Thói quen là một chuỗi phản xạ có điều kiện do rèn luyện
mà có. Đó là những hành vi (nếp sống,
phương pháp làm việc) được lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống và rèn
luyện (học tập, làm việc), là những
hành vi định hình trong cuộc sống và được coi là bản chất thứ hai của con người
(L’habitude est une seconde nature) nhưng
nó không sẵn có mà là kết quả của việc sinh hoạt, học tập, rèn luyện, tu dưỡng
của mỗi cá nhân trong cuộc sống hằng ngày, tuy vậy thói quen cũng có thể bắt
nguồn từ một nguyên nhân đôi khi rất tình cờ hay do bị lôi kéo từ một cá thể
khác. Có thể chia thói quen thành hai loại: thói quen xấu và thói quen tốt. Những
suy nghĩ theo thói quen sẽ chỉ đạo có những hành động tốt hoặc xấu.
Mỗi người
đều có lối sống, thói quen và sở thích riêng rất khác nhau và việc thay đổi những
thói quen của một con người rất khó khăn. Qua thói quen, người ta có thể đoán
biết được cá tính của con người cũng như có thể biết được tâm trạng của một người
.
Nó được hình thành ở tuổi lên chín, từ
sự bắt chước cha mẹ mình, diễn ra nhờ một hệ thống trong não bộ gọi là tế bào
thần kinh gương (mirror neuron) nhằm
hỗ trợ sự sinh tồn, giúp não bộ không phải làm việc để bảo toàn nhiên liệu (glucose và oxy) hành động theo thói quen
là vô thức. Các yếu tố chính kích hoạt:
Hình
ảnh: Những hình ảnh bắt mắt có thể kêu gọi
thực hiện một thói quen.
Âm
thanh: Chẵng hạn tiếng chuông báo thức kích
hoạt việc thức dậy, âm báo email kích hoạt việc kiểm tra hòm thư, hay tiếng con
khóc nhắc nhở đã đến lúc cho ăn, cho bú hoặc thay bỉm, thay tả.
Thời
gian: Chẵng hạn như buổi sáng thường có
thói quen uống cafe, tập thể dục, đọc sách.
Căng
thẳng: Khi bị căng thẳng, não bộ bị quá tải
sẽ thúc giục bạn thực hiện một thói quen (thường là vô thức) nhằm bảo tồn năng
lượng cho não.
Giao
thiệp: Có thể là nhân tố kích hoạt thói
quen.
Niềm
tin và cảm xúc: Niềm tin và cảm xúc tiêu cực thường
kích hoạt thói quen xấu, trong khi niềm tin và cảm xúc tích cực sẽ kích hoạt
thói quen tốt. Cảm xúc là chất xúc tác mạnh mẽ nhất tạo ra niềm tin, và niềm
tin này thường được hình thành từ nội tâm (những
lời tự nhủ), từ bên ngoài (lời của
cha mẹ, bạn bè) hoặc từ các sự kiện mang tính cảm xúc (chiến thắng, thất bại).
Thói quen được chia làm hai
loại chính gồm thói quen thông thường (những thói quen đơn giản, cơ bản và mang tính riêng rẽ. Đơn cử như sáng
ngủ dậy lúc mấy giờ, đi làm bằng đường nào, cách cầm dĩa ăn, cách cầm đũa, dùng
đũa. Những thói quen xấu như ăn vặt, ăn uống quá đà hay hút thuốc cũng được xếp
vào nhóm thói quen thông thường) và thói quen cột mốc (những
thói quen phức tạp, có khả năng ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến các thói quen
thông thường khác. Nó quan trọng vì khả năng tự động triệt tiêu các thói quen xấu.)
