[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


09 tháng 1 2026

Sắp Tết Bính Ngọ, tìm hiểu thêm về CON NGỰA và chữ này

 1. Năm 2026 âm lịch: gọi như vậy là không chính xác bởi 2 cách tính lịch khác nhau với tên gọi khác nhau: Dương lịch là tuyến tính gọi tên theo con số không lặp lại (nên mới có năm 2026) còn Âm lịch tính theo Chu kỳ 60 năm, đặt tên theo Can Chi 干支 với Thập Can 天干地支 (là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý), Thập Nhị Địa Chi 十干十二支 (là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) nên mới có Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi,.... Nhưng quen rồi và nhiều người, ối sách báo gọi thế, cứ theo vậy (gọi năm Âm kế sau năm nay là năm 2026 âm).

Thực ra, năm 2026 (MMXXVI) Âm lịch chính xác là năm Bính Ngọ 丙午, là kết hợp thứ 43 trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam và một số quốc gia khác ngoài vùng) tiếp ngay sau Ất Tỵ 乙巳 2025 nhưng lại ở trước Đinh Mùi 丁未 2027; Nó được kết hợp từ thiên can 天干 Bính (Hỏa dương) và địa chi 地支 Ngọ (Hỏa âm) và được bắt đầu bằng ngày 17 tháng 2 năm 2026 kết thúc vào ngày 05 tháng 2 năm 2027.

Trong truyền thống, năm Bính Ngọ này thuộc nhóm tứ hành xung Tý – Ngọ – Mão – Dậu; có mệnh Thủy, mang nạp âm Thiên Hà Thủy, thường được diễn giải là “nước trên trời”.

Xét theo hệ thống tam hợp, tuổi Ngọ nằm trong bộ Dần – Ngọ – Tuất, vì vậy người sinh năm 2026 thường được cho là dễ hòa hợp với tuổi Dần và tuổi Tuất. Ngoài ra, Ngọ còn thuộc nhóm nhị hợp với tuổi Mùi, nên Mùi cũng được xem là tuổi phù hợp để kết giao, hợp tác hay xây dựng quan hệ bền vững.

Xét về ngũ hành, Bính Ngọ thuộc mệnh Thủy. Theo nguyên lý tương sinh, Kim sinh Thủy và Thủy sinh Mộc, vì vậy những người thuộc mệnh Kim và Mộc thường được cho là dễ tạo sự hỗ trợ lẫn nhau khi kết hợp với mệnh Thủy.

2.  Năm Ngọ không phải là Ngựa

“Ngọ” Hán tự 漢字 ghi bằng chữ , không có nghĩa là “Ngựa”, Ngựa chữ Nho là Mã . Nhưng vì sao ta dịch “Ngọ” là “Ngựa” thì bởi mấy lý do sau:

- Trong 12 con Giáp (Thập Nhị Địa chi): năm NGỌ cầm tinh con NGỰA; Cũng như Tí - Chuột (Thử ), Sửu - Trâu (Ngưu ), Dần - Hổ (Hổ ), Mão - Mèo (Miêu  ), Thìn- Rồng (Long  ), Tị - Rắn ( ), Mùi- Dê (Dương ), Thân - Khỉ (Hầu ), Dậu - Gà ( ), Tuất - Chó (Cẩu ), Hợi - Lợn (Trư ).

- Về Âm Dương Ngũ hành: Bính Đinh là Hỏa 火 (Bính dương, Đinh âm), hướng Nam 南 (hướng 6 gi) mà Ngọ (dương) cũng hướng Nam nên Bính Ngọ là con Ngựa Lửa.

Tương tự như vầy, dân gian gọi tháng Âm lịch là Ngọ Nguyệt 午月, giờ Ngọ là giữa trưa, chính Ngọ 正午 khi mặt trời lên cao nhất, bóng ngắn nhất, “Ngọ Dạ” 午夜 là “Nửa đêm” và: Ngọ Môn 午門 là cửa chính quay mặt về hướng Nam, Ngọ Thiện 午膳 là bửa ăn trưa bình thường của tất cả mọi người, Ngọ Trai 午齋 là bửa ăn chay duy nhất trong ngày vào buổi trưa của những người tu theo đạo Phật, Thượng Ngọ 上午 là trước giờ ngọ tức “Buổi Sáng” Am, Hạ Ngọ 下午 là sau giờ ngọ tức “Buổi Chiều” Pm, Đoan Ngọ 端午 hay Tết Đoan Dương 端陽節 là ngày Mùng 5 tháng năm Âm lịch.

