1. Nhu cầu cuộc sống đặt ra cho con
người cần phân biệt những gì thuộc về quá khứ, những gì đang diễn ra và những gì sẽ diễn ra tiếp theo. Từ đó hình thành nên khái niệm Thời gian 時間
. ‘
Để nhận thức thời gian, qua tích lũy kinh nghiệm cổ nhân từ khái
niệm ngày (日, có mặt trời), đêm (夜,
không có ánh mặt trời) ban đầu dần đến nhận xét đêm có trăng, đêm không trăng (Sóc, 朔, New Moons), trăng tròn (Vọng, 望) trăng khuyết hình thành nên khái niệm tháng 月. Nhiều ngày, tháng chung một đặc trưng thời tiết hình thành nên mùa. Các mùa tuân theo một quy
luật nhất định và vòng đó gọi là năm (Niên, 年). Chính quá trình giao tiếp, sự phát triển của xã hội đặt ra yêu cầu phân chia thời gian.
2. Hệ thống đặt tên cho các chu kỳ thời gian,
thông thường là theo các ngày được gọi là lịch
曆. .
Cách tính lịch gọi là Lịch pháp 曆法 gắn liền với
thiên văn, với chiêm tinh học, là sản phẩm quan trọng mà các nền văn minh cổ
của Trung Hoa, Ai Cập, Babilon, Hy Lạp đã đạt được. Quyển sách ghi lại lịch,
đếm ngày, để ghi chép công việc, để tính toán sự biến chuyển của các mùa gọi là
Lịch
thư (H: 曆書, A: Almanac, P:Almanach), tức sách lịch,
niên giám. Vậy: Lịch là một hệ thống tổ chức, ghi chép thời
gian theo cách thuận tiện cho việc điều tiết cuộc sống dân sự, các lễ nghi tôn
giáo cũng như cho các mục đích lịch sử và khoa học. Nói một cách dễ hiểu: “Lịch”
là phép quy định những khoảng thời gian, mà hiện nay ta thường biết đến là các
từ: Khi cần chia nhỏ đơn vị thời
gian dưới ngày người ta chia ra giờ, phút, giây... trên năm hợp thành Giáp, Hội giáp, Thập kỉ, Thế kỉ, Thiên niên kỉ.
3.Lịch sử từng có nhiều phép
làm lịch. Thông dụng nhất hiện nay là:
3.1. Năm Dương lịch (陽曆, The sun calendar/Le calendrier solaire) được gọi tên bằng số đo dạng tuyến tính (線性關係, linear) biểu diễn được trên trục số, không bao
giờ lặp lại. Do vậy nhân loại sẽ không còn được gặp năm dương lịch (Lịch Gregorius
được dùng từ 15/10/1582) mang tên 2026! Phép tính lịch nầy dựa vào chu kỳ mặt
Trời và mặt Trời 日 thuộc Dương 陽 nên gọi như vậy. Lịch hiện đang sử dụng là lịch Gregory .
3.2. Còn năm
Âm lịch (陰曆, lunar
calendar/ Le calendrier
lunaire) dựa vào chu kỳ mặt Trăng và mặt Trăng 月 thuộc âm 陰 nên gọi như vậy mà thực tế hiện đang dùng là Âm Dương lịch 陰陽曆 được áp
dụng từ thời Minh (明朝,1368 – 1644) và hoàn chỉnh như ngày nay dưới
triều Thanh (清朝, 1644
– 1911) lại đặt tên bởi Can Chi 干支 theo chu kỳ (环状, cyclic) trong Lục thập hoa Giáp 六十花甲 hay “chu kỳ Giáp Tý” 甲子 do đó 60 năm sau nhân loại sẽ gặp lại năm mang tên Ất Tỵ 乙巳!. Lịch âm hiện tại, Âm dương hiệp
lịch (陰陽合歷, Lunisolar
calendar) đã phối hợp năm
có bốn muà 四時: Xuân 春, Hạ 夏, Thu 秋, Đông 冬 và tám tiết
chính 八節 trong 24 tiết khí 節氣 với tháng có trăng tròn, trăng khuyết, đêm không trăng.
4.Âm lịch và
Dương lịch cùng là phép tính đo thời gian và một năm (bình thường) đều gồm 12 tháng nhưng cách tính khác nhau nên có sự “vênh” nhau về đại lượng chỉ thời gian.