Thay đổi dù chỉ một
thói quen cũng là việc rất khó vì bộ não luôn chống lại. Các thói quen mới hình
thành rất dễ biến mất sau một vài tuần, và khi mất động lực, ý chí hoặc gặp
căng thẳng, những thói quen xấu cũ sẽ ngay lập tức xuất hiện trở lại. Thay đổi
thói quen là một quá trình cần thời gian, cách tốt nhất là chỉ tập trung thay đổi
một vài thói quen đơn giản trước, đó là bước bắt đầu từ những việc đơn giản. Nếu
muốn có một thói quen tốt, hãy tham gia vào nhóm những người đã có sẵn thói
quen đó hay việc áp dụng các phương pháp như Chất đống thói quen (Habit stacking) để thiết lập những thói
quen sáng, trưa, chiều, tối mới một cách có hệ thống.
Một số thói quen được cho là tốt như thói sinh hoạt có nề nếp, lề lối, điều
độ với tác phong nhanh nhạy, hoạt bát, khẩn trương, xếp đặt mọi thứ luôn gọn, sạch,
đúng nơi, đúng chỗ. Thói quen lao động, công tác có khoa học như coi trọng và
quý trọng thời gian, tiến trình biểu đã xác định, thực hiện nhiêm túc giờ nào
việc ấy, làm đúng kế hoạch và có cân nhắc, tính toán công sức hợp lý, thói quen
làm việc chăm chỉ thói quen đọc nhiều tài liệu và sách báo.Thói quen giao tiếp ứng
xử có văn hóa thể hiện qua việc lời nói điềm đạm, đúng mực, đúng thời điểm, hợp
tình, hợp cảnh, lịch sự, tế nhị và dùng đại từ nhân xưng theo đúng các mối quan
hệ xã hội. Thói quen ăn mặc lịch sự, đầu tóc gọn gàng, quần áo sạch sẽ, hợp với
tuổi tác, công việc, môi trường và hoàn cảnh giao tiếp. Thói quen rèn luyện sức
khỏe thông qua việc tích cực, hăng say luyện tập thể dục thể thao, chăm lo giữ
gìn vệ sinh thân thể...
Một số thói quen được cho là xấu như: Thói quen lộn xộn trong sinh hoạt hằng
ngày cụ thể như tác phong lề mề, luộm thuộm, lôi thôi, lếch thếch thiếu gọn
gàng, sạch sẽ, làm đâu bỏ đấy, cẩu thả.... Đại khái trong học hành, học tập
không theo giờ giấc (thời khóa biểu),
xếp đặt sách vở, đồ dùng học tập thiếu ngăn nắp, học tủ, học lệch, học vẹt.
thói quen manh mún trong lao động, làm việc thiếu tính chủ động, không có kế hoạch
cụ thể, không biết làm việc gì trước, việc gì sau, thích gì làm nấy. Thói quen
bừa bãi trong giao tiếp, ứng xử, nói năng thiếu suy nghĩ chín chắn, nói không
đúng lúc, đúng chỗ, không phù hợp với đối tượng, không tuân theo ngôi thứ và
tôn trọng người khác, thói quen tùy tiện trong ăn uống và không hợp vệ sinh,
thói quen lười nhác trong rèn luyện thân thể, ngại, lười vận động, không thường
xuyên tham gia môn thể dục, thể thao.Ngoài ra có một số thói quen không tốt như
thói quen trì hoãn, lề mề, chờ đến gần hạn cuối mới bắt tay vào công việc, thói
quen chậm trễ, lợi dụng sự thoải mái đi trễ, về sớm, áo quần tuềnh toàng với áo
thun hay quần jean rách.
Thói quen không hòa nhập, thói quen
công kích, chỉ trích, đả kích, thói quen kết bè kết đảng, vây cánh bè phái,
thói quen viết email, tin nhắn cẩu thả, gửi e-mail, tin nhắn khi tức giận,
không kiểm soát phát ngôn trên mạng xã hội, thói quen đổ thừa, chê trách, oán
trách khi gặp khó khăn, than thân trách phận. Hoặc một số thói quen gây hại cho não bộ như: Bỏ bữa sáng (thiếu hụt chất dinh dưỡng cho não), ăn uống quá độ, hút thuốc làm
cho não teo lại từ từ, ăn nhiều đường, hít thở không khí ô nhiễm quá lâu, thiếu
ngủ làm cho các tế bào não kiệt sức, trùm đầu khi ngủ, não không đủ oxy, lâu dần
sẽ bị tổn thương, suy nghĩ khi bị bệnh gây sức ép lên não, lười suy nghĩ và kiệm
lời.