3. Ngựa với đời sống con người:

Đó là con vật ăn cỏ, với tính không hung dữ. Được con người thuần hóa sớm chỉ sau con chó, đứng đầu trong Lục Súc (6 con vật được nuôi dưỡng ở trong nhà) là Ngựa, Trâu, Dê, Gà, Lợn, Chó mà nơi thích hợp nhất là vùng thảo nguyên. Về tập tính, khi ngủ luôn đứng! Ngựa cực khỏe và nhất là dẻo dai, bền bỉ cho nên từ cổ xưa con người đã dùng để thồ, kéo xe,...và ngay khi chế tạo ra động cơ người ta vẫn lấy mã lực 馬力 để làm đơn vị đo công suất.

 Ngựa lại rất được đắc dụng trong quân đội từ lâu, bất cứ là quân đội của nước nào đều có đội Kỵ binh 騎兵 (ở ta LLCA hiện nay cũng có kỵ binh). Trong quá khứ từng nổi tiếng đội Thiết Kỵ 鐵騎 của Đại Mông Cổ Quốc Монголын эзэнт гүрэн hồi Thế Kỷ XIII. Chính nhờ tài Cưỡi ngựa, Bắn cung mà họ đã chinh phục từ Âu sang Á, duy chỉ đại bại tại Đại Việt 大越 tới ba lần  (1258, 1285, 1288) đến nỗi phải bỏ hẳn mộng xâm lăng.

Dân gian thường gắn “ngựa” với bản tính tốt đẹp hay xấu xa của con người. Ví dụ “Đầu trâu mặt ngựa”, do mặt ngựa dài trông không đẹp. “Ngựa non háu đá” chỉ tính khí háo thắng hay đối chọi không biết lượng sức mình. “Ngựa bất kham” những con tính khí bất thường bất tuân lệnh hay không có dây cương… “Mồm chó vó ngựa” nói được sức mạnh của ngựa. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” chỉ ưu điểm “bầy đàn”; “Thẳng ruột ngựa” chỉ người thẳng tính, có sao nói vậy, không có ác tâm! Câu “chớ mó/sờ dái ngựa” khuyên người không nên đụng vào chỗ/nơi nhậy cảm!...

Câu “Kiếp ngựa trâu” gắn liền với sự lao động cực nhọc, địa vị thấp hèn, thường được dùng trong dân gian để chỉ thân phận nô lệ, bị áp bức.

4. Một vài thành ngữ gắn với con Ngựa:

“Da Ngựa Bọc Thây” gắn với câu “Mã cách quả thi” 馬革裹屍, “Ngựa Quen Đường Cũ” cũng gắn với câu “Lão Mã thức đồ” 老馬識途, “Tái ông mất Ngựa” gắn với câu “Tái ông thất Mã”  塞翁失馬 “Cưỡi Ngựa xem hoa” gắn với câu “Tẩu Mã qua Hoa” 走馬觀花  trong Hán ngữ.

 Có một thành ngữ mà cả Hán và Việt đều sử dụng là “Thiên Quân vạn Mã” 千軍萬馬 hay “Chiêu Binh mãi Mã” 招兵買馬 mà trong Văn Thơ Việt cổ chả cần “Nôm hóa” nhưng ai cũng hiểu đủ, hiểu đúng.

 Ngoài ra, còn có rất nhiều thành ngữ có liên quan đến Ngựa được sử dụng trong văn chương. Ví dụ: Mã đáo thành công 馬到成功; Đơn thương độc mã 單槍獨馬; Ngưu đầu mã diện 牛頭馬面; Thanh mai trúc mã青梅竹馬; Trường đồ tri mã lực 長途知馬力; Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã 牛尋牛,馬尋馬; Nhất ngôn ký xuất, Tứ mã nan truy...  一言既出,駟馬難追... Đầu trâu mặt ngựa.

5. Hình ảnh con Ngựa trong Thơ văn cổ:

  Trong “Cổ thi thập cửu thủ” 古詩十九首 tức 19 bài thơ Khuyết danh xuất hiện cuối đời Đông Hán (東漢, 25 – 220) giả phong cách thơ Lý Lăng (李陵, ? – 74 tCn) và Tô Vũ (蘇武, 140 tCn-87tCn), là thơ ngũ ngôn với thành tựu nghệ thuật lớn phản ánh xã hội loạn lạc trước những năm Kiến An(建安, 196—220hình bóng của người cô phụ vọng phu, của những lãng tử giang hồ lưu lạc tha phương luôn nhớ về quê hương cố thổ. Trong đó có một vế liên quan đến “mã” là: 胡馬依北風 (Hồ mã y bắc phong, 越鳥巢南枝 (Việt điểu sào Nam chi). Được dịch nghĩa là: “Ngựa đất Hồ luôn nương theo gió bắc, Chim đất Việt thì cũng luôn chọn cành hướng nam mà làm tổ”.

