Từng có 10 năm sinh cơ lập
nghiệp, công tác tại thị xã (nay là thành phố) Yên Bái nhưng từ khi chuyển lên
“khai hoang tại chính quê” thì tôi đã coi nơi đây là “tỉnh mình” và chỉ qua lại
khi thật cần thiết.
Nay rộ lên việc “nhập lại
2 tỉnh” rồi “thủ phủ quay lại” nơi tôi từng ở từ 1981-1991,… bỗng dưng thấy cần
viết một đôi điều về nơi đây.
Thấy mọi người đã ào ạt
viết, khen có, chê có,…nên tôi đi theo hướng nhớ lại những gì mình đã trải, đã
nghe, đã tìm hiểu, cảm nhận.
KHÁI QUÁT
Yên Bái là một tỉnh miền
núi, nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có 30 dân tộc anh em cùng chung sống và có
vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Là “cửa ngõ phên dậu”
vùng Tây Bắc, nơi giao thoa của hai khu vực Đông Bắc - Tây Bắc, của những nền
văn hoá đa sắc tộc, hình thành nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Thiên phú và
sự sáng tạo trong lao động của cộng đồng các dân tộc Yên Bái đã tạo nên một
vùng đất nhiều tiềm năng. Cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân
các dân tộc Yên Bái đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, anh dũng,
kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù, sáng tạo trong lao động
sản xuất, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Sự hấp dẫn của vùng đất
này là hình sông thế núi, được kiến tạo dọc sông Hồng trên nền phù sa cổ sinh,
với những cánh đồng bằng phẳng đan xen cùng núi non ngoạn mục vươn sát bờ sông
tạo thành những lát cắt phóng khoáng, trùng điệp, đó là tặng vật của thiên
nhiên để con người gây dựng nên những xóm làng trù mật và thanh bình. Từ đây,
những khát vọng về sự yên ấm thơ mộng được đặt cho các tên làng, trở thành dấu ấn
không thể phai nhạt như Châu Quế, Yên Hưng, Lan Đình, Cổ Phúc, Yên Lương, Âu
Lâu, Bình Phương, Linh Thông, Minh Quân, Nga Quán… Những tên làng nhắc tới là
biết ngay đất Yên Bái.
Dải đất này trầm tích bao
bí mật của quá khứ, từ thủa xa xưa. Những kết quả khảo cổ học cho thấy đây là
vùng đất có lịch kỳ từ thời đá mới trải dài tới đồ đồng, đồ sắt. Tiêu biểu nhất
tương ứng với thời kỳ đá Sơn Vi tìm thấy ở Mậu A, được các nhà khảo cổ đánh giá
là di chỉ có những đặc trưng nổi trội nhất. Dọc lưu vực sông là quê hương của
thạp đồng Đào Thịnh, thạp đồng Hợp Minh nổi tiếng quốc gia cùng vô số đồ đồng
phát lộ, được người xưa chôn giấu dọc dải đất hai bên bờ sông. Vùng đất này
cũng là vùng còn chứa nhiều bí ẩn đầy ký ức của cư dân cổ xưa, đang rất cần được
các nhà khoa học khám phá.
Cùng với trí tuệ và bàn tay tạo dựng của con
người, nhiều nơi ngoài việc trồng lúa nước còn phát triển các làng nghề: trồng
dâu nuôi tằm, đan lát thủ công làm miến, kéo mật, cùng với những rừng quế bạt
ngàn, những nương chè ngút ngát xanh tươi. Các làng văn hóa được tạo dựng,
chính là nơi giữ gìn cảnh quản môi trường thiên nhiên và bảo tồn các giá trị
văn hóa dân gian được bao thế hệ lưu truyền. Ở đây có thể bắt gặp cái lạ và độc
đáo của khèn “ma nhí”, sáo “cúc kẹ” dân tộc Xa Phó, cũng như sự huyền linh
trong “tết nhẩy” của dân tộc Dao và các giá trị phi vật thể khác đang tiềm ẩn
trong nhân dân. Đó là kết quả của lao động sản xuất và nhu cầu sinh hoạt tinh
thần của người dân các dân tộc sáng tạo nên.