Bảng 1: Thay đổi thói quen hàng ngày
|
Thói
quen xấu hàng ngày |
Thói
quen tốt hàng ngày |
|
Xem
tivi quá nhiều. |
Hạn
chế chỉ xem tivi một tiếng mỗi ngày. |
|
Không
tập thể dục thường xuyên. |
Tập
thể dục 30 phút mỗi ngày. |
|
Không
để ý khẩu phần ăn. |
Không
được ăn quá 2.100 calo mỗi ngày. |
|
Không
đọc các tài liệu về công việc. |
Dành
30 phút để đọc mỗi ngày. |
|
Hay
trì hoãn. |
Hoàn
thành danh sách việc phải làm mỗi ngày |
|
Lãng
phí nhiều thời gian. |
Không
lãng phí thời gian hôm nay. |
|
Hút
thuốc. |
Hôm
nay sẽ không hút thuốc. |
|
Không
gọi điện lại luôn cho người khác |
Sẽ
gọi điện lại cho tất cả mọi người |
|
Không
nhớ tên người khác. |
Viết
ra giấy và ghi nhớ. |
|
Quên
các sự kiện quan trọng. |
Ghi
nhớ những ngày quan trọng |
Bảng 2: Thay đổi thói quen của J.C.Jobs
|
STT |
Thói
quen xấu |
Thói
quen tốt |
|
1 |
Hay
cá độ bóng đá. |
Hôm
nay không chơi cá độ. |
|
2 |
Hút
thuốc. |
Hôm
nay không hút điếu nào. |
|
3 |
Hay
ăn hàng quán. |
Chỉ
đi ăn hàng một lần một tuần. |
|
4 |
Hay
đi làm muộn. |
Ngày
nào cũng đi làm đúng giờ. |
|
5 |
Hay
dậy muộn buổi sáng. |
Luôn
dậy từ 5 giờ sáng. |
|
6 |
Ít
quan tâm vợ con. |
Ngày
nào cũng đi dạo với vợ. |
|
7 |
Hay
ăn vặt. |
Hôm
nay không ăn vặt. |
|
8 |
Hay
chửi thề. |
Hôm
nay không chửi thề. |
|
9 |
Hay
đi bar. |
Hôm
nay không đi bar. |
|
10 |
Hay
xem tivi. |
Hôm
nay chỉ xem tivi 30 phút. |
Thói quen sinh hoạt và phát triển bản thân:
Quan
tâm đến cơ thể: 76% triệu phú tập cardio 20-30 phút mỗi
ngày (ít nhất 4 ngày/tuần) và 75% tránh xa các nhà hàng thức ăn nhanh.
Đọc
sách: 85% đọc từ hai cuốn sách trở lên mỗi
tháng và 88% dành ít nhất 30 phút mỗi ngày để đọc sách (trong đó 51% đọc về lịch
sử, 55% đọc sách tự lực/self-help, 58% đọc tiểu sử người thành công và 79% đọc
tài liệu giáo dục).
Xây
dựng các mối quan hệ giá trị: 86% kết nối
với những người có chung chí hướng, có thể giúp họ hoàn thành ước mơ và mục
tiêu.
Ra
quyết định: 91% thường ra quyết định tại nơi làm
việc một cách nhanh chóng, hành động mà không suy nghĩ quá nhiều.
Quy
cách ứng xử tốt: 75% thường gửi thiệp cảm ơn,
thiệp chúc mừng vào các dịp lễ tết hoặc dịp đặc biệt.
