[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


21 tháng 3 2025

SAO CHO YÊN BÁI KHỎI...XA NGÁI XA NGƠ !

Từng có 10 năm sinh cơ lập nghiệp, công tác tại thị xã (nay là thành phố) Yên Bái nhưng từ khi chuyển lên “khai hoang tại chính quê” thì tôi đã coi nơi đây là “tỉnh mình” và chỉ qua lại khi thật cần thiết.

Nay rộ lên việc “nhập lại 2 tỉnh” rồi “thủ phủ quay lại” nơi tôi từng ở từ 1981-1991,… bỗng dưng thấy cần viết một đôi điều về nơi đây.

Thấy mọi người đã ào ạt viết, khen có, chê có,…nên tôi đi theo hướng nhớ lại những gì mình đã trải, đã nghe, đã tìm hiểu, cảm nhận.

KHÁI QUÁT       

Yên Bái là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có 30 dân tộc anh em cùng chung sống và có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Là “cửa ngõ phên dậu” vùng Tây Bắc, nơi giao thoa của hai khu vực Đông Bắc - Tây Bắc, của những nền văn hoá đa sắc tộc, hình thành nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Thiên phú và sự sáng tạo trong lao động của cộng đồng các dân tộc Yên Bái đã tạo nên một vùng đất nhiều tiềm năng. Cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân các dân tộc Yên Bái đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Sự hấp dẫn của vùng đất này là hình sông thế núi, được kiến tạo dọc sông Hồng trên nền phù sa cổ sinh, với những cánh đồng bằng phẳng đan xen cùng núi non ngoạn mục vươn sát bờ sông tạo thành những lát cắt phóng khoáng, trùng điệp, đó là tặng vật của thiên nhiên để con người gây dựng nên những xóm làng trù mật và thanh bình. Từ đây, những khát vọng về sự yên ấm thơ mộng được đặt cho các tên làng, trở thành dấu ấn không thể phai nhạt như Châu Quế, Yên Hưng, Lan Đình, Cổ Phúc, Yên Lương, Âu Lâu, Bình Phương, Linh Thông, Minh Quân, Nga Quán… Những tên làng nhắc tới là biết ngay đất Yên Bái.

Dải đất này trầm tích bao bí mật của quá khứ, từ thủa xa xưa. Những kết quả khảo cổ học cho thấy đây là vùng đất có lịch kỳ từ thời đá mới trải dài tới đồ đồng, đồ sắt. Tiêu biểu nhất tương ứng với thời kỳ đá Sơn Vi tìm thấy ở Mậu A, được các nhà khảo cổ đánh giá là di chỉ có những đặc trưng nổi trội nhất. Dọc lưu vực sông là quê hương của thạp đồng Đào Thịnh, thạp đồng Hợp Minh nổi tiếng quốc gia cùng vô số đồ đồng phát lộ, được người xưa chôn giấu dọc dải đất hai bên bờ sông. Vùng đất này cũng là vùng còn chứa nhiều bí ẩn đầy ký ức của cư dân cổ xưa, đang rất cần được các nhà khoa học khám phá.

 Cùng với trí tuệ và bàn tay tạo dựng của con người, nhiều nơi ngoài việc trồng lúa nước còn phát triển các làng nghề: trồng dâu nuôi tằm, đan lát thủ công làm miến, kéo mật, cùng với những rừng quế bạt ngàn, những nương chè ngút ngát xanh tươi. Các làng văn hóa được tạo dựng, chính là nơi giữ gìn cảnh quản môi trường thiên nhiên và bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian được bao thế hệ lưu truyền. Ở đây có thể bắt gặp cái lạ và độc đáo của khèn “ma nhí”, sáo “cúc kẹ” dân tộc Xa Phó, cũng như sự huyền linh trong “tết nhẩy” của dân tộc Dao và các giá trị phi vật thể khác đang tiềm ẩn trong nhân dân. Đó là kết quả của lao động sản xuất và nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân các dân tộc sáng tạo nên.

Đồng hành cùng với lịch sử, các giá trị văn hóa tinh thần được xác lập cùng với tín ngưỡng bản địa, các đình đền miếu mạo được nhân dân tôn ái xây dựng. Những đền chùa nổi tiếng trong vùng như đền Đông Cuông, Tuần Quán, Nhược Sơn, chùa Bách Lẫm, Ngọc Am được tu bổ, đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân và cũng là các di tích văn hóa gắn với các truyền tích được người dân lưu giữ. Các dấu tích đình đền còn gắn với các sự kiện lịch sử từng xảy ra trên mảnh đất này đó là, đền Nhược Sơn gắn với tên tuổi Hà Bổng, Hà Chương thời kỳ chống Nguyên Mông; Đền Đông Cuông (còn gọi là đền Thần Vệ Quốc) gắn với khởi nghĩa Giáp Dần (1914) của đồng bào Tày, Dao địa phương chống thực dân Pháp, đền Tuần Quán gắn với khởi nghĩa Yên Bái tháng 2 năm 1930 của các chí sĩ yêu nước tụ họp ở đây trước khi khởi sự. Thành phố Yên Bái còn nổi bật di tích lịch sử văn hóa Lễ đài nơi Bác Hồ nói chuyện với các nhân dân các dân tộc Yên Bái (ngày 25/9/1958) giữa trung tâm thành phố, một địa chỉ quen thuộc với cả nước là di tích lịch sử văn hóa: Lăng mộ Nguyễn Thái Học và các nhà yêu nước hy sinh năm 1930 trong khởi nghĩa Yên Bái chống thực dân Pháp nổi tiếng đương thời, được tọa lạc trong công viên Yên Hòa khoáng đạt.

Trung tâm Yên Bái còn là nơi cửa ngõ nối giữa Đông Bắc với Tây Bắc của Tổ quốc, có đường sắt và đường bộ nối Hà Nội và các tỉnh đồng bằng trung du với Vân Nam - Trung Quốc. Nơi đây còn có chiến khu Vần - Dọc thời kháng chiến chống Pháp, có bến phà Âu Lâu đã trở thành di tích lịch sử văn hóa của địa phương.

  Có thể tự hào rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã giác ngộ, giáo dục, tập hợp, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, sức mạnh của cả đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, công nhân, nông dân, trí thức, lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh làm nên kỳ tích anh hùng - một tỉnh Yên Bái phát triển toàn diện, vững bước đi lên cùng cả nước trong sự nghiệp đổi mới - công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

  “Lịch sử là dòng chảy, truyền thống là hành trang”, chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh những năm qua là niềm tự hào về những chiến công, những thành tích đã đạt được, đồng thời cũng nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, mục tiêu trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu xây dựng Yên Bái trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.