Đồng hành cùng với lịch sử,
các giá trị văn hóa tinh thần được xác lập cùng với tín ngưỡng bản địa, các
đình đền miếu mạo được nhân dân tôn ái xây dựng. Những đền chùa nổi tiếng trong
vùng như đền Đông Cuông, Tuần Quán, Nhược Sơn, chùa Bách Lẫm, Ngọc Am được tu bổ,
đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân và cũng là các di tích văn hóa gắn với
các truyền tích được người dân lưu giữ. Các dấu tích đình đền còn gắn với các sự
kiện lịch sử từng xảy ra trên mảnh đất này đó là, đền Nhược Sơn gắn với tên tuổi
Hà Bổng, Hà Chương thời kỳ chống Nguyên Mông; Đền Đông Cuông (còn gọi là đền Thần
Vệ Quốc) gắn với khởi nghĩa Giáp Dần (1914) của đồng bào Tày, Dao địa phương chống
thực dân Pháp, đền Tuần Quán gắn với khởi nghĩa Yên Bái tháng 2 năm 1930 của
các chí sĩ yêu nước tụ họp ở đây trước khi khởi sự. Thành phố Yên Bái còn nổi bật
di tích lịch sử văn hóa Lễ đài nơi Bác Hồ nói chuyện với các nhân dân các dân tộc
Yên Bái (ngày 25/9/1958) giữa trung tâm thành phố, một địa chỉ quen thuộc với cả
nước là di tích lịch sử văn hóa: Lăng mộ Nguyễn Thái Học và các nhà yêu nước hy
sinh năm 1930 trong khởi nghĩa Yên Bái chống thực dân Pháp nổi tiếng đương thời,
được tọa lạc trong công viên Yên Hòa khoáng đạt.
Trung tâm Yên Bái còn là
nơi cửa ngõ nối giữa Đông Bắc với Tây Bắc của Tổ quốc, có đường sắt và đường bộ
nối Hà Nội và các tỉnh đồng bằng trung du với Vân Nam - Trung Quốc. Nơi đây còn
có chiến khu Vần - Dọc thời kháng chiến chống Pháp, có bến phà Âu Lâu đã trở
thành di tích lịch sử văn hóa của địa phương.
Có thể tự hào rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã giác ngộ, giáo dục, tập hợp, đoàn kết,
lãnh đạo nhân dân, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, sức mạnh của cả đảng
bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, công nhân, nông
dân, trí thức, lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các tầng lớp
nhân dân trong tỉnh làm nên kỳ tích anh hùng - một tỉnh Yên Bái phát triển toàn
diện, vững bước đi lên cùng cả nước trong sự nghiệp đổi mới - công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
“Lịch sử là dòng chảy, truyền thống là hành
trang”, chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong
tỉnh những năm qua là niềm tự hào về những chiến công, những thành tích đã đạt
được, đồng thời cũng nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, mục tiêu trong công cuộc đổi mới,
hội nhập quốc tế, phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu xây dựng Yên Bái trở
thành tỉnh phát triển khá trong vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
NHỚ LẠI
1. Thời sinh viên, mỗi năm đi qua Yên Bái ít nhất 4 bận (để xuống Trường hay về nhà) và toàn đi bằng
Xe lửa nên thấm câu: “thò tay ra ngoài cửa sổ tầu nếu thấy mưa, đó là Yên Bái”!
Buổi đầu công tác
và bước vào quan trường, 10 năm sống ở Yên Bái (với tư cách là tỉnh lị của tỉnh hợp nhất Hoàng Liên Sơn) tôi có lắm
kỷ niệm về công tác cũng như chuyện
riêng tư nên càng hiểu hơn về thị xã (nay
là thành phố) này.
