Việc trở thành bác sĩ thường xuất phát từ sứ mệnh cứu người, đam mê lĩnh
vực y tế, mong muốn chăm sóc sức khỏe cộng đồng và sự hy sinh, nỗ lực học tập
suốt đời. Đây là nghề đòi hỏi sự tử tế, vị tha, và mang lại ý nghĩa sâu sắc khi
giúp bệnh nhân vượt qua nỗi đau nhưng cũng là thách thức trí tuệ và sự kiên trì.
Thường do gia đình hoặc
cá nhân và trách nhiệm xã hội: Nghề y là nghề cao quý, luôn được xã hội cần
trong cả thời chiến lẫn thời bình.
Hành trình trở thành bác
sĩ tuy nhiều khó khăn, vất vả nhưng cũng mang lại những niềm vui hạnh phúc. Khi
lựa chọn trở thành bác sĩ có nghĩa là phải làm việc chăm chỉ, tận tụy và hy
sinh, thách thức giới hạn của cơ thể, tạo hoá;
Tuy là những người ở tuyến
đầu chống lại bệnh tật, đối mặt với những nguy hiểm, nhưng họ đều là những con
người bình thường, có xương có thịt, cũng mệt mỏi và yếu đuối.
Về vấn đề này, xưa kia Tể
tướng Phạm Trọng Yêm (范仲淹, 989 - 1052)[1]
từng nói: “Cách tốt nhất để giúp ích cho thế gian là làm tể tướng; nếu không thể
làm tể tướng, cách tốt nhất để giúp ích cho nhân dân bằng kiến thức của mình là
làm bác sĩ. Nếu bạn làm một bác sĩ giỏi, bạn có thể chữa khỏi bệnh cho vua và
cha mẹ, cứu sống nhân dân thế gian, dạy mọi người giữ gìn sức khỏe và kéo dài
tuổi thọ. Có nghề nào tốt hơn nghề bác sĩ để cứu người và giảm bớt đau khổ cho
nhân dân ngay cả khi bạn ở dưới đáy xã hội?”
Cổ nhân có câu: “Bất vi
lương tướng – Tắc vi lương y” (不為良相, 則為良醫, có nghĩa là nếu không thể
làm một tể tướng giỏi giúp nước, thì hãy làm một thầy thuốc giỏi giúp đời)
Trở
thành bác sĩ pháp y (Forensic
Pathologist) thường xuất phát từ đam mê tìm kiếm sự thật,
lý tưởng công lý, và yêu thích khoa học hình sự. Đây là ngành đặc thù, đóng vai
trò “nói thay tiếng nói của người đã khuất”, giải oan cho người vô tội, làm rõ
trắng đen, giúp gia đình nạn nhân tìm lại công bằng và lặng lẽ cống hiến. Nó đòi
hỏi sự kiên trì cao, tư duy logic, không ngại khó khăn/thương tích để bảo vệ
công lý. Nó cũng được xem là hành nghề y “thuần túy” nhất, luôn vững niềm tin
vì lý tưởng công lý. Có nhiệm vụ: Xác định nguyên nhân, thời gian và cơ chế tử
vong; Đánh giá mức độ tổn hại cơ thể trên người sống trong các vụ án cố ý gây
thương tích, xâm hại tình dục; Phân tích cơ cơ chế hình thành dấu vết hiện trường,
huyết thống; Nhận dạng tử thi trong các vụ tai nạn, thảm họa,....
Nhưng phải chịu áp lực lớn:
Luôn phải giữ vững đạo đức, đối mặt với sự co kéo giữa các bên liên quan và sự
nguy hiểm và học tập công tác lâu dài (học
Y đa khoa, sau đó chuyên sâu về Pháp y, cọ sát thực tiễn), đòi hỏi bản lĩnh
và sự tận tụy. Do vâỵ việc lựa chọn nghề này là sự dũng cảm đối mặt với tử thi,
nỗi sợ và áp lực từ xã hội, tất cả vì lý tưởng cao đẹp.
Công việc thầm lặng,
nhưng sự đóng góp của bác sĩ pháp y trong thành công của những chuyên án đấu
tranh với tội phạm là con số không hề nhỏ. Các kết luận giám định pháp y đều có
giá trị chứng cứ và truy nguyên cao, giúp rút ngắn “bước điều tra ban đầu và cơ
quan tố tụng truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cao quý là thế, nhưng các
bác sĩ pháp y cũng có phần chạnh lòng vì ngày càng ít người muốn theo đuổi, gắn
bó với nghề không chỉ bởi xã hội, người thân ghẻ lạnh, e ngại định kiến mà còn
chính bởi những áp lực, vất vả của công việc đặc thù này.
“Ai cũng chọn việc nhẹ
nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?”... Song nghề này luôn việc làm ổn định, sẽ có
việc làm cho đến khi “thiên hạ” tìm ra cách chữa bệnh… chết !. Đồng thời sẽ
không bị gọi dậy lúc nửa đêm để mổ cấp cứu hay đỡ đẻ, hiếm khi bị kiện vì “lỗi
Điều trị” (như các GĐV ở VPYTW) hoặc
khỏi lo thủ tục mở “Phòng khám tư”,…..
Nhưng chấp nhận việc luôn
không có “bồi đưỡng” thêm, lương “ba cọc ba đồng” được trang bị tối thiểu, môi
trường làm việc đôi khi rất khó chịu,…
Do đặc thù công việc, đội
ngũ y bác sĩ làm công tác pháp y công tác tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh.