NHỚ LẠI

1. Thời sinh viên, mỗi năm đi qua Yên Bái ít nhất 4 bận (để xuống Trường hay về nhà) và toàn đi bằng Xe lửa nên thấm câu: “thò tay ra ngoài cửa sổ tầu nếu thấy mưa, đó là Yên Bái”!

Buổi đầu công tác và bước vào quan trường, 10 năm sống ở Yên Bái (với tư cách là tỉnh lị của tỉnh hợp nhất Hoàng Liên Sơn) tôi có lắm kỷ niệm về  công tác cũng như chuyện riêng tư nên càng hiểu hơn về thị xã (nay là thành phố) này.

Tháng 11/1991 trở lại Lào Cai, nhưng vẫn nhớ Yên Bái bởi: “Lào Cai là tỉnh của ta, Dưới kia Yên Bái hóa ra tỉnh mình” nên mỗi “chuyển mình” của “tỉnh anh em” chúng tôi đều theo dõi kỹ, cùng vui, cùng đau.

Khi thủ trưởng cũ (ông HTS) của mình “ngã ngựa” trên cương vị quan đầu tỉnh (CT), nhiều đồng liêu hay cỡ em tôi bị “gẫy cánh”,...  tôi đã “giật mình”!.

Tháng 8/2016, vụ việc “chấn động” mà “cả đời làm KTHS chưa gặp”, “70 năm dân chủ cộng hòa” mới xẩy ra lần đầu,… lại càng “giật mình” hơn!

Nhưng đến khi rối lên về những “biệt phủ”, “bắt phóng viên nhận tiền tại trận”,... tôi không thể giật mình nổi nữa mà thấy nhói trong tâm nên âm thầm đi tìm hiểu về nguyên cớ và cách khắc chế, dù chả ai khiến !!!

Những nguyên nhân và giải pháp về chính trị, đạo đức và vân vân gì đó nhiều người đã mổ xẻ và nó cũng chả thuộc phạm vi quan tâm, tìm hiểu của tôi nên tôi chỉ xem lướt qua để biết mà... để đấy!!!

Phần mình, tôi đi tìm, lý giải và mong muốn theo hướng khác!

2. Lần lại lịch sử:

 Vùng đất “cửa ngõ lên Tây Bắc” nước ta thuở đầu của nền quân chủ  (Ngô, Đinh, Tiền Lê) thì các châu cơ mi (Ki Mi 羈縻, châu có sự ràng buộc lỏng lẻo để còn trị gián tiếp, duy trì đến nỗi không bị tuyệt diệt), các động vẫn do các tù trưởng 酋長, hậu duệ của người Âu Việt (甌越, TKIII-225 TCn) cai quản nên khu vực mà nay là thành phố “yêu bé” (Yên Bái) chả rõ thuộc đâu.

Sang thời Quân chủ: Khi thay nhà Tiền Lê 前黎, nhà Lý (李氏, 1009-1225) dời đô ra Đại La (1010), nhân khi nước Đại Lý (大理, 937-1253, vùng Vân Nam bên Trung Quốc nay) suy yếu, năm 1159 vua Lý Anh Tông (李英宗, 1136 - 1175) cùng Tô Hiến Thành (蘇憲誠, 1102 - 1179) đã chinh Tây, tiến hành thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số ở vùng này và nhập vùng đất đó vào địa đồ Đại Việt (大越, 1054-1400 và 1428- 1804). Trong 12 lộ , 6 phủ , 25 châu mà Lý Thánh Tông (李聖宗, 1054-1072) định ra khi đổi quốc hiệu là Đại Việt  chép ở “Toàn thư” thì châu Chân Đăng 真登州 (hay đạo Lâm Tây 林西道) có đất vùng Lào Cai, Yên Bái nay.

Tháng 6 năm Quang Thuận 光順 thứ bảy (1466), Lê Thánh Tông (黎聖宗, 1442 – 1497) đặt 13 đạo thừa tuyên 承宣 có thừa tuyên Hưng Hóa 興化 bao gồm đất đai các tỉnh  Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai ngày nay. Sau đó vùng này được đổi là xứ Hưng Hóa (1490) rồi trấn Hưng Hoá (1800).

Đến năm Tân Mão 1831, Minh Mạng lập tỉnh và Hưng Hóa là một trong số 13 tỉnh 北圻三十省 được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ (北圻, 1834-1945), là cấp hành chính cấp trên của các huyện thuộc Yên Bái nay.

Dưới thời thuộc Pháp 法屬時代

Đến khi hoàn thành việc bình định quân sự, người Pháp phân chia lại khu vực hành chính và cho thành lập các tỉnh dân sự. Các địa phương thuộc tỉnh Hưng Hoá (cũ) liên tiếp được tách ra thành lập: tỉnh Chợ Bờ (18/3/1891, tức tỉnh Mường, sau đổi thành tỉnh Hòa Bình), tỉnh Yên Bái (1895, chính thức 11/4/1900), tỉnh Vạn Bú (1895, sau đổi thành tỉnh Sơn La vào 23/8/1904) và tỉnh Lai Châu (tháng 6 năm 1909). Ngày 5 tháng 5 năm 1903 phần còn lại của tỉnh Hưng Hóa được đặt tên thành tỉnh Phú Thọ (05/5/1903); riêng vùng Lào Cai được chuyển từ Đạo Quan binh 4 thành tỉnh dân sự vào ngày 12/7/1907.

Trong đó, ngày 11/4/1900, Pháp lấy các hạt Bảo Hà, Nghĩa Lộ, Yên Bái của Hưng Hóa cũ và châu Lục Yên của Tuyên Quang để lập tỉnh Yên Bái với tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái, tổng Bách Lẫm (huyện Trấn Yên).

Như thế Yên Bái cũng như Lào Cai được trích từ Đạo quan binh thứ IV (một phần tỉnh Hưng Hóa cũ) mà ra và danh xưng “Yên Bái” chính thức ra đời, chỉ đơn vị  hành chính cấp tỉnh từ ngày 11/4/1900! 

Cách mạng tháng Tám 1945

Ban Cán sự Đảng liên tỉnh Phú Thọ - Yên Bái đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc vũ trang khởi nghĩa và thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng. Ngày 6/7/1945, Đội du kích Âu Cơ chia làm 3 mũi tiến công tập trung tại Ba Khe tiến vào giải phóng Nghĩa Lộ.

Ủy ban lâm thời châu Văn Chấn - chính quyền cấp huyện đầu tiên của vùng Tây Bắc đã được thành lập dịp đó. Sau đó đã đưa một số bộ phận vũ trang xuống phía Bắc Phú Thọ phối hợp cùng du kích và tự vệ địa phương tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, một bộ phận khác đi giải phóng các vùng lân cận.

Trong bối cảnh đó, Nghĩa Lộ được giải phóng, Đội du kích Cổ Văn tiến vào giải phóng châu lỵ Lục Yên, ta tiếp quản huyện lỵ Yên Bình, giải phóng châu Văn Bàn (5/8) và châu Than Uyên (7/8).