Tháng 11/1991
trở lại Lào Cai, nhưng vẫn nhớ Yên Bái bởi: “Lào Cai là tỉnh của ta, Dưới kia Yên Bái hóa ra tỉnh mình” nên mỗi
“chuyển mình” của “tỉnh anh em” chúng tôi đều theo dõi kỹ, cùng vui, cùng đau.
Khi thủ trưởng cũ (ông HTS) của mình “ngã ngựa” trên cương
vị quan đầu tỉnh (CT), nhiều đồng
liêu hay cỡ em tôi bị “gẫy cánh”,... tôi đã “giật mình”!.
Tháng 8/2016, vụ việc “chấn
động” mà “cả đời làm KTHS chưa gặp”,
“70 năm dân chủ cộng hòa” mới xẩy ra lần
đầu,… lại càng “giật mình” hơn!
Nhưng đến khi rối lên về
những “biệt phủ”, “bắt phóng viên nhận tiền tại trận”,...
tôi không thể giật mình nổi nữa mà thấy nhói
trong tâm nên âm thầm đi tìm hiểu về nguyên cớ và cách khắc chế, dù chả ai
khiến !!!
Những nguyên nhân và giải
pháp về chính trị, đạo đức và vân vân gì đó nhiều người đã mổ xẻ và nó cũng chả
thuộc phạm vi quan tâm, tìm hiểu của tôi nên tôi chỉ xem lướt qua để biết mà...
để đấy!!!
Phần mình, tôi đi tìm, lý
giải và mong muốn theo hướng khác!
2. Lần lại lịch sử:
Vùng đất “cửa ngõ lên Tây Bắc” nước ta thuở
đầu của nền quân chủ (Ngô, Đinh, Tiền Lê) thì các châu cơ mi
(Ki Mi 羈縻, châu có sự ràng buộc lỏng lẻo để còn trị gián tiếp, duy trì đến nỗi
không bị tuyệt diệt), các động 峒
vẫn do các tù trưởng 酋長, hậu duệ của người
Âu Việt (甌越, TKIII-225 TCn) cai quản nên khu vực mà nay là thành phố “yêu bé” (Yên Bái) chả rõ thuộc đâu.
Sang thời Quân chủ: Khi thay nhà Tiền Lê 前黎,
nhà Lý (李氏, 1009-1225) dời đô ra Đại La (1010),
nhân khi nước Đại Lý (大理, 937-1253, vùng Vân Nam bên
Trung Quốc nay) suy yếu, năm 1159 vua Lý Anh Tông (李英宗, 1136 - 1175) cùng Tô
Hiến Thành (蘇憲誠, 1102 - 1179) đã chinh
Tây, tiến hành thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số ở vùng này và nhập vùng
đất đó vào địa đồ Đại Việt (大越, 1054-1400 và 1428- 1804). Trong 12 lộ 路, 6 phủ 府, 25 châu 州 mà Lý Thánh Tông (李聖宗,
1054-1072) định ra khi đổi quốc
hiệu là Đại Việt chép ở “Toàn thư”
thì châu Chân Đăng 真登州 (hay đạo Lâm Tây 林西道) có đất vùng Lào Cai,
Yên Bái nay.
Tháng 6 năm Quang Thuận 光順 thứ bảy (1466), Lê
Thánh Tông (黎聖宗, 1442 – 1497) đặt 13 đạo thừa tuyên 承宣
có thừa tuyên Hưng Hóa 興化 bao gồm đất đai các tỉnh
Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La,
Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai ngày nay. Sau đó vùng này được đổi là xứ 処 Hưng Hóa (1490) rồi
trấn 塡 Hưng Hoá (1800).
Đến năm Tân Mão 1831,
Minh Mạng lập tỉnh 省 và Hưng Hóa là một trong
số 13 tỉnh 北圻三十省 được thành lập sớm
nhất ở Bắc Kỳ (北圻, 1834-1945), là cấp hành chính cấp trên của các huyện thuộc Yên Bái
nay.