  Hồ Mã tê Bắc phong (Ngựa Hồ hí gió bấc), Việt điểu sào Nam chi (Chim Việt đậu cành Nam)”, nghĩa là: Ngựa đất Hồ (phía bắc Vạn lí trường thành) vào miền Trung nguyên thấy gió Bắc thổi thì hí lên; chim đất Việt vào miền Trung nguyên vãn làm tổ ở cành phía Nam (từ sự tích đời Hùng Vương đem cống phẩm là Bach trĩ sang Tàu được nuôi trong vườn thượng uyển của vua Tàu chỉ tìm cành cây phía Nam mà đậu). Thơ văn của ông cha ta hay nhắc đến điển tích này, ví như: ca dao có câu: “Bây giờ kẻ Bắc người Nam, Ngựa Hồ Chim Việt biết làm sao đây ?!” Còn trong Hoa Tiên 花箋 Truyện của Nguyễn Huy Tự  (阮輝嗣, 1743-1790) thì có câu : “Người nhìn kẻ lại trông theo, Ngựa Hồ Chim Việt nhiều điều nhớ nhau”. Sau này, Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam với ý ấy!

Lại có câu: “Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn” ý nói cần phải có bạn bè, có bạn, sống cùng tập thể tương tự câu “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”/ “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” nói lên một cách sâu sắc một vấn đề về đạo lý con người: cần tương thân tương ái, chia sẻ hoạn nạn hay câu “Ngựa hay lắm tật” Ám chỉ người có khả năng trí tuệ đặc biệt xuất sắc, thường có khuyết tật hay thói xấu, không có gì hoàn hảo được hoặc câu: “Ngựa hươu thay đổi” Đổi trắng thay đen để dò lòng người; “Ngựa le te cũng đến bến Giang, Voi đủng đỉnh cũng sang qua đò” khuyên con người không nên vội vàng hấp tấp, rồi đâu sẽ vào đấy; “Ngựa lồng cóc cũng lồng” Chỉ sự đua đòi bắt chước một cách lố bịch kệch cỡm’ “Ngựa nào gác được hai yên” Cái gì cũng có giới hạn và mức độ của nó; “Ngựa non háu đá” Chỉ kẻ trẻ tuổi non nớt nhưng hung hăng, ham đối chọi, hay khiêu khích; “Ngựa quen đường cũ” nhắc chuyện Tề Hoàn Công (齊桓公,715 tCn - 643 tCn) đi đánh nước Cô Trúc (孤竹, 1600 tCn- 6645 tCn) thời Xuân Thu (春秋时代, 771 tCn - 476 tCn): Khi đi là mùa Xuân, lúc về là mùa Đông, băng tuyết phủ đầy nhưng Ngựa già vẫn tìm thấy lối về nói về thói ngoan cố, chứng nào tật ấy, không chịu sửa chữa khuyết điểm; “Ngựa chẳng cưỡi, cưỡi bò” hàm ý chê người làm khác đời, để tự gây cho mình những khó khăn; “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” Nhằm đúc kết một kinh nghiệm trong cuộc sống có giá trị như là một chân lý về quan hệ giữa người với người: người tốt sẽ tìm đến người tốt để làm bạn thân. Cũng như vậy kẻ xấu sẽ tìm gặp kẻ xấu để kết bè kéo cánh, cùng hội cùng thuyền với nhau; Câu “Đơn thương độc mã” chỉ sự đơn độc, lẻ loi trong khi chiến đấu với khó khăn nguy hiểm, không có sự hỗ trợ của người khác;....

6. Một số điển tích hay gắn với con ngựa

6.1. Cầu xe ngựa: Tư Mã Tương Như (司馬相如, 179 tCn - 117 tCn) người đời Hán (西漢,206 tCn-83) khi còn hàn vi đi qua cái cầu ở phía Tây Trường An 長安, ghi một hàng chữ: “高車四馬不服過此橋” “Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều” (Không ngồi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này nữa).  Về sau câu này chỉ quyết tâm mưu cầu sự vinh hiển.

