1. Năm 2026 âm lịch: gọi như vậy là không chính xác bởi 2 cách tính lịch khác nhau với tên gọi
khác nhau: Dương lịch là tuyến tính gọi tên theo con số không lặp lại (nên mới có năm 2026) còn Âm lịch tính
theo Chu kỳ 60 năm, đặt tên theo Can Chi 干支 với Thập Can 天干地支 (là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân,
Nhâm, Quý), Thập Nhị Địa Chi 十干十二支 (là: Tý, Sửu, Dần,
Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) nên mới có Ất Tỵ, Bính Ngọ,
Đinh Mùi,.... Nhưng quen rồi và nhiều người, ối sách báo gọi thế, cứ theo vậy (gọi năm Âm kế sau năm nay là năm 2026 âm).
Thực ra, năm 2026 (MMXXVI) Âm lịch chính xác là năm Bính Ngọ
丙午, là kết hợp thứ 43 trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông (Trung
Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam và một số quốc gia khác ngoài
vùng) tiếp ngay sau Ất Tỵ 乙巳
2025
nhưng lại ở trước Đinh
Mùi 丁未 2027; Nó được kết hợp
từ thiên can 天干 Bính (Hỏa dương) và địa chi 地支 Ngọ (Hỏa âm) và được bắt đầu bằng ngày 17
tháng 2 năm 2026 kết thúc vào ngày 05 tháng 2 năm 2027.
Trong truyền thống, năm Bính Ngọ này thuộc
nhóm tứ hành xung Tý – Ngọ – Mão – Dậu; có mệnh Thủy, mang nạp âm Thiên Hà Thủy,
thường được diễn giải là “nước trên trời”.
Xét theo hệ thống tam hợp, tuổi Ngọ nằm trong
bộ Dần – Ngọ – Tuất, vì vậy người sinh năm 2026 thường được cho là dễ hòa hợp với
tuổi Dần và tuổi Tuất. Ngoài ra, Ngọ còn thuộc nhóm nhị hợp với tuổi Mùi, nên
Mùi cũng được xem là tuổi phù hợp để kết giao, hợp tác hay xây dựng quan hệ bền
vững.
Xét về ngũ hành, Bính Ngọ thuộc mệnh Thủy.
Theo nguyên lý tương sinh, Kim sinh Thủy và Thủy sinh Mộc, vì vậy những người
thuộc mệnh Kim và Mộc thường được cho là dễ tạo sự hỗ trợ lẫn nhau khi kết hợp
với mệnh Thủy.
2. Năm Ngọ không phải là Ngựa
“Ngọ” Hán tự 漢字
ghi
bằng chữ 午, không có nghĩa là “Ngựa”, Ngựa
chữ Nho là Mã 馬. Nhưng vì sao ta dịch “Ngọ” là “Ngựa”
thì bởi mấy lý do sau:
- Trong 12 con Giáp (Thập
Nhị Địa chi): năm NGỌ cầm tinh con NGỰA; Cũng như Tí - Chuột (Thử 鼠), Sửu - Trâu (Ngưu 牛), Dần - Hổ (Hổ 乕 ), Mão - Mèo (Miêu 猫), Thìn- Rồng (Long
龍), Tị - Rắn (Xà 蛇), Mùi- Dê (Dương 羊), Thân - Khỉ (Hầu 猴), Dậu - Gà (Kê 雞), Tuất - Chó (Cẩu 狗), Hợi - Lợn (Trư 豬).
- Về Âm Dương Ngũ hành: Bính Đinh 丙丁là Hỏa 火 (Bính
dương, Đinh âm), hướng Nam 南 (hướng 6 giờ) mà Ngọ (dương) cũng hướng Nam nên Bính Ngọ là
con Ngựa Lửa.
