Bởi nhiều nguyên do,
năm Bính Ngọ 2026 này lại không thể về quê dự Giỗ Tổ được cũng chẳng về nhà Mẹ ở xóm An Phong,
An Hồ, Phong Niên, Bảo Thắng xưa nay là Phong, thôn An Hồ, xã Xuân Quang tỉnh Lào
Cai cùng Mấu thân và các em thực hiện viêc Giỗ Vọng tại Gia đường được mà tiến
hành ngay tại 328 Hoàng Liên thuộc Tổ 14 Kim Tân phường Lào Cai tỉnh Lào Cai cùng dịp cúng Rằm tháng Giêng trước khi tôi về Hà Nội và Hải Phòng.
Trên cơ sở các Bài Văn khấn còn lại và Lịch
sử dòng họ cũng như tham khảo Văn Tế của các họ khác, soạn bài này kính dâng lên Tổ:
MỪNG HÔM NAY:
Rằm Nguyên Tiêu khí sáng, trời xanh, Đất Phương Hạ[1]
rộn vui xóm ngõ;
Ngắm núi Voi sừng sững, tưởng lại cội xưa, Nhìn sông Úc
vỗ bờ, nghĩ về nguồn cũ;
Con cháu tộc Lương, Từ mọi phương hướng về đất Tổ.
Tụ họp tại Từ đường cùng nhau Giỗ họ.
THUỶ TỔ XƯA:
Sinh tại Tiên Minh [2]; Mộc Thủy[3]thế phổ.
Nhà 2 con gặp cảnh điêu linh; Nước “lưỡng chế”[4]cơ đồ nghiêng ngửa.
Xứ Đông[5] lụt lội, bao cảnh tang thương; Làng
xóm xác xơ, đời càng thêm khổ.
Đành một gánh từ bỏ quê hương; Dắt vợ con tìm nơi dễ thở[6].
Thấy bên tả sông Văn nước ngập, muỗi đầy, người vẫn còn
thưa; Bèn sang đó đắp bờ thau chua, rửa mặn, phát hoang, cầy vỡ.
Công sức mồ hôi đã thấu đến trời, Lại được họ Nguyễn, họ
Mai[7]giang tay giúp đỡ.
Xây thành xóm, thành ruộng thành đồng; Dựng nên nhà,
nên chồng, nên vợ.
Hoài cố hương, trở lại Đăng Lai[8]; Tiếp căn cơ và hương khói Tổ.
Lưu cháu con xây dựng Hạ Hương; Khởi tổ tiên họ Lương tân
thổ.
ĐẾN ĐỨC TỔ TA :
Cha vốn gốc Phương Lai, Mẹ Quan Bồ[9] cùng lộ.
Tuổi thơ ấu, xa cách chẳng biết nhau, Thời khôn lớn
nên duyên chồng vợ.
Tiếp việc mẹ cha xây dựng Hạ Hương[10], Bao công sức, khơi mương, vượt thổ.
Bồi lấp bãi lầy, Dọn quang lăn, cỏ.
Đây Cốc Tràng, Tôn Lĩnh, Kim Côn khi sương chiều, khi
nắng sớm, nghĩa hương thôn ấm lạnh đỡ đần; Kìa Hương Lạp, Mông Tràng, Tôn Lộc[11], lúc nắng Hạ, lúc mưa Đông, tình xóm
làng răng môi gắn bó.
Việc cấy cày, đã hết dạ chăm lo; Đường học vấn, còn dày
công dạy dỗ[12].
Thuật xử thế ngoài êm trong ấm, thầy hay bạn tốt, chọn
nhân nghĩa phương châm; Việc tề gia trên thuận dưới hòa, con thảo cha hiền,
dùng hiếu từ quy củ.
Công ơn mở đất, ai cũng kính yêu; Tâm huyết xây quê, đời
càng thấy rõ.
Theo đà tiến triển, cùng dân cũ tô điểm quê cha; Giữ nếp
cổ truyền, nhớ cội nguồn dựng xây đất tổ.
THẾ RỒI :
Đang lo cấy cày, gặp buổi nhiễu nhương; Lại thương nỗi
nhân dân đói khổ.
Vâng mệnh trên, Văn Úc xuôi dòng; Việc điếu phạt phò Vua
dẹp bỏ[13].
Rằm tháng Giêng phỉ bình nhưng Cụ bị trận vong; Nhớ lời
dặn, cháu con chọn làm ngày giỗ Tổ.
Sống nhiệt thành, tử trận linh thiêng; Với hậu thế Người
luôn phù hộ[14].
HẬU DUỆ TRUYỀN :
Noi gương Tổ: ngày thất bát hai vợ chồng- Bên nồi, bên
con, thau chua rửa mặn lập ra làng xóm, gây nghiệp kiệm cần; Học tiền nhân:
Buổi khai hoang vài chi phái- Vượt núi, băng rừng, san đồi, vỡ ruộng dựng nên
thôn bản, xây dòng tiến bộ[15].