Dưới thời thuộc Pháp 法屬時代
Đến khi hoàn thành
việc bình định quân sự, người Pháp phân chia lại khu vực hành chính
và cho thành lập các tỉnh dân sự. Các địa phương thuộc tỉnh Hưng Hoá (cũ)
liên tiếp được tách ra thành lập: tỉnh Chợ Bờ (18/3/1891, tức tỉnh Mường,
sau đổi thành tỉnh Hòa Bình), tỉnh Yên Bái (1895, chính thức 11/4/1900), tỉnh Vạn Bú (1895, sau đổi thành tỉnh Sơn La vào 23/8/1904) và tỉnh Lai Châu (tháng 6 năm 1909). Ngày 5 tháng 5 năm
1903 phần còn lại của tỉnh Hưng Hóa được đặt tên thành tỉnh Phú Thọ (05/5/1903); riêng vùng Lào Cai được chuyển
từ Đạo Quan binh 4 thành tỉnh dân sự vào ngày 12/7/1907.
Trong đó, ngày 11/4/1900,
Pháp lấy các hạt Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái của Hưng Hóa cũ và châu Lục Yên của
Tuyên Quang để lập tỉnh Yên Bái với tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái, tổng Bách Lẫm
(huyện Trấn Yên).
Như thế Yên Bái cũng như
Lào Cai được trích từ Đạo quan binh thứ IV (một
phần tỉnh Hưng Hóa cũ) mà ra và danh
xưng “Yên Bái” chính thức ra đời, chỉ đơn vị hành chính cấp tỉnh từ ngày 11/4/1900!
Cách mạng tháng Tám 1945
Ban Cán sự Đảng liên tỉnh
Phú Thọ - Yên Bái đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc vũ trang khởi nghĩa
và thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng. Ngày 6/7/1945, Đội du kích Âu Cơ chia
làm 3 mũi tiến công tập trung tại Ba Khe tiến vào giải phóng Nghĩa Lộ.
Ủy ban lâm thời châu Văn
Chấn - chính quyền cấp huyện đầu tiên của vùng Tây Bắc đã được thành lập dịp đó.
Sau đó đã đưa một số bộ phận vũ trang xuống phía Bắc Phú Thọ phối hợp cùng du
kích và tự vệ địa phương tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, một bộ phận
khác đi giải phóng các vùng lân cận.
Trong bối cảnh đó, Nghĩa
Lộ được giải phóng, Đội du kích Cổ Văn tiến vào giải phóng châu lỵ Lục Yên, ta
tiếp quản huyện lỵ Yên Bình, giải phóng châu Văn Bàn (5/8) và châu Than Uyên
(7/8).
Hưởng ứng Quân lệnh số 1 của
Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, quân giải phóng vượt sông Hồng ở bến Âu Lâu, Ngòi
Chanh, Bảo Hưng tiến đánh quân Nhật ở thị xã.
Nhận thấy tình thế sẽ bị
tiêu diệt, ngày 18/8, quân Nhật lệnh cho Tuần phủ Yên Bái cử 5 người do “đốc tờ
Đệ” phụ trách y tế tỉnh dẫn đầu mang cờ trắng sang Âu Lâu xin gặp và mời chỉ
huy của ta sáng hôm sau sang thị xã để quân Nhật bàn giao tỉnh cho quân cách mạng.
Ngày 20 và 21/8/1945, các
đơn vị vũ trang cách mạng và Ủy ban Khởi nghĩa chính thức tiếp quản thị xã - địa
bàn cuối cùng của tỉnh Yên Bái hoàn toàn giải phóng. Ngày 22/8/1945 , Ban Cán sự
Đảng đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng ở sân Căng, thị xã Yên Bái với sự góp
mặt của đồng bào các dân tộc thị xã và các huyện lân cận.