Thói quen giao tiếp và duy trì các mối quan hệ:
Không
nhiều chuyện: 94% tránh việc nhiều chuyện vì cho rằng
nó mang tính tiêu cực và gây tổn hại cho các mối quan hệ.
Gọi
điện chúc mừng sinh nhật: 80% có thói quen gọi điện chúc
mừng sinh nhật những người quan trọng để duy trì "sự sống" cho các mối
quan hệ.
Gọi
điện thăm hỏi: 80% thường xuyên gọi điện hỏi thăm sức
khỏe và tình hình của những người mà họ muốn xây dựng quan hệ vững chắc.
Gọi
điện trong những sự kiện quan trọng: Ví dụ có
thành viên mới chào đời, nhận giải thưởng để tạo ra mối liên kết xúc cảm mạnh mẽ.
Thói quen hành xử và quản lý mục tiêu cá nhân:
Ứng
xử lịch thiệp và tôn trọng người khác: Họ thường
nói "làm ơn", "cảm ơn" và "liệu tôi có thể". Họ
nhìn vào mắt người khác trong khi lắng nghe và ghi nhớ các ngày sinh nhật, ngày
kỷ niệm cũng như các sự kiện quan trọng của những người họ quan tâm. Đặc biệt,
họ không chỉ trích, lên án, phàn nàn về người khác hay với người khác.
Theo
đuổi đam mê: 82% triệu phú theo đuổi thứ họ đam
mê. Đam mê được ví như một công tắc đèn, khi bật lên sẽ cung cấp nguồn sáng bền
bỉ vô tận, và bền bỉ chính là đặc điểm chung số một của tất cả những người
thành công.
Đặt
ra và theo đuổi các mục tiêu lớn: 55% tập
trung theo đuổi một mục tiêu duy nhất trong khoảng thời gian hơn một năm.
Thường
xuyên nói "Không": Họ có thói quen từ chối những
người hay những thứ can thiệp vào việc quan trọng mà họ muốn hoàn thành. Việc học
cách nói "Không" được xem là một công cụ quản lý thời gian quan trọng
mà các triệu phú chủ yếu dựa vào.
Thói quen trong tư duy và suy nghĩ:
Cân
nhắc trước khi nói: 94% có thói quen kiềm chế bản
thân, không nói ngay những gì có trong đầu để có thể truyền đạt hiệu quả những
điều quan trọng.
Tin
vào bản thân: 79% tin rằng họ có thể thoát nghèo hoặc
tầng lớp trung lưu để trở nên giàu có, và 90% không tin vào số phận mà tin mình
là kiến trúc sư của cuộc đời mình.
Tin
rằng chăm chỉ chiến thắng thông minh: 90% tin rằng
sự chăm chỉ quan trọng hơn một chỉ số IQ cao.
Tin
rằng bền bỉ tạo may mắn: 92% tin rằng họ tự tạo ra vận
may cho mình bằng cách không ngừng kiên trì theo đuổi đam mê (trung bình mất
khoảng 12 năm để đạt được ước mơ).
Lạc
quan: 54% tin rằng sự lạc quan là yếu tố
quan trọng dẫn đến thành công của họ.
Kiểm
soát cảm xúc: 81% có thói quen kiểm soát tốt các cảm
xúc tiêu cực như giận dữ, đố kỵ, thù ghét để người khác dễ dàng làm ăn với họ
hơn.
Tin
rằng trung thực là thượng sách: 85% luôn
luôn nói thật để xây dựng lòng tin, nền tảng của thành công và những mối quan hệ
vững chắc.
Trong
ăn uống: Ăn ít muối và ít đường, vệ sinh răng miệng
hàng ngày sau khi ăn, không bỏ bữa sáng, ăn bữa tối sớm hơn, uống sữa ít béo...
tự nấu ăn, mang cơm đi làm...