Tương tự như vầy, dân gian gọi tháng Âm lịch là Ngọ Nguyệt 午月, giờ Ngọ là
giữa trưa, chính Ngọ 正午
khi
mặt trời lên cao nhất, bóng ngắn nhất, “Ngọ Dạ” 午夜 là “Nửa đêm” và: Ngọ Môn 午門 là cửa chính quay mặt về hướng Nam, Ngọ Thiện 午膳 là bửa ăn
trưa bình thường của tất cả mọi người, Ngọ Trai 午齋 là bửa ăn chay duy nhất trong ngày vào buổi trưa của những
người tu theo đạo Phật, Thượng Ngọ 上午 là trước giờ ngọ tức “Buổi Sáng” Am, Hạ Ngọ 下午 là sau giờ ngọ
tức “Buổi Chiều” Pm, Đoan Ngọ 端午 hay Tết Đoan Dương 端陽節 là ngày Mùng 5 tháng năm Âm lịch.
3. Ngựa với đời
sống con người:
Đó là con vật ăn cỏ, với tính không hung dữ. Được con người thuần
hóa sớm chỉ sau con chó, đứng đầu trong Lục Súc (6 con vật được nuôi dưỡng ở trong nhà) là Ngựa, Trâu, Dê, Gà, Lợn,
Chó mà nơi thích hợp nhất là vùng thảo nguyên. Về tập tính, khi ngủ luôn đứng!
Ngựa cực khỏe và nhất là dẻo dai, bền bỉ cho nên từ cổ xưa con người đã dùng để
thồ, kéo xe,...và ngay khi chế tạo ra động cơ người ta vẫn lấy mã lực 馬力 để làm đơn vị đo công suất.
Ngựa lại rất được đắc dụng
trong quân đội từ lâu, bất cứ là quân đội của nước nào đều có đội Kỵ binh 騎兵 (ở ta LLCA hiện nay cũng có kỵ binh). Trong quá khứ từng nổi tiếng
đội Thiết Kỵ 鐵騎 của Đại Mông
Cổ Quốc Монголын эзэнт гүрэн hồi Thế Kỷ XIII. Chính nhờ tài Cưỡi ngựa, Bắn cung
mà họ đã chinh phục từ Âu sang Á, duy chỉ đại bại tại Đại Việt 大越 tới ba lần (1258,
1285, 1288) đến nỗi phải bỏ hẳn mộng xâm lăng.
Dân gian thường gắn “ngựa” với bản tính tốt đẹp hay xấu xa của
con người. Ví dụ “Đầu trâu mặt ngựa”, do mặt ngựa dài trông không đẹp. “Ngựa
non háu đá” chỉ tính khí háo thắng hay đối chọi không biết lượng sức mình. “Ngựa
bất kham” những con tính khí bất thường bất tuân lệnh hay không có dây cương… “Mồm
chó vó ngựa” nói được sức mạnh của ngựa. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” chỉ
ưu điểm “bầy đàn”; “Thẳng ruột ngựa” chỉ người thẳng tính, có sao nói vậy,
không có ác tâm! Câu “chớ mó/sờ dái ngựa” khuyên người không nên đụng vào chỗ/nơi
nhậy cảm!...
Câu “Kiếp ngựa trâu” gắn liền với sự lao động cực nhọc, địa vị
thấp hèn, thường được dùng trong dân gian để chỉ thân phận nô lệ, bị áp bức.
4. Một vài
thành ngữ gắn với con Ngựa:
“Da Ngựa Bọc Thây” gắn với câu “Mã cách quả thi” 馬革裹屍, “Ngựa Quen Đường
Cũ” cũng gắn với câu “Lão
Mã thức đồ” 老馬識途, “Tái ông mất Ngựa” gắn với câu “Tái
ông thất Mã” 塞翁失馬 “Cưỡi Ngựa
xem hoa” gắn với câu “Tẩu Mã qua Hoa” 走馬觀花 trong Hán ngữ.
Có một thành ngữ mà cả Hán
và Việt đều sử dụng là “Thiên Quân vạn Mã” 千軍萬馬 hay “Chiêu Binh mãi Mã” 招兵買馬 mà trong Văn Thơ Việt cổ chả cần “Nôm hóa” nhưng ai cũng hiểu đủ,
hiểu đúng.