Hưởng ứng Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, quân giải phóng vượt sông Hồng ở bến Âu Lâu, Ngòi Chanh, Bảo Hưng tiến đánh quân Nhật ở thị xã.

Nhận thấy tình thế sẽ bị tiêu diệt, ngày 18/8, quân Nhật lệnh cho Tuần phủ Yên Bái cử 5 người do “đốc tờ Đệ” phụ trách y tế tỉnh dẫn đầu mang cờ trắng sang Âu Lâu xin gặp và mời chỉ huy của ta sáng hôm sau sang thị xã để quân Nhật bàn giao tỉnh cho quân cách mạng.

Ngày 20 và 21/8/1945, các đơn vị vũ trang cách mạng và Ủy ban Khởi nghĩa chính thức tiếp quản thị xã - địa bàn cuối cùng của tỉnh Yên Bái hoàn toàn giải phóng. Ngày 22/8/1945 , Ban Cán sự Đảng đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng ở sân Căng, thị xã Yên Bái với sự góp mặt của đồng bào các dân tộc thị xã và các huyện lân cận.

Theo Hiến pháp năm 1946: Nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc (có 27 tỉnh và 2 thành phố trong đó có tỉnh Yên Bái), Trung (có 18 tỉnh), Nam (có 20 tỉnh).

Từ sau 1954:

Theo Hiến pháp năm 1959, Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn. Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị do luật định.

Miền Bắc Việt Nam có 2 khu tự trị, được thành lập từ năm 1955-1956: Khu tự trị Tây Bắc (ban đầu gọi là Khu tự trị Thái Mèo) và Khu tự trị Việt Bắc. Khu tự trị Tây Bắc lúc đầu chỉ có các cấp châu (tương đương huyện) và xã, bỏ cấp tỉnh, nhưng đến năm 1963 đã lập lại các tỉnh.

Bắc Bộ có 26 tỉnh, có tỉnh Yên Bái, đặc khu Hòn Gai, và 2 thành phố Hà Nội, Hải Phòng.

Theo Hiến pháp năm 1980, Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.

Ngày 3 tháng 1 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam quyết định thống nhất tên gọi các đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị thuộc các thành phố, thị xã là phường (trước đây là tiểu khu), dưới cấp quận (trước đây là khu).

Năm 1976 cả nước có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh (35 tỉnh và 3 thành phố).

a/ Bắc Bộ có 13  (Yên Bái nằm trong tỉnh Hoàng Liên Sơn) và 2 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng. Sau đó có sự tách nhập tỉnh mà các đợt lớn là vào năm 1978, 1979, 1991, 1996, 1997, 2004.

Trong đó, ngày 27 tháng 12 năm 1975, Yên Bái cùng với Lào Cai và một phần Nghĩa Lộ (Than Uyên, Mù Cang Chải, Trạm Tấu còn Bắc Yên, Phù Yên sáp nhập vào tỉnh Sơn La) hợp nhất thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Tỉnh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 3/1/1976.

Sau 15 năm chung sống, đến 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Yên Bái được tái lập từ tỉnh Hoàng Liên Sơn (trừ 2 huyện là Bảo Yên và Văn Bàn vốn trước thuộc Yên Bái, Than Uyên thuộc Nghĩa lộ cũ chuyển sang Lào Cai). 2 tỉnh này chính thức hoạt động từ ngày 1/10/1991.

3. Ngẫm về danh xưng:

Chưa tìm được tư liệu thành văn về nguyên do và ý nghĩa của địa danh nên không hiểu sao, năm 1900 khi tách từ tỉnh Hưng Hóa (1831- 1903) ra lại đặt tên tỉnh này là YÊN BÁI (安沛省), tên một làng xưa thuộc tổng Bách Lẫm, huyện Trấn Yên (có 5 tổng: Bách Lẫm, Giới Phiên, Lương Ca, Yên Phú, Đông Cuông).

Chỉ khảo cứu được rằng: ngày 9 tháng 9 năm 1891, toàn quyền Đông Dương quy định đạo lỵ quan binh Yên Bái đặt tại xóm Đồng Thị, xóm Gò Cau làng Yên Bái, tổng Bách Lẫm huyện Trấn Yên.

Thị xã Yên Bái được hình thành là trung tâm của tỉnh nằm ở chân đồn Cao - khu vực quân sự của thực dân Pháp (phường Nguyễn Phúc ngày nay) với diện tích chưa đầy 2km­2. Năm 1905, một số làng thuộc tổng Bách Lẫm được đưa vào thị xã và lúc đầu chỉ là một phố thuộc phủ Trấn Yên rồi dần dần hình thành 4 khu phố nhỏ là phố Hội Bình, Yên Lạc, Yên Hòa, Yên Thái (khu vực phường Hồng Hà ngày nay). Dần mở rộng như ngày nay.

Tỉnh do người Pháp đặt nhưng địa danh lại lấy theo tên cổ nên buộc phải khảo cứu từ chữ Nho

3.1. Từ 2 thành tố cấu thành địa danh:

- Trong Hán tự có tới 24 chữ mà âm Hán Việt đều đọc là “yên” (đúng ra là “an”) : , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , 𦒜.

Thư tịch cổ dùng chữ “yên” thứ 5 này “” để ghi địa danh và chữ này :

+ Có nghĩa là: như  “bình an” 平安,  “trị an” 治安, v.v.; Ðịnh, không miễn cưỡng gì gọi là “an”. Như  “an cư lạc nghiệp” 安居樂業 yên ở vui với việc làm; Làm yên, như “an phủ” 安撫 phủ dụ cho yên, “an ủy” 安慰 yên ủi; Tiếng giúp lời. Nghĩa là Sao vậy, như “ngô tương an ngưỡng” 吾將安仰 ta hầu ngưỡng vọng vào đâu ? “Nhi kim an tại” 而今安在 mà nay còn ở đâu ? ; Ðể yên, như “an trí” 安置 để yên một chỗ, “an phóng” 安放 bỏ yên đấy.

+ Nó có mã là U+5B89, thuộc bộ “miên” , hành Thổ , tính Cát

-  Trong Hán tự có tới 20 chữ mà âm Hán Việt đều đọc là “bái” (đúng ra là “phái”: , , , , , , , , , 浿 , , , , , , , , , ,.

Cổ thư sử dụng chữ thứ 7, tức chữ này ghi tên tỉnh

+ Chữ này là có nghĩa là “ lụn, đổ nát; bãi cỏ, bãi đất hoang”. Nó là  Danh từ chỉ Bãi cỏ, chỗ vũng nước mọc cỏ, đất bỏ hoang mọc cỏ:  “Phái trạch đa nhi cầm thú chí” 沛澤多而禽獸至 (Đằng Văn Công hạ 滕文公下) Vũng cỏ chằm nước nhiều thì chim muông đến; là Phó từ chỉ  Dồi dào, sung sức, hưng thịnh: “sung phái” 充沛 đầy dẫy, mạnh mẽ “Phái nhiên hạ vũ” 沛然下雨 (Lương Huệ Vương thượng 梁惠王上) Mưa xuống sầm sập. Ðiên bái, gặp sự hoạn nạn, vì hoàn cảnh làm nghiêng ngửa gọi là điên phái 顛沛.