Theo Hiến pháp năm 1946:
Nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc (có 27 tỉnh và 2 thành phố trong đó có tỉnh Yên Bái), Trung (có 18 tỉnh), Nam (có 20 tỉnh).
Từ sau 1954:
Theo Hiến pháp năm 1959,
Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, khu
tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị
xã; Huyện chia thành xã, thị trấn. Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị
do luật định.
Miền Bắc Việt Nam có 2
khu tự trị, được thành lập từ năm 1955-1956: Khu tự trị Tây Bắc (ban đầu gọi là Khu tự trị Thái Mèo) và
Khu tự trị Việt Bắc. Khu tự trị Tây Bắc lúc đầu chỉ có các cấp châu (tương đương huyện) và xã, bỏ cấp tỉnh,
nhưng đến năm 1963 đã lập lại các tỉnh.
Bắc Bộ có 26 tỉnh, có tỉnh
Yên Bái, đặc khu Hòn Gai, và 2 thành phố Hà Nội, Hải Phòng.
Theo Hiến pháp năm 1980,
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định
như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính
tương đương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố
trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã và
thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành
phường.
Các đơn vị hành chính kể
trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Ngày 3 tháng 1 năm 1981,
Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam quyết định thống nhất tên gọi các đơn vị
hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị thuộc các thành phố, thị xã là phường (trước đây là tiểu khu), dưới cấp quận (trước đây là khu).
Năm 1976 cả nước có 38
đơn vị hành chính cấp tỉnh (35 tỉnh và 3
thành phố).
a/ Bắc Bộ có 13 (Yên Bái
nằm trong tỉnh Hoàng Liên Sơn) và 2 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng. Sau đó
có sự tách nhập tỉnh mà các đợt lớn là vào năm 1978, 1979, 1991, 1996,
1997, 2004.
Trong đó, ngày 27 tháng
12 năm 1975, Yên Bái cùng với Lào Cai và một phần Nghĩa Lộ (Than Uyên, Mù Cang Chải, Trạm Tấu còn Bắc
Yên, Phù Yên sáp nhập vào tỉnh Sơn La) hợp nhất thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Tỉnh
này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 3/1/1976.
Sau 15 năm chung sống, đến
12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Yên Bái được tái lập từ tỉnh Hoàng Liên Sơn (trừ 2 huyện là Bảo Yên và Văn Bàn vốn trước
thuộc Yên Bái, Than Uyên thuộc Nghĩa lộ cũ chuyển sang Lào Cai). 2 tỉnh này
chính thức hoạt động từ ngày 1/10/1991.
3. Ngẫm về danh xưng:
Chưa tìm được tư liệu
thành văn về nguyên do và ý nghĩa của địa danh nên không hiểu sao, năm 1900 khi
tách từ tỉnh Hưng Hóa (1831- 1903) ra
lại đặt tên tỉnh này là YÊN BÁI (安沛省), tên một làng xưa thuộc tổng Bách Lẫm, huyện Trấn Yên (có 5 tổng: Bách Lẫm, Giới Phiên, Lương Ca,
Yên Phú, Đông Cuông).
Chỉ khảo cứu được rằng: ngày
9 tháng 9 năm 1891, toàn quyền Đông Dương quy định đạo lỵ quan binh Yên Bái đặt
tại xóm Đồng Thị, xóm Gò Cau làng Yên Bái, tổng Bách Lẫm huyện Trấn Yên.
Thị xã Yên Bái
được hình thành là trung tâm của tỉnh nằm ở chân đồn Cao - khu vực quân sự của
thực dân Pháp (phường Nguyễn Phúc ngày
nay) với diện tích chưa đầy 2km2. Năm 1905, một số làng thuộc tổng
Bách Lẫm được đưa vào thị xã và lúc đầu chỉ là một phố thuộc phủ Trấn Yên rồi dần
dần hình thành 4 khu phố nhỏ là phố Hội Bình, Yên Lạc, Yên Hòa, Yên Thái (khu vực phường Hồng Hà ngày nay). Dần mở
rộng như ngày nay.