6.2. Con ngựa thành Troa: Theo thần thoại Hy Lạp, quân Hy Lạp muốn chiếm thành đã dùng một con ngựa gỗ, trong bụng có chứa rất nhiều quân mai phục, rồi đánh lừa quân thành Troa đưa vào thành. Đêm đến, quân Hy Lạp từ trong bụng ngựa chui ra mở cửa thành, đốt lửa làm ám hiệu cho đại quân mở cửa vào thành. Thành Troa bị hạ. Sau này, điển tích đó chỉ một việc làm có nội ứng, hay một bề ngoài đẹp đẽ nhưng bên trong chứa đầy âm mưu.

6.3. “Cưỡi lên Pêgaxơ” hoặc “Thắng yên cương vào Pêgaxơ”: Cũng theo thần thoại Hy Lạp, Pêgaxơ là con ngựa có cánh do ác quỷ Mêđuxa sinh ra. Pêgaxơ thường xuống ngọn núi Hêlicôn, ngọn núi của các nàng Muxa (các nữ thần nghệ thuật) và uống nước ở suối Híppôcren. Con suối mà theo người xưa kể: Các nhà thơ thường đến du ngoạn. Cưỡi lên ngựa Pêgaxơ hoặc Thắng yên cương vào Pêgaxơ là để chỉ cảm hứng sáng tác thơ ca nghệ thuật. Con ngựa Pêgaxơ bất kham: để chỉ một nhà thơ tồi.

6.4. Ngựa tái ông: Có một ông già mất con ngựa, người ta đến chia buồn, ông bảo: Chưa chắc đã là điều không hay. Ít lâu sau con ngựa trở về lại dắt theo một con ngựa khác. Người ta đến mừng, ông bảo: Chưa chắc đã là điều hay. Quả nhiên, con trai ông tập phi ngựa bị ngã què chân. Người ta lại đến hỏi thăm, ông bảo: chưa chắc đã là điều bất hạnh. Một thời gian sau có chiến tranh, thanh niên trai tráng phải ra trận, riêng con ông được ở nhà vì què chân. Từ đấy điển tích này chỉ họa phúc khôn lường, được không nên mừng, mất không nên lo.

6.5. Da ngựa bọc thây: Theo Hậu Hán thư 後漢書 Mã Viện (馬援, 14 tCn-49) đã trả lời với một người bạn khi được Hán Quang Vũ (漢光武帝,5 tCn –  57) cử sang Giao Chỉ 交趾 đánh dẹp Trưng Trắc ( 徵側, ? - 43) và Trưng Nhị (徵貳, ? - 43) như sau: 男兒要當死於邊野,以馬革裹屍還葬耳,何能臥床上在兒女子手中邪! (nam nhi yếu đương tử ư biên dã, dĩ mã cách khỏa thi hoàn táng nhĩ, hà năng ngọa sàng thượng tại nhi nữ tử thủ trung tà!) dịch là “Đại trượng phu nên chết ở nơi biên giới, chốn chiến trường, lấy da ngựa bọc thây mà chôn, chứ sao lại có thể nằm trên giường, trong tay bọn đàn bà, trẻ con mà được ư?” ý nói về chí khí của kẻ làm trai

6.6. Ngựa trắng có cánh: Trong thần thoại Hy Lạp, hình ảnh con ngựa trắng có cánh và biết bay, tượng trưng cho cảm hứng trong sáng tạo và thi ca.

6.7. Lên xe xuống ngựa: biểu tượng cho sự thay thế tân tiến đó và dần dần còn là biểu tượng cho sự xung mãn của từng tầng lớp trên khá giả, thường là tầng lớp thống trị chuyên “ăn trắng mặc trơn, lên xe xuống ngựa”

6.8. Vành móng ngựa: là biểu tượng cho tòa án nói riêng và cho pháp luật nói chung. Do đó, khi nói trước vành móng ngựa cũng có nghĩa là trước tòa án, trước pháp luật.

6.9. Cưỡi ngựa xem hoa: có nghĩa là qua loa, đại khái, không tìm hiểu kĩ.

 7. Chữ Mã, Ngựa trong Truyện Kiều:

7.1. MÃ một Họ trong Bách Gia Tính 百家姓 (trong câu Lỗ, Vi, Xương, 魯韋昌馬) được soạn vào đầu thời Tống (宋朝, 960-1279); là Họ đứng thứ 52 và là một trong các họ phổ biến nhất ở Trung Quốc (số người mang họ Mã đông thứ 14 ở đây, đặc biệt phổ biến trong cộng đồng người Hồi).

