Bài đăng

Tài liệu về cội nguồn các từ chỉ tên "Họ"

Hình ảnh
Tiếng Việt có bốn từ chỉ tên họ: Tính 姓,Thị 氏, Tộc 族, và Họ 户. Trong đó, “họ” là từ Nôm, còn ba từ kia là Hán Việt. Mỗi từ đều có quá trình hình thành khác nhau, có thể dùng lẫn cho nhau nhưng bản thân mỗi từ (chữ) lại mang một ý nghĩa khác nhau. 1. Dưới chế độ mẫu hệ mà chế độ hôn nhân là ngoại tộc quần hôn ( một tốp những người nam cùng lứa tuổi của thị tộc này được đưa đến thị tộc khác làm chồng của cả một tốp người nữ cùng lứa ) thì con đẻ ra không biết bố, mà chỉ sống với mẹ và loài người chưa có họ, chỉ có tên. Sau này, khi hình thành “họ”, trong Hán tự đã tạo ra chữ "Tính" 姓 bằng cách ghép chữ “Nữ” 女 với chữ “Sinh”生. Chữ 姓 này ký hiệu nói rõ một gia tộc đã sản sinh ra một con người nào đó và được giải thích trong “ Thuyết văn giải tự ” 說文解字 của Hứa Thuận (許慎, khoảng 58-147 ) là “ Nhân sinh dĩ vi tính, tòng nữ sinh " 2. Từ xã hội mẫu hệ phát triển sang xã hội phụ hệ , chế độ hôn nhân càng chặt chẽ hơn, hôn nhân đối ngẫu. Khi đó, con cháu ngày một sinh ra nhiều hơ...

Công ơn Dưỡng dục Sinh thành

Hình ảnh
Người Việt có một tục lệ rất hay, đầy tính nhân văn nhưng tiếc rằng nay đã mai một dần, đó là viết Câu đối ca ngợi, tri ân công “Cù lao” (H: 劬勞 , A: Painful work of parents for to nourish the children , P: Peine des parents pour élever leurs enfants ) của đấng sinh thành. 1. Câu đối hay: Một trong những câu đối Nôm rất hay lại đơn giản về Công Ơn Cha Mẹ, Tổ Tông là câu sau: Câu này, theo tôi chính là diễn Nôm của câu đối chữ Hán: Đọc là: Cúc dục ân thâm Đông hải đại; Sinh thành nghĩa trọng Thái sơn cao. Dịch nghĩa: Ơn nuôi dưỡng sâu tựa biển Đông; Nghĩa sinh thành cao như non Thái. 2. Tìm hiểu về “Chín chữ cù lao” Cửu tự cù lao 九字劬勞 : Chín chữ cù lao, tức là chín điều khó nhọc của cha mẹ sinh dưỡng cho con cái khôn lớn. có xuất xứ từ một đoạn trong bài thơ “Liệu nga” trong thiên Cốc phong chi thập, Tiểu nhã, Thi kinh: 父兮生我,母兮鞠我,拊我,畜我,長我,育我,顧我,復我,出入腹我.欲報之德,昊天罔極. Đọc là: “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, phụ ngã, xúc ngã, trưởng ngã, cố ngã, phục ngã, xuất nhập ph...

Tại sao "Thần Trùng" lại đáng sợ

Hình ảnh
"Thần nanh đỏ mỏ" mổ người chết Trong dân gian ngoài khái niệm Trùng tang, Trùng Phục còn có khái niệm Thần Trùng. Theo đó, những ngày Trùng tang, Trùng phục không kỵ chết ( bất đắc kỳ tử ) mà chỉ kỵ những việc an táng, tẩn liệm, mặc đồ tang, chôn cất, xả tang...còn chết nhằm ngày gặp  “ Thần Trùng ” mới đáng sợ. Cổ nhân cho rằng “Thần trùng” là thần hành hạ người chết vào ngày trùng hoặc bắt những người trong gia đình có người chết vào ngày trùng thì những người trực hệ với người chết có nguy cơ bị “trùng” bắt ( con dâu,con rể,cháu ngoại, người giúp việc không bị ). Chữ gọi là “Trùng tang liên táng”. Cội nguồn “Thần Trùng liên quan đến một chuyện như sau:  từ thủa xưa bên Bắc quốc có 12 con quỷ dữ chuyên giết những người cùng họ với người chết “nhằm vào giờ độc”. 12 con quỷ đó được Hán nhân gọi là “Thập nhị thời thần” 十二 时神 .Ví dụ hình trên, dân gian vẽ thần trùng xuất hiện dưới dạng một con chim, gọi là “thần nanh đỏ mỏ” từ trên không đáp xuống mồ người chết mổ thật mạ...