Ngoài ra, còn có rất nhiều
thành ngữ có liên quan đến Ngựa được sử dụng trong văn chương. Ví dụ: Mã đáo
thành công 馬到成功; Đơn thương độc
mã 單槍獨馬; Ngưu đầu mã
diện 牛頭馬面; Thanh mai
trúc mã青梅竹馬; Trường đồ
tri mã lực 長途知馬力; Ngưu tầm
ngưu, mã tầm mã 牛尋牛,馬尋馬; Nhất ngôn ký
xuất, Tứ mã nan truy... 一言既出,駟馬難追... Đầu trâu mặt
ngựa.
5. Hình ảnh
con Ngựa trong Thơ văn cổ:
Trong “Cổ thi thập cửu
thủ” 古詩十九首 tức 19 bài thơ Khuyết danh xuất hiện cuối đời Đông Hán (東漢, 25 – 220) giả
phong cách thơ Lý Lăng (李陵, ? – 74 tCn) và Tô Vũ (蘇武, 140 tCn-87tCn), là thơ ngũ ngôn với
thành tựu nghệ thuật lớn phản ánh xã hội loạn lạc trước những năm Kiến An(建安, 196—220)hình bóng của người cô phụ vọng
phu, của những lãng tử giang hồ lưu lạc tha phương luôn nhớ về quê hương cố thổ.
Trong đó có một vế liên quan đến “mã” là: 胡馬依北風 (Hồ mã y bắc phong, 越鳥巢南枝 (Việt điểu sào
Nam chi). Được dịch nghĩa là: “Ngựa đất Hồ luôn nương theo gió bắc, Chim
đất Việt thì cũng luôn chọn cành hướng nam mà làm tổ”.
Hồ Mã tê Bắc phong (Ngựa Hồ hí gió bấc), Việt điểu sào Nam
chi (Chim Việt đậu cành Nam)”, nghĩa
là: Ngựa đất Hồ (phía bắc Vạn lí trường
thành) vào miền Trung nguyên thấy gió Bắc thổi thì hí lên; chim đất Việt
vào miền Trung nguyên vãn làm tổ ở cành phía Nam (từ sự tích đời Hùng Vương đem cống phẩm là Bach trĩ sang Tàu được nuôi
trong vườn thượng uyển của vua Tàu chỉ tìm
cành cây phía Nam mà đậu). Thơ văn của ông cha ta hay nhắc đến điển tích
này, ví như: ca dao có câu: “Bây giờ kẻ Bắc người Nam, Ngựa Hồ Chim Việt biết
làm sao đây ?!” Còn trong Hoa Tiên 花箋 Truyện của Nguyễn Huy Tự (阮輝嗣, 1743-1790) thì có
câu : “Người nhìn kẻ lại trông theo, Ngựa
Hồ Chim Việt nhiều điều nhớ nhau”. Sau này, Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào
Nam với ý ấy!