 Lịch sử có thể kể đến danh tướng Mã Viện (馬援, 14-49 tCn) đời Hán (, 202 tCn – 9; 25 – 220) thời Hán Quang Vũ đế (漢光武帝, 5 tCn-57) gần đây có Mã Hưng Thụy (馬興瑞, Sinh năm 1959), là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông...; Trong Văn chương có Mã Văn Tài 馬文才... được nhắc kế trong truyền thuyết Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài 梁山伯与祝英台 của Dân gian Trung Hoa, tương tự câu chuyện tình yêu Romeo và Juliet của nước Anh..

Trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du nhiều nhân vật mang họ này: Đầu tiên phải nói đến chàng Giám sinh được nhắc đến trong câu  625: 𠳨𠸜浪馬監生 (Hỏi tên rằng : Mã Giám Sinh,) rồi một nàng họ Mã nữa xuất hiện ở câu 1151: 排肩固妸馬嬌(Bày vai có ả Mã Kiều,) và câu 1156: 馬嬌吏𠼯𦋦: 𠳒 (Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời) có hẳn dòng họ chép ở câu 685: 𠃅馬皮𢀨 (Mái ngoài họ Mã vừa sang).

7.2. Điểm lại một số những câu thơ có liên quan đến “Ngựa” trong Truyện Kiều, đầu tiên là tại Tiết Thanh Minh, ngay khổ đầu tại câu 48 với 馭車如渃襖裙如揇 (Ngựa xe như nước, áo quần như nêm)...

Rồi sự xuất hiện một cách hào hoa phong nhã của Kim Trọng ở câu 139 雪印色馭駒𤶐 (Tuyết in sắc ngựa câu giòn).

   Thực ra, tại câu 72 Vương Quan đã kể: 𨁪車馭𦼔𥊚(Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh) và khi Thúy Kiều vẫn phải chia tay với Kim Trọng tại câu 142 客陀𨑜馭細尼敘情 (Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình) để rồi lưu luyến tại câu 168 客它𨖲𠊚𥊘(Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo).

Cũng nói về “Ngựa” nhưng câu 578 thì lại khác, ở đây cụ Nguyễn dùng thành ngữ “Đầu trâu mặt ngựa” (dịch thoát ý câu “Ngưu đầu Mã diện” 牛頭馬面)  để chỉ đám “Sai nha” đến bắt, khám nhà Kiều ông: 𩈘馭泑泑如(Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi) trong cảnh Gia đình Thúy Kiều gặp biến cố.

 Nhưng chính cụ Nguyễn Tiên Điền rất trân trọng tả con “ngựa” khi thuật câu trả nhời của Sở Khanh sẽ dùng để giải cứu cho mình khi Thúy Kiều hỏi ở câu 1107: 浪些固馭迨 (Rằng ta có Ngựa Truy phong,)  nhưng sau đó thì lột tả rõ bản tính họ Mã trong câu 1118 双双馭畧馭𡢐双双馭畧馭𡢐  (Song song Ngựa trước, Ngựa sau một đoàn).  

Dù sau đó chính Cụ đã ca ngợi phương tiện giao thông này, coi con ngựa là hình tượng của sự chia tay, khi Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư ở câu 1519: 𠊛蓮馭几支袍 (Người lên Ngựa, kẻ chia bào). Nhưng rồi cũng chính Cụ đã lớn tiếng tố cáo  phương tiện hành hung đã giúp cho Khuyển Ưng bắt cóc Thúy Kiều ở câu 1647: 𧿆𣦍𨖲馭卽時  (Dảy ngay lên ngựa tức thì,) song lại ngợi ca hình ảnh hào hùng, dứt bỏ nhi nữ thường tình của Từ Hải, người đi mưu đồ việc lớn tại câu 2215: 青鎌鞍馭𨖲𥊢𢫝 (Thanh Gươm, yên Ngựa lên đàng thẳng dong) rồi khi họ Từ rước Kiều về dinh tại câu 2272: 徐公𠚢馭親迎𨷶(Từ Công ra Ngựa thân nghinh cửa ngoài.). Từ “ngựa” còn được Cụ Nguyễn dùng lại ở đoạn cuối truyện trong câu 2951 khi tả 2 nhà Kim, Vương đi nhậm trị: 懺生車馭倍鐄 (Sắm xanh xe ngựa vội vàng,).

Chuyện về “ngựa” và “con ngựa” trong cái têt Ngọ này còn dài nhưng tạm khép lại đây, chúc mọi người, mọi chuyện “Mã đáo thành công”, “Tài lộc tăng tốc như mã lực”, “Chúc mừng Năm Ngọ, năm của những bước tiến vững vàng, tài lộc như suối chảy, gia đình hạnh phúc” trong năm Bính Ngọ 2026.

- Lương Đức Mến

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!