Đúng ra là “phái” nhưng mgười Việt ta quen đọc là “bái”cũng như chữ “an” ta hay đọc là “yên” nên theo mặt chữ lẽ ra là AN PHÁI xưa nay toàn đọc là YÊN BÁI. Chả sao!

+ Nó có mã là U+6C9B, thuộc bộ “thủy” , hành Thủy , tính Cát , tổng 7 nét.

3.2. Như thế:

- “Yên Bái” một cái tên không đẹp, không hướng tới sự ổn định, phát triển mà còn bao hàm ý bất ổn, điềm không may đến dồn dập về mặt Hán tự!

- Ngay trong cái tên đã biểu hiện sự xung khắc: mặc dù có nước (thủy ) thì đất (thổ ) mới có giá trị trồng trọt nhưng đất đắp bờ ngăn nước song nước quá mạnh lại phá bung bờ, bung đập (“quá mù ra mưa” là thế).

Thế mới biết, cái tên không phải chỉ để gọi!

Viết đến đây, chợt giật mình nhớ lại: theo Hồi kí của một vị nguyên lãnh đạo tỉnh HLS thì ban đầu khi bàn “hợp tỉnh” đã từng có những phương án đặt tên tỉnh hợp nhất như sau: Hoàng Liên Sơn (với nghĩa 3 tỉnh đều cùng chung dây mạch dãy núi HLS), Hồng Hà (con sông chẩy qua Lào Cai, Yên Bái), Hưng Hóa (tên thời Lê Nguyễn là địa phận của 3 tỉnh) hoặc Lào Yên Nghĩa (ghép chữ đầu 3 tỉnh dạng Hà Nam Ninh) hay Cai Bái Lộ (ghép chữ sau của tên 3 tỉnh!).

Cuối cùng cái tên Hoàng Liên Sơn được chọn (quyết định là của cụ Trường Chinh), là một trong 35 tỉnh và 3 thành phố hồi đó. Nếu hồi 1976 mà chọn cái tên CAI BÁI LỘ thì không biết quê tôi sẽ ra sao!?

3.3. Giả sử và ước mong:

Nay nếu đấng tối cao quyết lấy Thành phố Yên Bái làm lỵ sở tỉnh mới hợp nhất (dễ lắm) thì với địa danh đó, người “chủ nhà” cần:

- Không quá vượng “Thổ”, “Thủy” bởi như thế sẽ “vượng” quá mà cái gì quá ắt tiêu! Đơn giản là ham chiếm đất, đào ao là “quá vượng” rồi lại làm nhà lớn, xấy biệt phủ là “vượng mộc” mà MỘC LẠI KHẮC THỔ!

- Nhưng người đó không được “khắc” Thổ và Thủy!

- Lại không thể:

+ Mang mệnh Hỏa được, bởi tuy “Tro tàn tích lại đất vàng thêm” tức Hỏa sinh Thổ nhưng lửa lại bị nước dập tắt (Thủy khắc Hỏa);

+ Cũng không thể mang mệnh Mộc được, bởi tuy “Nhờ nước cây xanh mọc và lớn lên” tức Thủy sinh Mộc nhưng rễ cấy đâm xuyên vào đất (Mộc khắc Thổ); Mộc còn ham phá rừng nữa!.

- Vậy người đó chỉ có thể mang mệnh KIM! Lòng đất tạo nên Kim loại, tức Kim tạo ra từ Thổ; Kim loại vào lò chảy nước, tức Thủy do Kim sinh! Hợp quá còn gì!!!

Đặc biệt nữa là “kim” gợi nhớ hình tượng “thiết diện vô tư”, cần lắm một quan đầu tỉnh, đầu thành xứng đáng mọi mặt trong lúc này !

Tôi không tuyên truyền cho duy tâm, không “gái góa lo chuyện triều đình”,...chỉ thử phân tích theo quan niệm của trường phái địa danh học mà mình đang tập tọng, mầy mò học hỏi chiê mngẫm với tình yêu thiết tha với “tỉnh ta”-“tỉnh mình”, nhất là trong khi dư luận đang ồn ã chuyện: Lào Cai –Yên Bái “sẽ về chung một nhà” và thành phố Yên Bái được chọn làm tỉnh lỵ tỉnh hợp nhất!

Lại nữa: hồi 1978, thị xã Yên Bái từng là tỉnh lỵ của Hoàng Liên Sơn nhưng hồi đó tình thế khác và những ai “đóng đô” ở đó thì rõ “hoàn cảnh” ra sao rồi!

TÔI TIN VÀO TƯƠNG LAI

Nhìn chung Yên Bái là tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế, tiềm năng du lịch, nhiều yếu tố thuận lợi về con người-xã hội..

Cái tên Yên Bái xuất hiện dày trên báo chí trong mấy năm qua bởi nhân tai và thiên tai dồn dập, đặc biệt là thảm án vào tháng 8-2016 khi bí thư tỉnh ủy và trưởng ban tổ chức bị sát hại bởi của tiếng súng oan nghiệt của CTC KL (con rể của cựu LĐ tỉnh),…nhưng bây giờ Yên Bái đã khác, kể cả chuyện nắng mưa, chuyện con người, “dớp cũ”, ...

Đặc biệt trong quá trình lịch sử, nơi đây luôn là vùng đất có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, cửa ngõ lên Tây Bắc (vùng Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai), như “giậu” như “phên” án ngữ, che chắn cho trung châu, đồng bằng và Kinh đô; như “Then” làm “chốt” giữ cửa vào vùng địa linh! vị thế chiến lược là cửa ngõ của vùng kinh tế Tây Bắc.

Năm 2021, bất chấp những ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 lên các ngành kinh tế, Yên Bái đã ghi nhận tăng tổng sản phẩm đạt 7,11%, đứng thứ 2/14 tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Chỉ số này tương đương cao gấp 1,4 lần bình quân chung của vùng và đứng thứ 12/63 tỉnh, thành toàn quốc.

Từ những đòn bẩy sẵn có, ngoài các dự án như đường nối Quốc lộ 32C - Quốc lộ 37 - đường Yên Ninh; đường nối Quốc lộ 32 - Quốc lộ 37 - cao tốc Nội Bài - Lào Cai (IC12)... tỉnh còn khởi công mới một số dự án trọng điểm như: Đường nối Tỉnh lộ 163 - cao tốc Nội Bài - Lào Cai; cải tạo đường nối Quốc lộ 37 - cao tốc Nội Bài - Lào Cai (IC15); Trung tâm Hội nghị tỉnh; Mở rộng công viên Yên Hòa... phấn đấu đưa thành phố Yên Bái trở thành đô thị loại II.