Lại có câu: “Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn” ý nói cần phải
có bạn bè, có bạn, sống cùng tập thể tương tự câu “Một con ngựa đau cả tàu
không ăn cỏ”/ “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” nói lên một cách sâu sắc một vấn
đề về đạo lý con người: cần tương thân tương ái, chia sẻ hoạn nạn hay câu “Ngựa
hay lắm tật” Ám chỉ người có khả năng trí tuệ đặc biệt xuất sắc, thường có khuyết
tật hay thói xấu, không có gì hoàn hảo được hoặc câu: “Ngựa hươu thay đổi” Đổi
trắng thay đen để dò lòng người; “Ngựa le te cũng đến bến Giang, Voi đủng đỉnh
cũng sang qua đò” khuyên con người không nên vội vàng hấp tấp, rồi đâu sẽ vào đấy;
“Ngựa lồng cóc cũng lồng” Chỉ sự đua đòi bắt chước một cách lố bịch kệch cỡm’ “Ngựa
nào gác được hai yên” Cái gì cũng có giới hạn và mức độ của nó; “Ngựa non háu
đá” Chỉ kẻ trẻ tuổi non nớt nhưng hung hăng, ham đối chọi, hay khiêu khích; “Ngựa
quen đường cũ” nhắc chuyện Tề Hoàn Công (齊桓公,715 tCn - 643
tCn) đi đánh nước Cô Trúc (孤竹, 1600 tCn- 6645 tCn)
thời Xuân Thu (春秋时代, 771 tCn - 476 tCn): Khi đi là mùa Xuân,
lúc về là mùa Đông, băng tuyết phủ đầy nhưng Ngựa già vẫn tìm thấy lối về nói về
thói ngoan cố, chứng nào tật ấy, không chịu sửa chữa khuyết điểm; “Ngựa chẳng
cưỡi, cưỡi bò” hàm ý chê người làm khác đời, để tự gây cho mình những khó khăn;
“Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” Nhằm đúc kết một kinh nghiệm trong cuộc sống có giá
trị như là một chân lý về quan hệ giữa người với người: người tốt sẽ tìm đến
người tốt để làm bạn thân. Cũng như vậy kẻ xấu sẽ tìm gặp kẻ xấu để kết bè kéo
cánh, cùng hội cùng thuyền với nhau; Câu “Đơn thương độc mã” chỉ sự đơn độc, lẻ
loi trong khi chiến đấu với khó khăn nguy hiểm, không có sự hỗ trợ của người
khác;....
6. Một số điển tích hay
gắn với con ngựa
6.1. Cầu xe ngựa: Tư Mã Tương Như (司馬相如, 179
tCn - 117 tCn) người đời Hán (西漢,206 tCn-83) khi còn hàn
vi đi qua cái cầu ở phía Tây Trường An 長安, ghi một hàng chữ: “不乘高車四馬不服過此橋” “Bất thừa
cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều” (Không
ngồi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này nữa). Về sau câu này chỉ quyết tâm mưu cầu sự vinh
hiển.
6.2. Con ngựa thành Troa: Theo thần thoại Hy Lạp, quân Hy Lạp muốn
chiếm thành đã dùng một con ngựa gỗ, trong bụng có chứa rất nhiều quân mai phục,
rồi đánh lừa quân thành Troa đưa vào thành. Đêm đến, quân Hy Lạp từ trong bụng
ngựa chui ra mở cửa thành, đốt lửa làm ám hiệu cho đại quân mở cửa vào thành.
Thành Troa bị hạ. Sau này, điển tích đó chỉ một việc làm có nội ứng, hay một bề
ngoài đẹp đẽ nhưng bên trong chứa đầy âm mưu.
6.3. “Cưỡi lên Pêgaxơ” hoặc “Thắng yên cương
vào Pêgaxơ”: Cũng theo thần thoại Hy Lạp, Pêgaxơ là con ngựa có cánh do ác quỷ
Mêđuxa sinh ra. Pêgaxơ thường xuống ngọn núi Hêlicôn, ngọn núi của các nàng
Muxa (các nữ thần nghệ thuật) và uống
nước ở suối Híppôcren. Con suối mà theo người xưa kể: Các nhà thơ thường đến du
ngoạn. Cưỡi lên ngựa Pêgaxơ hoặc Thắng yên cương vào Pêgaxơ là để chỉ cảm hứng
sáng tác thơ ca nghệ thuật. Con ngựa Pêgaxơ bất kham: để chỉ một nhà thơ tồi.
6.4. Ngựa tái ông: Có một ông già mất con ngựa, người ta đến chia buồn,
ông bảo: Chưa chắc đã là điều không hay. Ít lâu sau con ngựa trở về lại dắt
theo một con ngựa khác. Người ta đến mừng, ông bảo: Chưa chắc đã là điều hay.