Một số thói quen xấu trong ăn uống khiến
con người dễ bụng phệ và béo phì như: Bỏ bữa (sau đó là ăn nhiều hơn), uống nhiều rượu chè, dùng các sản phẩm ăn
kiêng, không ăn bánh mì, không dùng thực phẩm chứa nhiều chất béo, nhịn ăn bữa
sáng, ăn nhiều thức ăn nhanh, ăn thức ăn hàng quán, chế biến thực phẩm không
đúng... ăn mặn, sử dụng điện thoại trong lúc ăn, hay đọc sách lúc ăn, ăn mì ăn
liền thay thực phẩm chính, ăn cơm chan canh, vừa ăn vừa uống, ngoài ra còn ăn
trước khi ngủ, ăn không đúng bữa, ăn quá nhanh, hút thuốc quá nhiều, hâm đi hâm
lại thức ăn cũ đã nấu nhiều ngày trước đó, ăn thực phẩm sống (gỏi, tái), ăn uống đồ lạnh, ăn quá nhiều
đu đủ xanh, dứa, mướp đắng, sử dụng trà thảo dược bừa bãi, chè và cà phê ăn các
loại gia vị cay, nóng đẫn đến nguy hại cho phụ nữ mang thai.
Trong
sinh hoạt:
Vệ sinh răng miệng hằng ngày, ngủ đủ giấc,
không hút thuốc lá, thói quen điều độ tiết chế, thói quen giữ liên lạc với bạn
bè và người thân giúp tránh được chiều hướng suy nghĩ tiêu cực, bi quan hay
buông xuôi khi gặp khó khăn và có lời khuyên cho rằng nên liên lạc với người
thân tối thiểu 2 lần trong một tuần.
Ngoài ra để khăn ướt trên giường, để
đĩa thức ăn trống trong tủ lạnh, để tiền ở khắp mọi nơi như túi áo trước ngực,
túi sau quần, trong ví.... không chịu rửa nồi, lưu giữ quá nhiều đồ đạc có dây
dợ lằng nhằng, chê bai thói quen xem truyền hình của vợ....; Ngồi lâu, xem ảnh
đồi trụy, tình dục sớm, tình dục vô độ, tình dục thiếu hiểu biết, tình dục
không gần với tình yêu, rượu bia, thuốc lá, chè chén tiệc tùng cũng dễ ảnh hưởng
đến chức năng tình dục.
Theo
dân tộc:
Văn hóa ăn uống: vô tư lấy đồ ăn mà
không cần biết có phù hợp khẩu vị hay không, ăn không hết sẵn sàng bỏ lại.
Văn hóa xếp hàng: Hành động chen lẫn,
xô đẩy.
Xả rác: lung tung, bừa bãi.
Ăn cắp vặt: do túng thiếu trong cuộc sống.
Trốn vé: .
Chặt chém du khách: làm ảnh hưởng đến
việc quảng bá, mời gọi du lịch.
Ban
đêm có thói quen xấu như thức khuya, ăn nhậu
thâu đêm hay dùng điện thoại quá lâu,…
Thức
khuya - hành động đánh đổi sức khỏe lâu dài
Dù để làm việc, giải trí hoặc đơn giản
là muốn có thời gian riêng sau một ngày bận rộn. Tuy nhiên, ngủ muộn hoặc thiếu
ngủ kéo dài khiến đồng hồ sinh học bị rối loạn, làm giảm nồng độ testosterone.
Đồng thời, căng thẳng cortisol tăng cao
khiến cơ thể luôn trong trạng thái mệt mỏi, dễ dẫn đến các bệnh tim mạch, tiểu
đường và suy giảm miễn dịch. Nếu ngủ ít hơn 6 giờ mỗi ngày liên quan đến nguy
cơ tử vong cao hơn.