Trong số những điểm đến hiện nay, hồ Thác Bà – “Vịnh Hạ Long trên cạn”, đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng khu du lịch quốc gia đến năm 2040.

Trong số các dự án bất động sản đang được triển khai trên địa bàn Yên Bái, TNR Stars Yên Bái City với vị trí cửa ngõ kết nối tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai với thành phố Yên Bái đang nhận được sự quan tâm của giới đầu tư.

Bởi vậy, ngoài hệ thống dịch vụ - tiện ích được đầu tư trong nội khu, xung quanh dự án cũng được bao bọc bởi hệ thống tiện ích đã được vận hành ổn định. Khu vực trung tâm thành phố, ga Văn Phú, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện lao phổi, trường cao đẳng nghề, sân golf... cao tốc Hà Nội - Lào Cai ...

Trong bối cảnh hiện tại, quá trình đô thị hóa tại Yên Bái đang diễn ra mạnh mẽ cùng những chính sách kích cầu đầu tư thuận lợi, là cơ hội đầu tư sinh lời hấp dẫn cho nhiều khách hàng.

Việc có nên chọn một nới có cái tên, lịch sử như đã phân tích, lại ở cuối tỉnh,…làm lỵ sở hay không là quyền của lãnh đạo và dân chúng đâu thuộc về cas nhân nhỏ nhoi! Chỉ biết đưa ra ý kiến thôi!      

- Góc nhìn khác của Lương Đức Mến về Yên Bái, để Yên Bái không xa ngái mà gần gũi, thân thiện, những ngày Hạ tuần tháng 2 năm Ất Tỵ

19 tháng 3 2025

PHÂN CẤP ĐỊA GIỚI hành chính Việt Nam

Phân cấp địa giới hành chính  là sự phân chia các đơn vị hành chính thành từng tầng, cấp theo chiều dọc: cấp hành chính ở trên (cấp trên) sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc đối với cấp hành chính ở dưới (hay cấp dưới). Đây chưa hẳn là sự phân quyền.

Từ xưa đến nay sự phân cấp và địa danh, địa giới các địa phương luôn có thay đổi theo từng thời kỳ:

1. Phân cấp hành chính thời phong kiến hay là thời đại tự chủ 自主時代 được tính từ khi Việt Nam giành được độc lập sau thời kỳ Bắc thuộc 北屬時代 đến khi người Pháp xâm lược Việt Nam hoàn toàn Việt Nam (938 - 1886)

 1.1. Thời nhà Đinh - Tiền Lê:丁朝, 968–980前黎氏, 980-1009:

Nhà Đinh chia cả nước ra làm 10 Đạo , dưới Đạo là Châu , Động , nhà Tiền Lê kế tiếp duy trì như nhà Đinh.

1.2. Thời nhà Lý 李朝, 1010–1225:

Khởi từ Thái Tổ Lý Công Uẩn (李公蘊太祖, 974-1028) đến Lý Chiêu Hoàng tức Chiêu Thánh Công chúa Phật Kim (昭皇昭聖公主佛金, - 1218-1278). Đầu thời nhà Lý, chia cả nước ra thành 24 Lộ , (ngoài ra còn có Phủ, Châu) dưới trung ương, nhưng các sách như Cương mụcToàn thư chỉ chép ra 12 lộ, còn lại 12 lộ không rõ tên. Toàn thư ghi các 12 lộ , 6 phủ , 25 châu như sau:

 Các Lộ: Lộ Thiên Trường, Lộ Quốc Oai, Lộ Hải Đông, Lộ Kiến Xương, Lộ Khoái, Lộ Hoàng Giang, Lộ Long Hưng, Lộ Bắc Giang, Lộ Trường Yên, Lộ Hồng, Lộ Thanh Hóa, Lộ Diễn Châu

Các Phủ : Phủ Đô Hộ; Phủ Ứng Thiên; Phủ Phú Lương; Phủ Nghệ An; Phủ Thiên Đức Phủ Trường Yên

Các Châu: Châu Thảng Do; Châu Thất Nguyên; Châu Định Nguyên; Châu Trệ Nguyên; Châu Quảng Nguyên; Châu Tây Nông; Châu Vạn Nhai; Châu Vũ Lặc; Châu Vũ Ninh; Châu Đăng Châu ; Châu Lộng Thạch; Châu Định Biên; Châu Văn Châu; Châu Lạng Châu; Châu Chân Đăng 眞灯 (hay Đạo Lâm Tây 林西道); Châu Phong,; Châu Bố Chính; Châu Lâm Bình; Châu Minh Linh; Châu Vị Long; Châu Đô Kim; Châu Thường Tân; Châu Bình Lâm; Châu Vĩnh An.

Chú ý: Châu Bố Chính, Lâm Bình, Minh Linh là 3 châu lấy được của Chiêm Thành năm 1069; Đạo Lâm Tây lấy được sau khi Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông đánh bại Đại Lý vào các năm 1014 và 1037.

Về sau sáp nhập và đổi tên một số đơn vị hành chính như: phủ Nghệ An thành trại Nghệ An, Châu Lâm Bình, Minh Linh, Bố Chính gộp lại thành trại Tân Bình, Châu Định Nguyên, Bình Nguyên gộp lại thành trại Quy Hóa.

1.3. Thời nhà Trần 陳朝, 1225-1400

Nhà Trần chia các đơn vị hành chính dưới trung ương là: 9 Lộ, 4 Phủ, 7 Trấn .

Các Lộ: Lộ Đông Đô; Lộ Bắc Giang; Lộ Lạng Giang; Lộ Lạng Sơn; Lộ Long Hưng; Lộ Khoái Châu; Lộ Hoàng Giang; Lộ Hải Đông; Lộ Tam Giang.

Các Phủ: Phủ Kiến Xương; Phủ Kiến Hưng; Phủ Tân Hưng; Phủ Thiên Trường

Các Trấn: Trấn Thiên Quan; Trấn Quảng Oai; Trấn Thiên Hưng; Trấn Thanh Đô; Trấn Vọng Giang; Trấn Tân Bình; Trấn Thuận Hóa.

Ngoài ra: Trấn Thuận Hóa có được sau khi Chiêm Thành cắt dâng năm 1307; Trấn Tân Bình là đổi tên từ trại Tân Bình thời Lý.

Đơn vị hành chính dưới Lộ, Phủ, Trấn: là Châu, dưới Châu là Huyện .

1.4. Thời nhà Hậu Lê 後黎朝, 1428-1788

Vua Thái Tổ Lê Lợi  黎太祖利, 1338- 1433) đã chia cả nước ban đầu thành 4 đạo , đến năm 1428 chia thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa). Dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu và cấp cơ sở là xã .