Quả nhiên, con trai ông tập phi ngựa bị ngã què chân. Người ta lại đến hỏi
thăm, ông bảo: chưa chắc đã là điều bất hạnh. Một thời gian sau có chiến tranh,
thanh niên trai tráng phải ra trận, riêng con ông được ở nhà vì què chân. Từ đấy
điển tích này chỉ họa phúc khôn lường, được không nên mừng, mất không nên lo.
6.5. Da ngựa bọc thây: Theo Hậu Hán thư 後漢書 Mã Viện (馬援, 14 tCn-49) đã trả lời với một người bạn khi
được Hán Quang Vũ (漢光武帝,5 tCn – 57) cử sang Giao
Chỉ 交趾 đánh dẹp Trưng Trắc ( 徵側, ? - 43) và Trưng Nhị
(徵貳, ? - 43) như sau: 男兒要當死於邊野,以馬革裹屍還葬耳,何能臥床上在兒女子手中邪! (nam nhi yếu đương tử ư biên dã, dĩ mã cách khỏa
thi hoàn táng nhĩ, hà năng ngọa sàng thượng tại nhi nữ tử thủ trung tà!) dịch
là “Đại trượng phu nên chết ở nơi biên giới, chốn chiến trường, lấy da ngựa bọc
thây mà chôn, chứ sao lại có thể nằm trên giường, trong tay bọn đàn bà, trẻ con
mà được ư?” ý nói về chí khí của kẻ làm trai
6.6. Ngựa trắng có cánh: Trong thần thoại Hy Lạp, hình ảnh con ngựa
trắng có cánh và biết bay, tượng trưng cho cảm hứng trong sáng tạo và thi ca.
6.7. Lên xe xuống ngựa: biểu tượng cho sự thay thế tân tiến đó và dần
dần còn là biểu tượng cho sự xung mãn của từng tầng lớp trên khá giả, thường là
tầng lớp thống trị chuyên “ăn trắng mặc trơn, lên xe xuống ngựa”
6.8. Vành móng ngựa: là biểu tượng cho tòa án nói riêng và cho pháp
luật nói chung. Do đó, khi nói trước vành móng ngựa cũng có nghĩa là trước tòa
án, trước pháp luật.
6.9. Cưỡi ngựa xem hoa: có nghĩa là qua loa, đại khái, không tìm
hiểu kĩ.
7. Chữ Mã, Ngựa trong Truyện Kiều:
7.1. MÃ 馬 là một Họ trong Bách Gia Tính 百家姓 (trong câu Lỗ, Vi, Xương, Mã 魯韋昌馬) được soạn vào đầu thời Tống (宋朝, 960-1279); là Họ đứng
thứ 52 và là một trong các họ phổ biến nhất ở Trung Quốc (số người mang họ Mã đông thứ 14 ở đây, đặc biệt phổ biến trong cộng đồng
người Hồi).
Lịch sử có thể kể đến danh
tướng Mã Viện (馬援, 14-49 tCn) đời Hán (汉朝, 202
tCn – 9; 25 – 220) thời Hán Quang Vũ đế (漢光武帝, 5 tCn-57) gần
đây có Mã Hưng Thụy (馬興瑞, Sinh năm 1959), là Ủy viên Ủy
ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân
dân tỉnh Quảng Đông...; Trong Văn chương có Mã Văn Tài 馬文才... được nhắc
kế trong truyền thuyết Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài 梁山伯与祝英台 của Dân gian
Trung Hoa, tương tự câu chuyện tình yêu Romeo và Juliet của nước Anh..
Trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du nhiều nhân vật mang họ này: Đầu
tiên phải nói đến chàng Giám sinh được nhắc đến trong câu 625: 𠳨𠸜浪馬監生 (Hỏi tên rằng : Mã
Giám Sinh,) rồi một nàng họ Mã nữa xuất hiện ở câu 1151: 排肩固妸馬嬌(Bày
vai có ả Mã Kiều,) và câu 1156: 馬嬌吏𠼯意𦋦吲: 𠳒 (Mã
Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời) có hẳn dòng họ chép ở câu 685: 𠃅外户馬皮𢀨 (Mái ngoài họ
Mã vừa sang).