Nhậu
nhẹt thâu đêm - thói quen quá phổ biến
Để thư giãn sau một ngày làm việc. Nhưng
vừa uống rượu bia vừa ăn đêm tạo ra gánh nặng kép cho cơ thể, Khiến hệ tiêu hóa
phải hoạt động quá tải dẫn đến tích tụ mỡ nội tạng, tăng nguy cơ béo phì, kháng
insulin và bệnh tim mạch. Ngoài ra, còn dễ gây trào ngược dạ dày, ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng giấc ngủ.
Không chỉ vậy, rượu bia còn làm gián đoạn
giấc ngủ sâu, khiến cơ thể không được phục hồi đúng cách. Thói quen nhậu nhẹt
ban đêm gây hại cho gan, làm tăng huyết áp mà còn góp phần rút ngắn tuổi thọ âm
thầm.
Nằm
ngay sau khi ăn tối - thói quen gây tích mỡ
Chính hành động này lại khiến quá trình
tiêu hóa chậm lại, dễ gây tích tụ năng lượng dư thừa dưới dạng mỡ; gây béo phì
và rối loạn chuyển hóa, ...
Lạm
dụng điện thoại vào ban đêm - gây gián đoạn giấc ngủ
Trong đó ánh sáng xanh từ màn hình ức
chế hormone melatonin - yếu tố giúp cơ thể dễ ngủ và ngủ sâu.
Việc sử dụng thiết bị điện tử trước khi
ngủ khiến não bộ bị kích thích liên tục, giấc ngủ trở nên chập chờn, không đủ
sâu gây suy giảm trí nhớ, căng thẳng thần kinh, tăng nguy cơ trầm cảm và ảnh hưởng
sức khỏe tổng thể.
Hút
thuốc buổi tối - rủi ro tích tụ gấp đôi
Không chỉ ảnh hưởng đến phổi mà còn làm
tăng nhịp tim, huyết áp và giảm lượng oxy trong máu.
Nicotine kích thích thần kinh khiến giấc
ngủ bị gián đoạn. Về lâu dài, đây là yếu tố nguy cơ cao dẫn đến ung thư, bệnh
phổi và tim mạch.
Tò
mò về nghề y - luôn có tác động đến cuộc đời : Ký
túc xá - Cá tốc ký; Chạy trời không khỏi đau,...
“Kinh
nghiệm” đâu giúp ích gì:
Massage,
tắm hay chơi thể thao quá sức sau khi uống rượu bia
không giúp “giải rượu”, ngược lại có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ, nhất là người
có bệnh nền, cao tuổi. Đó là bệnh lý xảy
ra đột ngột, diễn tiến nhanh, biến chứng nặng nề, chủ yếu là người từ 55 tuổi
trở lên, hiện xu hướng trẻ hóa.
Dấu hiệu nhận biết sớm đột quỵ là: Liệt
nửa người (biểu hiện giơ hai tay bằng
vai, một tay sẽ bị rơi xuống); liệt dây thần kinh số VII (méo miệng khi làm động tác nhe răng hoặc cười);
rối loạn ngôn ngữ (hiểu được lời nói mà
không diễn đạt được hoặc không hiểu lời người khác).
Một số thói quen thường gặp có thể làm
tăng nguy cơ đột quỵ, như sau:
Uống
rượu trước và sau khi đi massage
Đi tiểu nhiều hơn bình thường, mất nước,
nhức đầu... giãn mạch, gặp hơi nóng đột ngột khi xông hơi khiến mạch máu giãn
to hơn, tăng nhịp tim, choáng váng, khó thở, rượu bia vốn làm cho cơ thể nóng
hơn mức bình thường, kết hợp xông hơi sẽ tăng nguy cơ chóng mặt, đau đầu, buồn
nôn, mất nước, mệt mỏi nhiều, gây tổn thương cơ xương khớp, dây chằng, cột sống,
tổn thương mạch máu, gây chèn ép phần tủy tại cổ, biến chứng thần kinh, liệt tứ
chi.