Năm 1466 vua Lê Thánh Tông Tư Thành 黎聖宗思誠, 1442 – 1497) chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên 承宣, đổi trấn thành châu, đổi lộ thành phủ. Các đơn vị hành chính trực thuộc dưới cấp trung ương (triều đình) là thừa tuyên rồi đổi thành xứ . Quy mô và diện tích các thừa tuyên/xứ tương đương với 2,3 tỉnh hiện nay.

Ví dụ: xứ Sơn Nam tương ứng với: Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên; xứ Nghệ An tương ứng với Nghệ An, Hà Tĩnh; xứ Thuận Hóa tương ứng với Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên; xứ Quảng Nam tương ứng với Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Các Thừa tuyên: Thừa tuyên Thiên Trường (năm 1469 đổi thành Sơn Nam); Thừa tuyên Bắc Giang (năm 1469 đổi thành Kinh Bắc); Thừa tuyên Quốc Oai (năm 1469 đổi thành Sơn Tây); Thừa tuyên Nam Sách (năm 1469 đổi thành Hải Dương 海陽); Thừa tuyên An Bang hay Yên Bang; Thừa tuyên Lạng Sơn; Thừa tuyên Thái Nguyên (năm 1469 đổi thành Ninh Sóc); Thừa tuyên Tuyên Quang; Thừa tuyên Hưng Hóa 興化鎭; Thừa tuyên Thanh Hóa, còn gọi là Thanh Hoa (sau nhập thêm phần đất Thanh Hoa Ngoại, ngày nay là tỉnh Ninh Bình, từ xứ Sơn Nam vào); Thừa tuyên Nghệ An; Thừa tuyên Thuận Hóa; Thừa tuyên Quảng Nam (lập năm 1472, sau khi đánh bại Chiêm Thành).

Ngoài ra: Trung Đô là khu vực kinh đô của triều đình, còn có tên gọi là Đông Kinh, nay là Hà Nội, năm 1469 đổi thành phủ Phụng Thiên.

Hồi mới dựng nước (trước 938) và các thời ( , 939 -965), nhà Hồ ( , 1400 — 1407), nhà Hậu Trần ( , 1407 — 1413), nhà Tây Sơn 西山朝, 1788-1802)… và một số thời kỳ lệ thuộc ngoại bang khác do ít biến động lại khó tìm hiểu nên không kê cứu ra đây.

1.5. Thời nhà Nguyễn 阮朝,1802-1945,

1.5.1. Vua Gia Long Nguyễn Ánh (嘉隆阮福暎, 1762 –1820) chia cả nước thành 23 trấn, 4 doanh (dinh) .

a/ Bắc Thành (Bắc Bộ ngày nay) gồm 11 trấn, hợp thành tổng trấn:

Ngũ nội trấn: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương.

Lục ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Thái Nguyên.

b/ Miền Trung gồm 7 trấn và 4 doanh:

4 doanh trực lệ (直隸四營Trực lệ tứ doanh): Quảng Đức (tức vùng Thừa Thiên), Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam. Dinh Quảng Nam năm 1808 đổi thành trấn Quảng Nam, dinh Quảng Đức năm 1821 đổi thành phủ Thừa Thiên.

7 trấn: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận. Sau này, Quảng Nghĩa do kỵ húy tên Chúa Nguyễn Phúc Toản nên đổi thành Quảng Ngãi.

c/ Gia Định Thành (Nam Bộ ngày nay), bao gồm 5 trấn, hợp thành tổng trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên.

1.5.2. Từ năm 1831-1832, vua Minh Mạng Phúc Đảm (明命阮福膽, 1791 – 1841) lần đầu tiên chia thành 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên, trực tiếp dưới cấp trung ương (triều đình). Dưới tỉnh là phủ, huyện .

a/ Bắc Kỳ gồm 13 tỉnh (Bắc Kỳ thập tam tỉnh, 北圻十三, 1831): Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Hóa, Hưng Yên, Lạng Sơn, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Yên, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang.

b/ Miền Trung gồm 11 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị (5 tỉnh này lập ra năm 1831, các tỉnh còn lại lập ra năm 1832), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Thuận. Ngoài ra vẫn tồn tại phủ Thừa Thiên ngang cấp tỉnh, trực thuộc kinh sư. Thời kỳ 1853-1876, tỉnh Quảng Trị đổi thành đạo Quảng Trị, thuộc phủ Thừa Thiên. Từ ngày 6 tháng 6 năm 1884, miền Trung có 12 tỉnh, trong đó hai tỉnh mới là Thừa Thiên và Quảng Trị.

c/ Nam Kỳ gồm 6 tỉnh (Nam Kỳ lục tỉnh, 南圻六1832): Phiên An (năm 1836 đổi thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

2. Phân cấp hành chính thời Pháp thuộc 屬時代 (1863 - 1945).

Sau khi chiếm hoàn toàn Việt Nam, người Pháp chia cả nước ra làm 3 kỳ (tương đương với 3 quốc gia) và cùng với Campuchia, Lào trở thành 5 xứ trực thuộc Đông Pháp (Indochine française).

- Tonkin (Bắc kỳ): từ Ninh Bình ra bắc là xứ bảo hộ bởi Pháp (protectorat)

- Annam (Trung kỳ): từ Thanh Hóa vào Bình Thuận là một xứ bảo hộ

- Cochinchine (Nam kỳ): từ Đồng Nai vào Hà Tiên là một thuộc địa (colonie) và hoàn toàn thuộc Pháp

Trị sự các kỳ gồm có Thống đốc (Gouverneur) ở Nam kỳ, Thống sứ (Résident supérieur) ở Bắc kỳ, Khâm sứ (Résident général, sau 1888: Résident supérieur) ở Trung kỳ tương đương với “thủ tướng”. Dưới các kỳ là các tỉnh với một viên Công sứ (Résident) tương đương với “tỉnh trưởng/chủ tịch tỉnh” người Pháp đứng đầu. Quy mô và vị trí các tỉnh tương tự các tỉnh ngày nay.

2.1. Phân cấp ở Nam kỳ

Nam kỳ là khu vực người Pháp chiếm được sớm nhất của Việt Nam, sau khi chiếm lần lượt 3 tỉnh miền Đông và kế tiếp là 3 tỉnh miền Tây, Pháp đã chia tách các tỉnh được thành lập thời vua Minh Mạng:

Gia Định chia ra 3 tỉnh: Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh

Biên Hòa chia ra 3 tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một

Định Tường chia ra 3 tỉnh: Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc

Vĩnh Long chia ra 3 tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre

An Giang chia ra 3 tỉnh: Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng

Hà Tiên chia ra 4 tỉnh: Hà Tiên, Rạch Giá, Long Xuyên, Bạc Liêu

Như vậy, vùng đất Nam kỳ lục tỉnh được người Pháp chia ra làm 19 tỉnh có vị trí gần tương tự như ngày nay.