Tỉnh do người Pháp đặt nhưng
địa danh lại lấy theo tên cổ nên buộc phải khảo
cứu từ chữ Nho
3.1. Từ 2 thành tố cấu thành địa danh:
- Trong Hán tự có tới 24 chữ
mà âm Hán Việt đều đọc là “yên” (đúng
ra là “an”) : 咽 ,嚥 , 垔 , 嫣 , 安 , 殷 , 洇 , 湮 , 烟 , 焉 , 煙 , 燕 , 禋 , 胭 , 臙 , 菸 , 蔫 , 讌 , 鄢 ,閼 , 阏
, 鞌 , 鞍 , 𦒜.
Thư tịch cổ dùng chữ “yên”
thứ 5 này “安” để ghi địa danh và chữ
này 安:
+ Có nghĩa là: như “bình an” 平安,
“trị an” 治安,
v.v.; Ðịnh, không miễn cưỡng gì gọi là “an”. Như “an cư lạc nghiệp” 安居樂業 yên ở vui với việc làm; Làm yên, như “an phủ” 安撫 phủ dụ cho yên, “an ủy” 安慰
yên ủi; Tiếng giúp lời. Nghĩa là Sao vậy, như “ngô tương an ngưỡng” 吾將安仰 ta hầu ngưỡng vọng vào đâu ? “Nhi kim an tại” 而今安在 mà nay còn ở đâu ? ; Ðể yên, như “an trí” 安置 để yên một chỗ, “an phóng” 安放
bỏ yên đấy.
+ Nó có mã là U+5B89, thuộc
bộ “miên” 宀, hành Thổ 土, tính Cát 吉
- Trong Hán tự có tới 20 chữ mà âm Hán Việt đều đọc là “bái”
(đúng ra là “phái”: 呗 , 唄 , 扒 , 拜 , 拝 , 斾 , 旆 , 梖 , 沛 , 浿 , 淠 , 湃 , 狈 , 狽 , 矲 , 肺 , 胇 , 茇 , 茷 ,霈.
Cổ thư sử dụng chữ thứ 7,
tức chữ này 沛 ghi tên tỉnh
+ Chữ này là có nghĩa là
“ lụn, đổ nát; bãi cỏ, bãi đất hoang”. Nó là
Danh từ chỉ Bãi cỏ, chỗ vũng nước mọc cỏ, đất bỏ hoang mọc cỏ: “Phái trạch đa nhi cầm thú chí” 沛澤多而禽獸至 (Đằng Văn Công hạ 滕文公下) Vũng cỏ chằm nước nhiều
thì chim muông đến; là Phó từ chỉ Dồi
dào, sung sức, hưng thịnh: “sung phái” 充沛 đầy dẫy, mạnh mẽ “Phái nhiên hạ vũ” 沛然下雨 (Lương Huệ Vương thượng 梁惠王上) Mưa xuống sầm sập. Ðiên
bái, gặp sự hoạn nạn, vì hoàn cảnh làm nghiêng ngửa gọi là điên phái 顛沛.
Đúng ra là “phái” nhưng
mgười Việt ta quen đọc là “bái”cũng như chữ “an” ta hay đọc là “yên” nên theo mặt
chữ lẽ ra là AN PHÁI xưa nay toàn đọc là YÊN BÁI. Chả sao!
+ Nó có mã là U+6C9B, thuộc
bộ “thủy” 水, hành Thủy 水, tính Cát 吉, tổng 7 nét.
3.2. Như thế:
- “Yên Bái” một cái tên
không đẹp, không hướng tới sự ổn định, phát triển mà còn bao hàm ý bất ổn, điềm
không may đến dồn dập về mặt Hán tự!
- Ngay trong cái tên đã
biểu hiện sự xung khắc: mặc dù có nước (thủy
水) thì đất (thổ 土) mới có giá trị trồng trọt nhưng đất đắp bờ ngăn nước song nước
quá mạnh lại phá bung bờ, bung đập (“quá
mù ra mưa” là thế).