Công việc đặc biệt đòi hỏi mỗi cán bộ phải
có trách nhiệm, trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghiệp vụ tốt cùng tinh thần
khách quan, tỉ mỉ, chính xác, toàn diện vừa thường xuyên, vừa đột xuất, bất ngờ,
lại liên quan đến nhiều yếu tố độc hại,…
Thực tế, bác sĩ pháp y
trước hết vẫn được đào tạo đầy đủ như mọi bác
sĩ đa khoa khác (giải phẫu, bệnh học
đại cương, sinh lý, sinh lý bệnh, dược học, triệu chứng học, bệnh học cụ thể, cấp
cứu, phẫu thuật thực hành,....) Bác sĩ chuyên khoa, …
Nếu bác sĩ lâm sàng chữa
bệnh cứu người, thì bác sĩ pháp y góp phần bảo vệ sự thật và công lý.
Bác sĩ pháp y (nói chính xác Bác sĩ – Gám định viên pháp y)
vẫn là bác sĩ, chỉ khác với bác sĩ lâm
sàng ở sứ mệnh phục vụ cho xã hội.
Vì thể, chúng tôi vẫn là
bác sĩ ! Còn vì sao không có PY “ngoài công lập” và các “Bác sĩ pháp y không mở
phòng khám tư” là vấn đề khác, nằm ngoài bài viết này !
-Ngày 29/02/Bính Ngọ, Lương Đức
Mến Bs từ nhiều nguồn TK, kiểm nghiệm-
[1] Ông tự Hy
Văn, thụy Văn Chính, là một nhà chính trị, nhà văn, nhà quân sự, nhà giáo dục
thời Bắc Tống (北宋, 960–1127).
Cha
ông là Phạm Dung 范墉, thân mẫu là Tạ thị 谢氏, ông từng làm
nhiều chức vụ khác nhau trong chính quyền Bắc Tống những ngày đầu mới thành lập,
Phạm Dung mất ở Từ Châu khi con trai Trọng Yêm được 1 tuổi (990). Mẹ ông là Tạ phu nhân, đã cải giá (lấy Chu Văn Hàn 朱文翰, người Trường Sơn, từng
nhận chức Bình Giang Thôi quan) đến huyện Trường Sơn, Truy Châu, Sơn Đông
nên Phạm Trọng Yêm được cải tên thành Chu Thuyết. Sau đó ông tới chùa Lễ Toàn
trên dãy núi Trường Bạch đọc sách, mỗi ngày chỉ thổi nấu một nồi cháo. Ông là
người tự hiểu thân thế của mình, cũng nhân tiện để từ biệt mẹ đẻ, đã một thân một
mình tới Nam Kinh đèn sách. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 8 (大中祥符八年, 1015) đời Tống
Chân Tông ông đỗ tiến sĩ 進士第, tới Quảng Đức quân làm tư lý tham quân (coi công việc hình ngục), liền đón mẹ mình về nuôi dưỡng.
Thời
Tống Nhân Tông (宋仁宗, 1010-1063), ông đảm nhận chức vụ hữu tư gián. Năm 1038, vua Cảnh
Tông (西夏景宗, 1003-1048, Lý Nguyên Hạo 拓跋元昊) của Tây Hạ 西夏 sau khi tự lập
làm hoàng đế nhà nước Tây Hạ đã phát động chiến tranh Tống-Hạ (宋夏戰爭, 1038–1044,
1081-1082, ...), ông cùng Hàn Kỳ (韓琦, 1008–1075) đảm nhận chức vụ kinh lược an
phủ chiêu thảo phó sứ Thiểm Tây 陝西, trợ giúp Hạ
Tủng dẹp loạn.
Năm
Tống Nhân tông thứ tư(宋仁宗天聖四年, 1026) mẹ
ông mất, Phạm Trọng Yêm về Thiên phủ 天府 (nay là Thương
Khâu, Hà Nam 河南商丘)Ninh Lăng 寧陵 thủ táng ba niên. Thời gian này ông ở Nam Kinh 南京 và đảm nhận Thiên phủ học giáo thụ 天府學教授.
Tháng
7 năm Khánh Lịch thứ 3 (慶曆三年, 1043) ông được thăng chức thành xu mật
phó sứ, tham tri chánh sự (phó tể tướng).
Trong năm này, ông cùng Phú Bật 富弼, Hàn Kỳ 韓琦 đề xuất cải cách công việc triều chính. Nhóm của ông đề xuất
cái mà sử sách sau này gọi là “đáp thủ chiếu điều trần thập sự” (答手詔條陳十事, 10 điều cần cải
cách), trong đó có “minh truất trắc, quân điền phú, tu võ bị, giảm lao dịch”
(明黜陟, 抑僥幸, 精貢舉、擇官長, 均公田, 厚農桑, 修武備、減徭役, 推恩信, 重命令, bổ nhiệm, bãi miễn rõ ràng; thu thuế quân điền; tu sửa võ bị, bớt lao dịch),
sử sách Trung Quốc gọi là “Khánh Lịch tân chính 慶曆新政” hay “Khánh Lịch
chi trị 慶曆之治”. Cuộc cải
cách Khánh Lịch này nhanh chóng thất bại vào năm 1045 do bị các quan lại, chủ yếu
là bè đảng của Hạ Tủng 夏竦 phản đối, ông bị giáng chức,
chuyển tới Đặng Châu 鄧州, Hàng Châu, Thanh Châu. Năm
Hoàng Hữu thứ 4 (1052) ông chết vì bệnh
tại Từ Châu 徐州.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!