[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


07 tháng 2 2026

Nhân có sự “chồng lấn” lịch tháng giáp Tết Bính Ngọ thử TÌM HIỂU VỀ LỊCHNhân có sự “chồng lấn” lịch tháng giáp Tết Bính Ngọ thử TÌM HIỂU VỀ LỊCH

1. Nhu cầu cuộc sống đặt ra cho con người cần phân biệt những gì thuộc về quá khứ, những gì đang diễn ra và những gì sẽ diễn ra tiếp theo. Từ đó hình thành nên khái niệm Thời gian 時間 . ‘

 Để nhận thức thời gian, qua tích lũy kinh nghiệm cổ nhân từ khái niệm ngày (, có mặt trời), đêm (, không có ánh mặt trời) ban đầu dần đến nhận xét đêm có trăng, đêm không trăng (Sóc, , New Moons), trăng tròn (Vọng, ) trăng khuyết hình thành nên khái niệm tháng . Nhiều ngày, tháng chung một đặc trưng thời tiết hình thành nên mùa. Các mùa tuân theo một quy luật nhất định và vòng đó gọi là năm (Niên, ). Chính quá trình giao tiếp, sự phát triển của xã hội đặt ra yêu cầu phân chia thời gian.

2. Hệ thống đặt tên cho các chu kỳ thời gian, thông thường là theo các ngày được gọi là lịch . .

Cách tính lịch gọi là Lịch pháp 曆法 gắn liền với thiên văn, với chiêm tinh học, là sản phẩm quan trọng mà các nền văn minh cổ của Trung Hoa, Ai Cập, Babilon, Hy Lạp đã đạt được. Quyển sách ghi lại lịch, đếm ngày, để ghi chép công việc, để tính toán sự biến chuyển của các mùa gọi là Lịch thư (H: 曆書, A: Almanac, P:Almanach), tức sách lịch, niên giám. Vậy: Lịch là một hệ thống tổ chức, ghi chép thời gian theo cách thuận tiện cho việc điều tiết cuộc sống dân sự, các lễ nghi tôn giáo cũng như cho các mục đích lịch sử và khoa học. Nói một cách dễ hiểu: “Lịch” là phép quy định những khoảng thời gian, mà hiện nay ta thường biết đến là các từ: Khi cần chia nhỏ đơn vị thời gian dưới ngày người ta chia ra giờ, phút, giây... trên năm hợp thành Giáp, Hội giáp, Thập kỉ, Thế kỉ, Thiên niên kỉ.

3.Lịch sử từng có nhiều phép làm lịch. Thông dụng nhất hiện nay là:

3.1. Năm Dương lịch (, The sun calendar/Le calendrier solaire) được gọi tên bằng số đo dạng tuyến tính (線性關係, linear) biểu diễn được trên trục số, không bao giờ lặp lại. Do vậy nhân loại sẽ không còn được gặp năm dương lịch (Lịch Gregorius được dùng từ 15/10/1582) mang tên 2026! Phép tính lịch nầy dựa vào chu kỳ mặt Trời và mặt Trời thuộc Dương nên gọi như vậy. Lịch hiện đang sử dụng là lịch Gregory .

3.2. Còn năm Âm lịch (, lunar calendar/ Le calendrier lunaire) dựa vào chu kỳ mặt Trăng và mặt Trăng thuộc âm nên gọi như vậy mà thực tế hiện đang dùng là Âm Dương lịch 陰陽 được áp dụng từ thời Minh (,1368 – 1644)  và hoàn chỉnh như ngày nay dưới triều Thanh (清朝, 1644 – 1911) lại đặt tên bởi Can Chi 干支 theo chu kỳ (环状, cyclic) trong Lục thập hoa Giáp 六十花甲 hay “chu kỳ Giáp Tý” 甲子 do đó 60 năm sau nhân loại sẽ gặp lại năm mang tên Ất Tỵ 乙巳!. Lịch âm hiện tại, Âm dương hiệp lịch (陰陽合歷, Lunisolar calendar)  đã  phối hợp năm có bốn muà 四時: Xuân , Hạ , Thu , Đông và tám tiết chính 八節 trong 24 tiết khí 節氣 với tháng có trăng tròn, trăng khuyết, đêm không trăng.