Lời xưa, ý nay bồi đắp: đạo Thánh hiền cháu con ghi nhớ
noi theo; Đất cũ, làng mới xum vầy: tình cốt nhục khắp nơi thân thương gắn bó.
Đức khai cơ cao tựa núi Voi; Ân dưỡng dục dài hơn
sông Úc.
Mênh mông bể cả, tổ ấm tài bồi; Thăm thẳm non cao, tôn
công tế độ.
Để có ngày phú quý, bao công sức đổ xuống đất
này; Vì sự nghiệp mai ngày, biết bao lần vượt khó.
Quê hương đổi mới nhờ địa lợi mà bát ngát màu xanh; Nội
lực phát huy lấy nhân hoà để vượt qua gian khổ.
ĐÚNG LÀ:
Tu nhân, tích đức, Phật đền cho; Khổ tứ,
lao tâm, Trời chẳng phụ.
Trải lúc cơ trời biến cải, dù buổi thái bình hay cơn binh
lửa, sức âm phò quả đã vô cùng; Qua tuần cuộc thế đổi thay, dù nơi đất khách
hoặc chốn quê nhà, ơn mặc trợ mỗi ngày mỗi tỏ.
Đất lành người đảm, đời này sang đời nọ, thụ hưởng hồng
ân; Nhân tốt quả xinh, lớp trước tiếp lớp sau, đượm nhuần phúc thọ.
NAY GẶP BUỔI:
Kinh tế thị trường, Giao lưu mở cửa.
Dẫu đã hướng đi lên; Còn muôn điều thách đố.
Sao cho kịp bước canh tân, Để khỏi mang danh bảo
thủ.
Học ông cha: mở óc suy tư, Cùng dòng họ: bền gan
gắng cố.
Khắp tứ phương: Nam, Bắc, ngược, xuôi, Dù bách
nghệ : sĩ, nông, công, cố.
Đường kinh doanh đã quyết là thành, Nghiệp khoa cử đã thi
là đỗ.
BỞI THẾ CHÁU CON NAY:
Tu sửa Gia đường; Chỉnh trang Phần mộ.
Nhớ người góp công sửa chỗ đi về; Ghi người công đức xây
nơi thờ tự.
Mộ phần tu chỉnh, nghìn thu cựu tích tô bồi; Tự sở phong
quang, năm Phái cơ ngơi minh lộ.
Sưu tầm tài liệu, thi văn tuyển trạch, phụ lục dồi dào;
Bổ túc di dung, thế thứ phân minh, Phái Chi đầy đủ.
HÔM NAY :
Sát cánh bên nhau, Trước bàn thờ Tổ.
Sắm hương hoa, một lễ chân thành, Tưởng công đức muôn
phần ngưỡng mộ.
Nghe Chúc văn, lưu công đức muôn đời; Dõi sơ đồ, rõ
quế hòe trăm nụ.
Cúi nguyện nghĩ: Vầng nhật nguyệt sáng rạng
mười phương; Đức Tổ tông lưu danh muôn thuở.
Ngẩng cao trông: Phúc ấm nối đời, “Tế thần, thần tại'”
giáng nơi Từ Đường; Cháu con thờ phụng, “Xuân kị Thu thường” đều kỳ cúng giỗ.
Thắp nén hương nghi ngút tại Gia đường, Đặt cành hoa ngạt
ngào dâng lên mộ Tổ.
Tấm lòng tôn kính, lễ bạc tiến nghinh; Văn tế nôm na,
tấc thành biểu lộ.
Tưởng nhớ ân sâu Đấng Anh Linh, Tâm nặng nghĩa dầy Tiên
Liệt Tổ.
Nguyện Hiếu, Trung, vì Nước vì Dân, Tròn Tình, Nghĩa với
Đời, với Họ.
Mang Chính Tâm dạy cho con cháu, lấy Nhân Tín làm điều xử
sự.
Người ở quê giữ phần hương khói chăm sóc Gia đường, tạo
tôn phần mộ.
Kẻ đi xa khơi dòng ôn cố, dốc tâm dựng cơ đồ, rạng danh
đất cũ.
CÚI XIN:
Lương tộc Lịch đại Tổ tiên từ cõi linh thiêng, Ân Đức dẫn
đường giúp con cháu ngày thêm tiến bộ.
Để mọi người đạt thành may mắn; Cho toàn gia Khang Ninh
Phúc Thọ.
Làng xóm mạnh giầu, Quốc cường, dân phú.
Khắp ngược xuôi, Hạnh phúc Yên Vui, dòng Lương tộc mãi
mãi sáng danh; Đều trai gái, công đức ngàn trùng, giữ nếp gia tiên, khói hương
muôn thuở.
Lòng thành kính bái, xin được chứng minh; Ước vọng dâng
lên, kính xin tế độ.