Thế mới biết, cái tên
không phải chỉ để gọi!
Viết đến đây, chợt giật
mình nhớ lại: theo Hồi kí của một vị nguyên lãnh đạo tỉnh HLS thì ban đầu khi
bàn “hợp tỉnh” đã từng có những phương án đặt tên tỉnh hợp nhất như sau: Hoàng
Liên Sơn (với nghĩa 3 tỉnh đều cùng chung
dây mạch dãy núi HLS), Hồng Hà (con
sông chẩy qua Lào Cai, Yên Bái), Hưng Hóa (tên thời Lê Nguyễn là địa phận của 3 tỉnh) hoặc Lào Yên Nghĩa (ghép chữ đầu 3 tỉnh dạng Hà Nam Ninh)
hay Cai Bái Lộ (ghép chữ sau của tên 3 tỉnh!).
Cuối cùng cái tên Hoàng
Liên Sơn được chọn (quyết định là của cụ
Trường Chinh), là một trong 35 tỉnh và 3 thành phố hồi đó. Nếu hồi 1976 mà
chọn cái tên CAI BÁI LỘ thì không biết quê tôi sẽ ra sao!?
3.3. Giả sử và ước mong:
Nay nếu đấng tối cao quyết
lấy Thành phố Yên Bái làm lỵ sở tỉnh mới hợp nhất (dễ lắm) thì với địa danh đó, người “chủ nhà” cần:
- Không quá vượng “Thổ”,
“Thủy” bởi như thế sẽ “vượng” quá mà cái gì quá ắt tiêu! Đơn giản là ham chiếm
đất, đào ao là “quá vượng” rồi lại làm nhà lớn, xấy biệt phủ là “vượng mộc” mà
MỘC LẠI KHẮC THỔ!
- Nhưng người đó không được
“khắc” Thổ và Thủy!
- Lại không thể:
+ Mang mệnh Hỏa được, bởi
tuy “Tro tàn tích lại đất vàng thêm” tức Hỏa sinh Thổ nhưng lửa lại bị nước dập
tắt (Thủy khắc Hỏa);
+ Cũng không thể mang mệnh
Mộc được, bởi tuy “Nhờ nước cây xanh mọc và lớn lên” tức Thủy sinh Mộc nhưng rễ
cấy đâm xuyên vào đất (Mộc khắc Thổ);
Mộc còn ham phá rừng nữa!.
- Vậy người đó chỉ có thể
mang mệnh KIM! Lòng đất tạo nên Kim loại, tức Kim tạo ra từ Thổ; Kim loại vào
lò chảy nước, tức Thủy do Kim sinh! Hợp quá còn gì!!!
Đặc biệt nữa là “kim” gợi
nhớ hình tượng “thiết diện vô tư”, cần lắm một quan đầu tỉnh, đầu thành xứng đáng
mọi mặt trong lúc này !
Tôi không tuyên truyền
cho duy tâm, không “gái góa lo chuyện triều
đình”,...chỉ thử phân tích theo quan niệm của trường phái địa danh học mà
mình đang tập tọng, mầy mò học hỏi chiê mngẫm với tình yêu thiết tha với “tỉnh
ta”-“tỉnh mình”, nhất là trong khi dư luận đang ồn ã chuyện: Lào Cai –Yên Bái “sẽ về chung một nhà” và thành phố Yên Bái được chọn làm tỉnh lỵ tỉnh
hợp nhất!
Lại nữa: hồi 1978, thị xã
Yên Bái từng là tỉnh lỵ của Hoàng Liên Sơn nhưng hồi đó tình thế khác và những
ai “đóng đô” ở đó thì rõ “hoàn cảnh” ra sao rồi!
TÔI TIN VÀO TƯƠNG LAI
Nhìn chung Yên Bái là tỉnh
có tiềm năng phát triển kinh tế, tiềm năng du lịch, nhiều yếu tố thuận lợi về
con người-xã hội..