7.2. Điểm lại một số những câu thơ có liên quan đến “Ngựa” trong
Truyện Kiều, đầu tiên là tại Tiết Thanh Minh, ngay khổ đầu tại câu 48 với
馭車如渃襖裙如揇 (Ngựa
xe như nước, áo quần như nêm)...
Rồi sự xuất hiện một cách hào hoa phong nhã của Kim Trọng ở câu
139 雪印色馭駒𤶐 (Tuyết in sắc ngựa câu giòn).
Thực ra, tại câu 72
Vương Quan đã kể: 𨁪車馭㐌𦼔矑𥊚撑
(Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh) và khi
Thúy Kiều vẫn phải chia tay với Kim Trọng tại câu 142 客陀𨑜馭細尼敘情 (Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình) để
rồi lưu luyến tại câu 168 客它𨖲馭𠊚群𥊘蹺
(Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo).
Cũng nói về “Ngựa” nhưng câu 578 thì lại khác, ở đây cụ Nguyễn
dùng thành ngữ “Đầu trâu mặt ngựa” (dịch
thoát ý câu “Ngưu đầu Mã diện” 牛頭馬面) để chỉ đám “Sai nha” đến
bắt, khám nhà Kiều ông: 頭娄𩈘馭泑泑如㵢 (Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi) trong cảnh
Gia đình Thúy Kiều gặp biến cố.
Nhưng chính cụ Nguyễn
Tiên Điền rất trân trọng tả con “ngựa” khi thuật câu trả nhời của Sở Khanh sẽ
dùng để giải cứu cho mình khi Thúy Kiều hỏi ở câu 1107: 浪些固馭迨風 (Rằng ta có Ngựa Truy phong,)
nhưng sau đó thì lột tả rõ bản tính họ Mã trong câu 1118 双双馭畧馭𡢐双双馭畧馭𡢐 (Song
song Ngựa trước, Ngựa sau một đoàn).
Dù sau đó chính Cụ đã ca ngợi phương tiện giao thông này, coi con
ngựa là hình tượng của sự chia tay, khi Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn
Thư ở câu 1519: 𠊛蓮馭几支袍 (Người lên Ngựa, kẻ chia bào). Nhưng rồi
cũng chính Cụ đã lớn tiếng tố cáo phương
tiện hành hung đã giúp cho Khuyển Ưng bắt cóc Thúy Kiều ở câu 1647: 𧿆𣦍𨖲馭卽時 (Dảy
ngay lên ngựa tức thì,) song lại ngợi ca hình ảnh hào hùng, dứt bỏ nhi nữ
thường tình của Từ Hải, người đi mưu đồ việc lớn tại câu 2215: 青鎌鞍馭𨖲塘𥊢𢫝 (Thanh Gươm, yên Ngựa lên đàng thẳng dong) rồi khi họ Từ
rước Kiều về dinh tại câu 2272: 徐公𠚢馭親迎𨷶外 (Từ Công ra Ngựa thân nghinh cửa ngoài.). Từ “ngựa”
còn được Cụ Nguyễn dùng lại ở đoạn cuối truyện trong câu 2951 khi tả 2 nhà Kim,
Vương đi nhậm trị: 懺生車馭倍鐄
(Sắm
xanh xe ngựa vội vàng,).
Chuyện về “ngựa” và “con
ngựa” trong cái têt Ngọ này còn dài nhưng tạm khép lại đây, chúc mọi người, mọi
chuyện “Mã đáo thành công”, “Tài lộc tăng tốc như mã lực”, “Chúc mừng Năm Ngọ,
năm của những bước tiến vững vàng, tài lộc như suối chảy, gia đình hạnh phúc” trong
năm Bính Ngọ 2026.
-
Lương Đức Mến-



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!