2.2. Các tỉnh mới ở Bắc kỳ

Năm 1886, sau khi chiếm hoàn toàn Bắc kỳ, Pháp thành lập mới các tỉnh:

Chợ Bờ (tỉnh Mường), năm 1886 (sau là tỉnh Hòa Bình), từ các khu vực người Mường của các tỉnh: Hưng Hóa, Sơn Tây, Ninh Bình và Hà Nội cũ

Lào Cai (1886-1891, tái lập 1907) từ Đạo quan binh thứ IV (một phần của tỉnh Hưng Hóa cũ)

thành phố Hải Phòng, năm 1888 (năm 1887 là tỉnh Hải Phòng), từ vùng biển Ninh Hải của tỉnh Hải Dương cũ

thành phố Hà Nội, năm 1888

Hà Nam năm 1890, từ phủ Lý Nhân của tỉnh Hà Nội cũ

Thái Bình, năm 1890 từ hai phủ Kiến Xương và Thái Bình (sau đổi thành Thái Ninh) của tỉnh Nam Định, kết hợp với phủ Tiên Hưng từ tỉnh Hưng Yên cắt sang.

Lai Châu, năm 1893 tách từ tỉnh Vạn Bú

Bắc Giang năm 1895, tách từ tỉnh Bắc Ninh

Vĩnh Yên năm 1899, tách từ tỉnh Sơn Tây và huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên

Yên Bái (năm 1900) từ Đạo quan binh thứ IV (một phần tỉnh Hưng Hóa cũ)

Cầu Đơ, năm 1902, (sau đổi thành tỉnh Hà Đông), từ hai phủ Ứng Hòa và Thường Tín, là phần còn lại của tỉnh Hà Nội cũ

Phú Thọ (năm 1903), từ phần đất còn lại của tỉnh Hưng Hóa cũ

Phúc Yên năm 1904

Sơn La, năm 1904 (lúc đầu tên là tỉnh Vạn Bú, 1895), tách từ tỉnh Hưng Hóa

Kiến An, năm 1906 (trước đó là tỉnh Hải Phòng, năm 1887, rồi đổi tên là tỉnh Phủ Liễn, năm 1902)

Hải Ninh, năm 1906

Hà Giang

Đông Giang

2.3. Các tỉnh mới ở Trung kỳ

Các tỉnh duyên hải gần như là giữ nguyên. Riêng các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, vào thời trước chưa được phân chia hành chính, thì đến thời kỳ này mới được phân chia: tỉnh Kon Tum; tỉnh Đăk Lăk, được tách từ xứ Lào thuộc Pháp năm 1904.

3. Thời kỳ 1945-1954

Sự phân cấp hành chính theo Hiến pháp năm 1946: Nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã (chương V, Điều thứ 57).

Như vậy vào thời kỳ này các đơn vị hành chính của Việt Nam được phân thành 4 cấp, ngoài các cấp xã, huyện, tỉnh như sau này vẫn còn thì còn có cấp Bộ (cả nước có 3 Bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ). 65 tỉnh thời kỳ 1945-1946 là:

a/ Bắc Bộ có 27 tỉnh (Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Đông, Hà Giang, Hà Nam, Hải Dương, Hải Ninh, Hoà Bình, Hưng Yên, Kiến An, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Phúc Yên, Quảng Yên, Sơn La, Sơn Tây, Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Yên Bái) và 2 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng). Năm 1950, hợp nhất Phúc Yên và Vĩnh Yên thành Vĩnh Phúc.

b/ Trung Bộ có 18 tỉnh (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Phan Rang, Bình Thuận, Kon Tum, Plây Cu, Lâm Viên (Lang Biang), Đắc Lắc, Đồng Nai Thượng).

c/ Nam Bộ có 20 tỉnh (Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Gò Công, Rạch Giá, Bạc Liêu) và 2 thành phố (Sài Gòn và Chợ Lớn).

Tuy nhiên, đơn vị hành chính cấp Bộ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chỉ tồn tại trong khoảng vài năm rồi bỏ. Chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp thì lập chức Thủ hiến cho mỗi Phần (chính là Bộ theo cách gọi của họ).

4. Thời kỳ 1954-1975

4.1. Miền Bắc Việt Nam

Theo Hiến pháp năm 1959, Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã;

Huyện chia thành xã, thị trấn.

Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị do luật định (chương VII, Điều 78).

Như vậy ở thời kỳ này cấp Bộ đã không còn, nhưng lại xuất hiện các khu tự trị. Miền Bắc Việt Nam có 2 khu tự trị, được thành lập từ năm 1955-1956: Khu tự trị Tây Bắc (ban đầu gọi là Khu tự trị Thái Mèo) và Khu tự trị Việt Bắc. Khu tự trị Tây Bắc lúc đầu chỉ có các cấp châu (tương đương huyện) và xã, bỏ cấp tỉnh, nhưng đến năm 1963 đã lập lại các tỉnh.

Trong thành phố trực thuộc trung ương, thời kỳ 1954-1958 có các cấp hành chính quận (ở cả nội thành và ngoại thành), dưới quận có khu phố (ở nội thành) và xã (ở ngoại thành, ngoài ra có phố là cấp không thông dụng, như phố Gia Lâm ở Hà Nội). Năm 1958, nội thành bỏ quận, thay bằng khu phố (gọi tắt là khu), dưới khu phố là khối dân phố, ngoại thành có quận (từ năm 1961 đổi là huyện) và xã. Năm 1974, đổi tên gọi khối dân phố thành cấp tiểu khu.

Miền Bắc Việt Nam năm 1954 có 30 tỉnh, 2 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng), 1 đặc khu (Hòn Gai) và khu vực Vĩnh Linh:

a/ Bắc Bộ có 26 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Đông, Hà Giang, Hà Nam, Hải Dương, Hải Ninh, Hoà Bình, Hưng Yên, Kiến An, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Yên, Sơn La, Sơn Tây, Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, đặc khu Hòn Gai, và 2 thành phố Hà Nội, Hải Phòng

b/ Trung Bộ có có 4 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh (vốn thuộc tỉnh Quảng Trị).

c/ Sau đó có sự sát nhập, giải thể như sau:

Năm 1955: tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hòn Gai hợp nhất thành khu Hồng Quảng; bỏ 2 tỉnh Lai Châu, Sơn La để lập Khu tự trị Thái Mèo.

Năm 1962: 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh Kiến An nhập vào thành phố Hải Phòng; tái lập 2 tỉnh Lai Châu, Sơn La và thành lập tỉnh Nghĩa Lộ thuộc Khu tự trị Tây Bắc.

Năm 1963: tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng hợp nhất thành tỉnh Quảng Ninh.