4.Âm lịch và Dương lịch cùng là phép tính đo thời gian và một năm (bình thường) đều gồm 12 tháng nhưng cách tính khác nhau nên có sự “vênh” nhau về đại lượng chỉ thời gian. Trong đó năm mới Dương lịch bao giờ cũng đến sớm hơn năm mới Âm lịch hơn 1 tháng. Do vậy có sự “chồng lấn” ở tháng 1, 2 năm Dương lịch mới vẫn thuộc năm Âm lịch cũ. Điều đó dễ nhầm khi quy đổi tuổi dương lịch sang âm lịch và ngược lại, ngay cả với người gọi là “thầy” nếu đơn giản hóa. Khi đó “xem” sao mà chính xác được! Ví dụ:

4.1. Chị dâu họ tôi là Nguyễn Thị Đê, sau một đợt ốm dài (Xơ gan cổ trướng) đã mất hồi 23 giờ 25 phút ngày 21/3/2011 tức đêm thứ Hai ngày 17/02 âm lịch tại nhà riêng ở thôn Soi Chát xã Sơn Hải. Tứ trụ tử là Bính Tý, Ất Hợi, Tân Mão, Tân Mão (tháng 2: từ 11 giờ 40 đêm, theo âm lịch mới tính là ngày hôm sau nên vẫn thuộc giờ Bính Tý của ngày Ất Hợi 17/2).

Theo CHỨNG MINH THƯ thì chị sinh ngày 30/01/1953. Do không nắm rõ nguyên lý tính lịch nên gia đình đinh ninh chị tuổi Quý Tị. Thực ra, do sự “chồng lấn” giữa hai loại lịch nên năm Quý Tị bắt đầu từ thứ Bẩy ngày 14/02/1953 (Bính Thân, Giáp Dần, Quý Tị) và kết thúc vào thứ Ba ngày 02/02/1954 (29 tháng Chạp tức Kỷ Sửu, Ất Sửu, Quý Tị). Do vậy ngày 30/01/1953 vẫn là năm Nhâm Thìn (từ ngày 27/01/1952 đến ngày 13/02/1953) và đó là ngày 17 tháng Chạp âm (có Bát tự là : xx, Nhâm Ngọ, Quý Sửu, Nhâm Thìn), tức chị tuổi Thìn, 59 tuổi!

Nếu chị tuổi Tị và ngày sinh là ngày âm lịch thì vô lý bởi năm Quý Tị vào tháng Giêng không có ngày 30, ngày cuối tháng là ngày 29 tháng Giêng, tức 14/3/1953 (có Bát tự là: xx, Giáp Tý, Giáp Dần, Quý Tị) và vào thứ Bẩy.

Ngay cả “thầy” Bùi Văn Thiếc cũng lấy tuổi Quý Tị để xem giờ, chọn ngày cho tang lễ! Rõ ràng như vậy là tính cho “vong” đẻ trước chị tôi 1 tuổi nhưng để anh và các cháu khỏi lo, tôi không phân tích rõ “cơ sở khoa học” của phép làm lịch và xem ngày như đã nói ở trên tức là giữ nguyên kết quả gia đình đưa.

Trường hợp chị tôi gia đình và thầy đổi một cách “máy móc” lại đúng tuổi 59 chị tôi khi mất.

4. 2. Còn trường hợp chú Lê Hồng Phát hàng xóm cạnh nhà tôi lại khác. Chú mất ngày 10 tháng 6  năm 2014 tức là ngày 13 tháng 5 năm Giáp Ngọ. Hồ sơ ghi chú sinh ngày 23/01/1965, tức là ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thìn tức khi mất chú 50 tuổi (âm). Nhưng cơ quan và trong gia đình có một số người biết một tí bảo đầu năm 1965 vẫn là năm “1964 âm” nên chú đã 51 tuổi!

Thực ra không hề “năm 1964 âm” và tuổi (âm lịch) = Năm hiện tại (DL) - Năm sinh (DL) + 1.

5. Năm nay Dương lịch là 2026 (MMXXVI) đã sang lâu rồi nhưng Âm lịch (nhuận 2 tháng 6, nên Lập xuân trong năm là 17/Chạp) vẫn là Ất Tỵ đến  17/02 mới sang Bính Ngọ (và nó kéo tới năm 2027, ngày 05/02).

-Lương Đức Mến, BS từ nhiều nguồn TK-  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!