các địa danh tồn tại khá phổ biến cặp yếu tố có tính chất đối xứng cũ/mới như: Sín Chải (新寨, Tân Trại, Trại Mới), Lao Chải (老寨, Lão Trại, Trại Cũ), Lào Cai (老街, Lão Nhai, Phố Cũ), Sín ma cai (新馬街, Tân mã nhai, Chợ ngựa mới)…, Sín Pao Chải (新宝寨, Tân Bảo Trại), Lao Pao Chải (老宝寨, Lão Bảo Trại), Sìn Hồ
Sán (新火山. Tân Hỏa Sơn)….
5. Những địa danh có dùng tên các dòng họ như một yếu tố định danh chính như: họ Mã
(馬 家), họ Dương (杨 家), họ Lầu (La) (罗 老 寨), họ Lý (李 老 寨): Giàng Cha (杨家), Lồ Lao Chải (罗 老 寨)... Hoặc địa danh chỉ thành phần
dân tộc sống chủ yếu để phân biệt với khu dân cư cùng tên của dân tộc khác. Ví dụ:
Làng Đo 廊𡳢, Làng Đo Mán 廊𡳢蠻; Thác Đông 托東, Thác Đông Mán 托東蠻.
6. Muốn chỉ nơi cư trú, buôn bán người ta dùng các từ trại, chợ,
phố...Tả Chải (大 寨), Si Ma Cai (新馬 街) , Sả Séng (下 乡), Bản Phố (半 坡)...
7. Những địa danh do người Tầy, Dáy đặt và được người Pháp ghi lại theo phát âm của người
dẫn đường nên có nguồn gốc âm
Việt hồi đầu thế kỷ XIX, sau này mới Việt hoá hoàn toàn. Trong số này địa danh nếu dùng chữ Hán thì thực
ra là ghi âm Tầy, Nùng, Dáy chứ không phải nghĩa Hán Việt. Ví dụ chữ
“Na, 那” lại có nghĩa là “ruộng” chứ không phải
là “nào, nhiều...” như trong chữ Hán gốc hoặc chữ “捻” dùng ghi âm “Nậm” tức
là sông nhỏ, suối chứ không là “Niệp”=Nắn, vẽ hay “Niễm”, như sông Nậm Thi được viết là 捻格. Có rất nhiều địa danh mang tiền tố “Cốc”, nhưng thực ra
phải truy nguyên xem địa danh đó ghi theo âm dân tộc nào thì mới rõ ý nghĩa của nó. Ví như, Cốc Lếu nguyên địa phương gọi là gốc gạo
bởi có nhiều cây gạo, âm đọc là Cốc Liễu nên phải chép là 谷柳 hay Cốc Sâm 谷森 thì là nơi lúa tốt, Cốc
Ly 谷李 là gốc mận. Hoặc như Sa
Pa thực ra lại là bãi cát lớn nên ghi là 沙垻...Ải Dõng, Ải Nam ở Phong Hải chẳng có cái “ải” nào mà đó là: Á Nam 亞南, Á Dụng 亞用..
8. Một số đại danh chỉ ngành nghề hay sản vật, như: làng Bạc,
làng Chì, làng Mít, làng Gạo, Chì Quang,…
Rất tiếc, do tam sao thất bản và đặc biệt là do trình độ chính tả non kém mà nhiều địa danh ngày nay đã khác xa tên gốc không phải do đổi tên và từ đó ý nghĩa tốt đẹp mà tiền nhân gửi gắm đã bị mai một.
Ví dụ một làng thuộc xã Mỹ Đức, An Lão xưa vốn là Kim
Châm (金箴 lời khuyên vàng) thuộc Biều Đa 裒多 sau này được viết là “Kim Trâm” thì với
nghĩa gì, chẳng lẽ là 金簪= Cây cài vàng ? Hay như một xã ở huyện Trạm Tấu thuộc tỉnh Yên
Bái vốn được người xưa (HMong)
đặt là “ché tẩu” nghĩa là “bãi trồng đậu tương” gắn với một giai thoại rất hay sau này được gọi là “Chế Tạo” !?!
Các “dân biểu” thời nay,
nhất là ở cấp xã có thấu điêù đó không ? Có “đau” khi “vô tình” giơ tay xóa đi
một cán sôi tên giầu ý nghĩa, đầy tính nhân văn và “gán” cho thôn, bản, làng,… một cái
tên ngô nghê hoặc một con số vô hồn,…?!
-Lương Đức Mến, BS từ nhiều nguồn TK và thực tế trải
nghiệm, 12/5/Bính Ngọ 2026-



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!