Năm 1965: 2 tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái; 2 tỉnh Hà Nam, Nam Định hợp nhất thành tỉnh Nam Hà, 2 tỉnh Hà Đông, Sơn Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây.

Năm 1968: 2 tỉnh Hưng Yên, Hải Dương hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng; 2 tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú.

 4.2. Miền Nam Việt Nam

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa phân ra các cấp hành chính: tỉnh, quận (tương đương với quận và huyện ngày nay), xã; ngoài ra còn có thị xã Đà Nẵng. Toàn miền Nam Việt Nam từ khoảng năm 1965 chia thành 44 tỉnh.

Về mặt quân sự, trên cấp tỉnh còn có Vùng chiến thuật (lập ra năm 1961) và đến năm 1970 đổi tên thành Quân khu. Tất cả miền Nam Việt Nam có 4 Vùng chiến thuật (Quân khu). Cấp tỉnh đóng trụ sở tại thị xã, về mặt quân sự gọi là tiểu khu, cấp quận đóng trụ sở tại thị trấn quận lị, về mặt quân sự gọi là chi khu.

Tỉnh Gia Định về sau cùng với thủ đô Sài Gòn trở thành Biệt khu Thủ Đô, đứng đầu là Đô trưởng.

Từ năm 1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chỉ dùng tên gọi quận cho khu vực nội thành, các quận còn lại đổi thành huyện.

5. Sau khi thống nhất đất nước

Theo Hiến pháp năm 1980, Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương;

Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. (chương IX, Điều 113).

Ngày 3 tháng 1 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam quyết định thống nhất tên gọi các đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị thuộc các thành phố, thị xã là phường (trước đây là tiểu khu), dưới cấp quận (trước đây là khu).

5.1. Ban đầu:

Năm 1976 cả nước có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh (35 tỉnh và 3 thành phố).

a/ Bắc Bộ có 13 tỉnh và 2 thành phố: Bắc Thái, Cao Lạng, Hà Bắc, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Hà Tuyên, Hải Hưng, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Bình, Vĩnh Phú, và 2 thành phố Hà Nội, Hải Phòng.

b/ Trung Bộ có 10 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hải, Gia Lai-Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng.

c/ Nam Bộ có 12 tỉnh và 1 thành phố: Sông Bé, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Cửu Long, Minh Hải, Thành phố Hồ Chí Minh.

5.2. Sau đó có sự tách nhập tỉnh:

Năm 1978: tách[1] tỉnh Cao Lạng thành 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn.

Năm 1979: thành lập Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo, tương đương cấp tỉnh.

Năm 1989: tỉnh Bình Trị Thiên tách ra làm 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, tỉnh Nghĩa Bình tách ra thành 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, tỉnh Phú Khánh tách ra thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Cả nước có 44 tỉnh thành.

Năm 1991: tỉnh Hà Sơn Bình tách ra thành 2 tỉnh Hà Tây, Hoà Bình; tỉnh Hà Nam Ninh tách ra thành 2 tỉnh Nam Hà, Ninh Bình; tỉnh Hà Tuyên tách ra thành 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang; tỉnh Hoàng Liên Sơn tách ra thành 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái; tỉnh Nghệ Tĩnh tách ra thành 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh; tỉnh Gia Lai-Kon Tum tách ra thành 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum; tỉnh Thuận Hải tách ra thành 2 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận; tỉnh Cửu Long tách ra thành 2 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh. Thành lập tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, giải thể Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo. Cả nước có 53 tỉnh thành.

Năm 1996: tỉnh Bắc Thái tách ra thành 2 tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên; tỉnh Hà Bắc tách ra thành 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh; tỉnh Nam Hà tách ra thành 2 tỉnh Hà Nam, Nam Định; tỉnh Hải Hưng tách ra thành 2 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên; tỉnh Vĩnh Phú tách ra thành 2 tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc.

Năm 1997: tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng tách ra thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng; tỉnh Sông Bé tách ra thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước, tỉnh Hậu Giang tách ra thành 2 tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, tỉnh Minh Hải tách ra thành 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Cả nước có 61 tỉnh thành.

Năm 2004: tỉnh Lai Châu tách ra thành 2 tỉnh Lai Châu mới và Điện Biên; tỉnh Đắc Lắc tách ra thành 2 tỉnh Đắc Lắc mới và Đắc Nông; tỉnh Cần Thơ tách ra thành thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. Cả nước có 64 tỉnh thành.

Ngày 29 tháng 5 năm 2008, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan, theo đó hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, chuyển toàn bộ huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về thành phố Hà Nội. Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2008.

5.3. Phân chia cấp hiện tại:

Sau nhiều lần chia tách, nhập lại, hiện nay Việt Nam có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung ương.

a/ 5 thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: Cần Thơ, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh.

b/ 58 tỉnh: An GiangBà Rịa-Vũng TàuBạc LiêuBắc KạnBắc GiangBắc NinhBến TreBình DươngBình ĐịnhBình PhướcBình ThuậnCà MauCao BằngĐăk LăkĐăk NôngĐiện BiênĐồng NaiĐồng ThápGia LaiHà GiangHà NamHà TĩnhHải DươngHậu GiangHòa BìnhHưng YênKhánh HòaKiên GiangKon TumLai ChâuLâm ĐồngLạng SơnLào CaiLong AnNam ĐịnhNghệ AnNinh BìnhNinh ThuậnPhú ThọPhú YênQuảng BìnhQuảng NamQuảng NgãiQuảng NinhQuảng TrịSóc TrăngSơn LaTây NinhThái BìnhThái NguyênThanh HóaThừa Thiên-HuếTiền GiangTrà VinhTuyên QuangVĩnh Long; Vĩnh Phúc và Yên Bái.

Theo Hiến pháp và Luật tổ chức chính quyền địa phương số: 65/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 thì “Đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:

a) Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);

b) Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);

c) Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

d) Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định thành lập.”.

Độ này (3/2025) đang rộ lên việc “nhập xã”, “bỏ huyện”, “nhập tỉnh”, “chuyển tỉnh lỵ” nhưng chưa mấy ai rõ kết quả ra sao.

-Lương Đức Mến, 19/3/2025 BS từ nhiều nguồn TK-



         [1] Nếu trước đây (1976) việc nhập các tỉnh cũng như các huyện được giải thích là do nhu cầu “tập trung cơ sở hạ tầng để đủ điều kiện tiên slên sản xuất lớn XHCN” thì khi tách tỉnh được giải thích là để “gần dân, sát thực tế, phù hợp với năng lực lãnh đạo”. Nhưng thực ra do mâu thuẫn, cục bộ giữa các kíp lãnh đạo xuất thân từ các địa phương gộp lại không hoà hợp được nên phải chia ra !

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn "Lốc" ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng - Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với "Ẩn danh".
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!