Cái tên Yên Bái xuất hiện
dày trên báo chí trong mấy năm qua bởi nhân tai và thiên tai dồn dập, đặc biệt
là thảm án vào tháng 8-2016 khi bí thư tỉnh ủy và trưởng ban tổ chức bị sát hại
bởi của tiếng súng oan nghiệt của CTC KL (con
rể của cựu LĐ tỉnh),…nhưng bây giờ Yên Bái đã khác, kể cả chuyện nắng mưa,
chuyện con người, “dớp cũ”, ...
Đặc biệt trong quá trình
lịch sử, nơi đây luôn là vùng đất có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, cửa
ngõ lên Tây Bắc (vùng Sơn La, Lai Châu,
Điện Biên, Lào Cai), như “giậu” như “phên” án ngữ, che chắn cho trung châu,
đồng bằng và Kinh đô; như “Then” làm “chốt” giữ cửa vào vùng địa linh! vị thế
chiến lược là cửa ngõ của vùng kinh tế Tây Bắc.
Năm 2021, bất chấp những ảnh
hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 lên các ngành kinh tế, Yên Bái đã ghi nhận
tăng tổng sản phẩm đạt 7,11%, đứng thứ 2/14 tỉnh vùng Trung du và miền núi phía
Bắc. Chỉ số này tương đương cao gấp 1,4 lần bình quân chung của vùng và đứng thứ
12/63 tỉnh, thành toàn quốc.
Từ những đòn bẩy sẵn có, ngoài
các dự án như đường nối Quốc lộ 32C - Quốc lộ 37 - đường Yên Ninh; đường nối Quốc
lộ 32 - Quốc lộ 37 - cao tốc Nội Bài - Lào Cai (IC12)... tỉnh còn khởi công mới
một số dự án trọng điểm như: Đường nối Tỉnh lộ 163 - cao tốc Nội Bài - Lào Cai;
cải tạo đường nối Quốc lộ 37 - cao tốc Nội Bài - Lào Cai (IC15); Trung tâm Hội
nghị tỉnh; Mở rộng công viên Yên Hòa... phấn đấu đưa thành phố Yên Bái trở
thành đô thị loại II.
Trong số những điểm đến
hiện nay, hồ Thác Bà – “Vịnh Hạ Long trên cạn”, đã được phê duyệt quy hoạch xây
dựng khu du lịch quốc gia đến năm 2040.
Trong số các dự án bất động
sản đang được triển khai trên địa bàn Yên Bái, TNR Stars Yên Bái City với vị
trí cửa ngõ kết nối tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai với thành phố Yên Bái đang
nhận được sự quan tâm của giới đầu tư.
Bởi vậy, ngoài hệ thống dịch
vụ - tiện ích được đầu tư trong nội khu, xung quanh dự án cũng được bao bọc bởi
hệ thống tiện ích đã được vận hành ổn định. Khu vực trung tâm thành phố, ga Văn
Phú, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện lao phổi, trường cao đẳng nghề, sân
golf... cao tốc Hà Nội - Lào Cai ...
Trong bối cảnh hiện tại,
quá trình đô thị hóa tại Yên Bái đang diễn ra mạnh mẽ cùng những chính sách
kích cầu đầu tư thuận lợi, là cơ hội đầu tư sinh lời hấp dẫn cho nhiều khách
hàng.
Việc có nên chọn một nới
có cái tên, lịch sử như đã phân tích, lại ở cuối tỉnh,…làm lỵ sở hay không là
quyền của lãnh đạo và dân chúng đâu thuộc về cas nhân nhỏ nhoi! Chỉ biết đưa ra
ý kiến thôi!
- Góc nhìn khác của Lương Đức Mến
về Yên Bái, để Yên Bái không xa ngái mà gần gũi, thân thiện, những ngày Hạ tuần
tháng 2 năm Ất Tỵ-