Do đó, sau khi uống rượu nên nghỉ ngơi,
bổ sung nước trắng, nước dừa, đồ uống có tính kiềm kèm điện giải như kali,
magie để trung hòa cồn. Có thể ăn một chút bánh mì nướng, bánh quy giòn, nước sốt
táo để cung cấp năng lượng. Không uống paracetamol để giảm đau đầu hay lạm dụng
thuốc giải rượu, thải độc.
Tuyệt đối không tắm ngay sau uống rượu
bia, kể cả nước nóng. Rượu chủ yếu chuyển hóa ở gan, phần rất nhỏ thải qua hơi
thở, nước tiểu và mồ hôi. Việc ra mồ hôi không làm giảm nồng độ cồn trong máu.
Rượu làm giãn mạch máu, nước nóng cũng gây giãn mạch, kết hợp hai yếu tố có thể
gây choáng váng, tụt huyết áp, ngất xỉu. Lúc này, cơ thể mất nước nhiều, dễ mệt
mỏi hơn. Sau khi uống rượu, tinh thần chưa tỉnh táo, bạn có thể bị ngất, ngã,
gây hại sức khỏe.
Nếu tiếp xúc với nước lạnh đột ngột, mạch
máu có thể co thắt mạnh, gây rối loạn lưu thông máu và ảnh hưởng đến hệ thần
kinh. Sự thay đổi nhiệt độ quá nhanh khiến cơ thể không kịp thích nghi, làm thần
kinh ngoại biên bị tổn thương, dẫn đến tình trạng liệt mặt tạm thời hoặc kéo
dài.
Do đó, tắm không đúng cách trong lúc thể
trạng không đảm bảo càng kích hoạt mối nguy đột quỵ, tăng huyết áp. Người cao
tuổi, người tăng huyết áp, bệnh mạch vành,suy tim, đái tháo đường, người từng đột
quỵ có nguy cơ cao hơn.
Vận
động quá sức:
Làm cơ thể tiêu tốn nhiều năng lượng dẫn
đến tình trạng mất nước và rối loạn điện giải,…trở nên nghiêm trọng hơn, khiến
cơ thể mệt mỏi, chuột rút cơ bắp...
Chưa kể, rượu bia sẽ khiến gan và thận
phải làm việc vất vả hơn để xử lý các chất độc hại có trong đồ uống này. Lúc
này, cơ thể đang trong trạng thái mệt mỏi sau khi tập thể thao, gan và thận lại
phải hoạt động để loại bỏ cồn và các độc tố khác từ bia, gây áp lực lớn lên các
cơ quan nội tạng.
Khi phát hiện có người bị đột quỵ, không cho bệnh nhân ăn uống hoặc ngậm bất cứ
loại thuốc nào, kể cả nước lọc hay thuốc hạ huyết áp,…. Không châm cứu,
chích máu ở đầu ngón tay. Phương pháp này không có tác dụng làm tan cục máu
đông, trái lại còn làm mất “thời gian vàng” cho can thiệp y khoa.
Bản
thân:
-Trong thời gian ở XQ tôi đã hình thànnh những thói quen là đi bộ ngày 2 bận và ăn đủ 3 bữa (S, Tr, T) cùng với việc nấu nó hay rửa bát đũa, thìa,…khi lên TF “quên” luôn việc đi bộ; Còn việc nấu nướng, rửa,...đã “khoán” cho…vợ và thay vào đó là việc…đọc báo (bằng Lap tốp) !
1, 2 ngày và “quen” liền, chắc do “hợp gu” !
- Tôi chẳng biết phân loại “thói quen Tốt” hay “thói quen Xấu” gì hết chỉ thấy “thói quen” nào “khó hợp” với chính mình thì lâu “quên” và ngược lại !
Thì ra quá trình hình thành “thói quen” cũng biết “lựa chọn” ra phết đấy chứ chẳng chơi !
-
Lương Đức Mến, ngày 10/3/Bính Ngọ-