Trong đó năm mới Dương lịch bao giờ cũng đến sớm hơn năm mới Âm lịch hơn 1
tháng. Do vậy có sự “chồng lấn” ở tháng 1, 2 năm Dương lịch mới vẫn thuộc năm
Âm lịch cũ. Điều đó dễ nhầm khi quy đổi tuổi dương lịch sang âm lịch và ngược
lại, ngay cả với người gọi là “thầy” nếu đơn giản hóa. Khi đó “xem” sao mà
chính xác được! Ví dụ:
4.1. Chị
dâu họ tôi là Nguyễn Thị Đê, sau một đợt ốm dài (Xơ gan cổ trướng) đã mất hồi 23 giờ 25 phút ngày 21/3/2011 tức đêm
thứ Hai ngày 17/02 âm lịch tại nhà riêng ở thôn Soi Chát xã Sơn Hải. Tứ trụ tử
là Bính Tý, Ất Hợi, Tân Mão, Tân Mão (tháng
2: từ 11 giờ 40 đêm, theo âm lịch mới tính là ngày hôm sau nên vẫn thuộc giờ
Bính Tý của ngày Ất Hợi 17/2).
Theo CHỨNG
MINH THƯ thì chị sinh ngày 30/01/1953. Do không nắm rõ nguyên lý tính lịch nên
gia đình đinh ninh chị tuổi Quý Tị. Thực ra, do sự “chồng lấn” giữa hai loại
lịch nên năm Quý Tị bắt đầu từ thứ Bẩy ngày 14/02/1953 (Bính Thân, Giáp Dần, Quý Tị) và kết thúc vào thứ Ba ngày 02/02/1954
(29 tháng Chạp tức Kỷ Sửu, Ất Sửu, Quý Tị).
Do vậy ngày 30/01/1953 vẫn là năm Nhâm Thìn (từ ngày 27/01/1952 đến ngày 13/02/1953) và đó là ngày 17 tháng Chạp
âm (có Bát tự là : xx, Nhâm Ngọ, Quý Sửu,
Nhâm Thìn), tức chị tuổi Thìn, 59 tuổi!
Nếu chị tuổi
Tị và ngày sinh là ngày âm lịch thì vô lý bởi năm Quý Tị vào tháng Giêng không
có ngày 30, ngày cuối tháng là ngày 29 tháng Giêng, tức 14/3/1953 (có Bát tự
là: xx, Giáp Tý, Giáp Dần, Quý Tị) và vào thứ Bẩy.
Ngay cả “thầy”
Bùi Văn Thiếc cũng lấy tuổi Quý Tị để xem giờ, chọn ngày cho tang lễ! Rõ ràng
như vậy là tính cho “vong” đẻ trước chị tôi 1 tuổi nhưng để anh và các cháu
khỏi lo, tôi không phân tích rõ “cơ sở khoa học” của phép làm lịch và xem ngày
như đã nói ở trên tức là giữ nguyên kết quả gia đình đưa.
Trường hợp chị
tôi gia đình và thầy đổi một cách “máy móc” lại đúng tuổi 59 chị tôi khi mất.
4. 2. Còn
trường hợp chú Lê Hồng Phát hàng xóm cạnh nhà tôi lại khác. Chú
mất ngày 10 tháng 6 năm 2014 tức là ngày
13 tháng 5 năm Giáp Ngọ. Hồ sơ ghi chú sinh ngày 23/01/1965, tức là ngày 21
tháng Chạp năm Giáp Thìn tức khi mất chú 50 tuổi (âm). Nhưng cơ quan và trong gia đình có một số người biết một tí
bảo đầu năm 1965 vẫn là năm “1964 âm” nên chú đã 51 tuổi!
Thực ra không
hề “năm 1964 âm” và tuổi (âm lịch) = Năm hiện tại (DL) - Năm sinh (DL) + 1.
5. Năm nay Dương lịch là 2026 (MMXXVI) đã sang lâu rồi nhưng Âm
lịch (nhuận 2 tháng 6, nên Lập xuân trong
năm là 17/Chạp) vẫn là Ất Tỵ đến 17/02 mới sang Bính Ngọ (và nó kéo tới năm 2027, ngày 05/02).
-Lương Đức Mến, BS từ nhiều nguồn
TK-



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!