-Cẩn
cáo-
-Lương Đức Mến (Đời thứ Bẩy) phụng
soạn đầu Xuân Ất Mùi 2015, sửa Xuân Bính Ngọ 2026, 遞七代梁德悗 奉纂-
[1]
Xưa thuộc tổng Cao Mất, huyện An Lão, phủ Kiến Thụy; từ sau 1966 thuộc xã Chiến
Thắng, huyện An Lão, tf Hải Phòng và từ sau 7/2025 thuộc xã An Hưng (Chiến Thắng
nhập với An Thái, An Thọ và bỏ cấp huyện
An Lão), Hải Phòng.
[2] Tiên Lãng xưa, vào thời Lê Thánh Tông là huyện Tân Minh 新明縣, năm 1600 do kiêng húy Vua Lê Kính Tông hiệu Duy Tân nên Tân Minh đổi thành Tiên Minh 先明 sau đó do phạm húy Vua Hàm Nghi (hiệu Ứng Minh) nên năm 1884 đổi thành Tiên Lãng 先朗. Từ 01/7/2025, địa danh Tân Minh dùng đặt cho xã mới hình thành từ gần 4 xã gộp lại là Cấp Tiến, Kiến Thiết, Đoàn Lập, một phần Tân Minh; Tiên Minh đặt cho xã mới hình thành từ gần 3 xã gộp lại là Tiên Minh, Tiên Thắng, một phần Tân Minh còn Tiên Lãng dùng đặt cho xã mới hình thành từ 4 xã gộp lại là Khởi Nghĩa, Quyết Tiến, Tiên Thanh, Tiên Lãng các xã này thuộc thẳng tf Hải Phòng, bỏ huyện Tiên Lãng.
[3] Bộ
Mộc 木
ghép với chữ Thủy 水
viết dưới dạng bộ 氵thành
ra chữ Lương 梁,
chỉ tên dòng họ.
[4] Vừa có Vua (vua Lê) lại vừa có Chúa (Chúa Trịnh).
[5] Đất An Lão hồi đó thuộc tỉnh Hải Đông, còn gọi
là xứ Đông.
[6] Giữa
thế kỷ XVIII, Gia phả chép: “gặp cảnh “Gia bần niên cơ” Thượng tổ “bên
nồi bên con” từ Tiên Minh sang đất Cao Mật khai cơ, lập nghiệp”
[7]
Họ Nguyễn, Họ Mai là những họ đến Cao Mật trước họ Lương.
[8] Đăng
Lai 登來
(sau cải là Phương Lai 芳來)
thuộc tổng Kênh Thanh (sau này là xã Cấp
Tiến huyện Tiên Lãng) còn từ sau 01/7/2025 là xã Tân Minh (do Sáp nhập các xã
Cấp Tiến, Kiến Thiết, Đoàn Lập, một phần Tân Minh và bỏ huyện Tiên Lãng) .
[9] Quan
Bồ 關蒲
thuộc tổng Kênh Thanh từ sau 7/2025 thuộc
xã Tiên Minh (do nhập các xã Tiên Minh,
Tiên Thắng, một phần Tân Minh và bỏ huyện Tiên Lãng)
[10] Làng Hạ là tên Nôm của Mông Tràng Hạ蒙場下, làng Hương là tên Nôm của Hương Lạp 香粒 thuộc tổng Cao Mật 高密總, nơi Thượng tổ dừng chân ban đầu khoảng năm 1750. Năm 1883 Hương Lạp 香粒 đổi thành Phương Lạp 芳粒 do kị húy tên vợ Vua Tự Đức, dưỡng mẫu Vua Kiến Phúc (建福, 1869-1884) là Nguyễn Thị Hương 阮氏香 và đến 1966 hai làng nhập một, nay thống nhất gọi là thôn, thôn Phương Hạ. Từ sau 7/2025 là một thôn thuộc xã An Hưng (Chiến Thắng nhập với An Thái, An Thọ và bỏ cấp huyện An Lão), Hải Phòng
[11] Các
xã thuộc tổng Cao Mật tính từ thượng nguồn xuống là: Kim Côn 今崑, Côn Lĩnh 崑嶺, Mông Tràng Thượng 蒙場上, Mông Tràng Hạ 蒙場下, Phương Lạp方粒, Cốc Tràng 谷場, thôn Tôn Lộc 尊祿 và Cao Mật 高密.
[12] Con
cháu cụ Đồ Thiệu 第四枝宗 梁公劭
[13] Nhiều khả năng Ngoại Tổ là người chỉ huy hương binh 鄕兵正營 trong vùng hay thuyền lương (chức “Tào vận ty” 漕運司) ở cửa sông Úc tiếp tế cho quan quân khi đánh dẹp khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu ((阮有求, 1712-1751),
[14] Viết sâu và kỹ hơn khi phân tích bài “Hạ Thập kỳ” của cụ
Đồ Thiệu ca ngợi Công Đức Ngoại Tổ và lịch sử ngày giỗ Tổ Rằm Tháng Giêng.
[15] Chỉ các chi phái họ Lương gốc thông Phương Hạ, xã Chiến Thắng, huyện An Lão xưa mà nay là xã An Hưng, đi xây dựng quê hương mới ở Lào Cai, Điện Biên, Đắc Lắc,…



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!