Về bài "Hạ Thập kỳ" lưu truyền trong dòng tộc

Hình ảnh
Hiện tại, theo tôi được tiếp xúc thì trong dòng họ Lương gốc xã Chiến Thắng, huyện An Lão có 2 bản chép Bài thơ nói về Công Đức Tổ. Đó là bài Hạ Thập kì (賀拾祺, tức bài thơ ghi lại những việc hay). Cả hai bản đều ghi tên tác giả là người con thứ 5 của Đệ Nhất Đại tổ và là Tổ Chi Đệ Tứ là Lương Công Thiệu 第四宗枝 梁公劭. Nhưng có những điểm khác biệt giữa hai tài liệu về hoàn cảnh ra đời và một số câu chữ của bài thơ: Xuất xứ bài thơ - Gia phả Chi thứ Ba do các bác tôi là Lương Đức Bình 梁德平, Lương Đức Chiểu 梁德沼 soạn 19/3/1997 ( phiên âm và dịch nghĩa của phụ thân tôi để lại ) thì Bài thơ viết ra nhằm ca ngợi công đức Thương Tổ tỉ là Cụ Lương Công Cảnh 梁公景 . Chuyện rằng: Thân phụ Tổ tỉ Lương Thị Còi (��(Ngỗi) hiệu Diệu Cần 妙勤) quê ở Quan Bồ 關蒲, Tiên Lãng là một quan binh của triều đình. Trong họ truyền rằng: Tổ thường được cử đi dẹp giặc những cuộc nổi loạn khắp nơi thờ kỳ đó (thế kỷ XVIII) và lập được nhiều chiến tích. Một lần, vào ngày Rằm tháng Giêng (năm ?) trước khi xuống thuyền trên s...

Âm Hán Việt xưng hô trong Cúng giỗ, Tang lễ

Hình ảnh
Những danh xưng (hô) bằng âm Hán Việt khi cúng giỗ, xướng danh lúc làm lễ tang phần đông là nghe rất trúc trắc, khó nhớ, nhất là đối với người trẻ tuổi, lơ mơ về Hán Nôm. Sau đây là một số từ xưng, hô tôi tập hợp được, lập thành 3 Bảng: Bảng 1: CÁC TỪ XƯNG HÔ THEO TRỰC HỆ Bảng 2: CÁC TỪ XƯNG HÔ THEO TRỰC HỆ KHÁC Bảng 3: CÁC TỪ XƯNG HÔ THEO BÀNG HỆ Thiếu sẽ cập nhật sau.

Nhân ngày giỗ Cụ Nội, nhớ về Cố Lương Công Quản

Hình ảnh
Ngày 17/9 tới là ngày giỗ của Cụ nội tôi, Lương Đức Trinh. Đệ Tứ đại Tổ 第四代祖 梁德禎 là con út của bà Hai, thường được gọi là “Trinh bé”, để phân biệt với “Chinh lớn” tức cụ Giáo Chinh 征 là con bà cả. Ngược lên, Đệ Tam đại Tổ Lương Đức Hanh第三代祖 梁德亨 là con của bà Ba với Nhị Tổ. Cụ nhà giầu, cai trị giỏi. Trước làm Lý trưởng 里長 sau làm Phó Tổng 傅總. Do ông nội tôi (Trính) bỏ nhà ra đi khi bố tôi còn nhỏ, không có ai truyền lại nên tôi có rất ít hiểu biết về Cụ và Cố bà Hai về họ tên, ngày mất và mộ phần. Chỉ biết bà Cả là Đặng Thị Chẻo: Người Mông Tràng Thượng (Kị 11-G) là thân mẫu của các cụ Hinh, Tuynh, Chinh, Thành. Cùng với Phạm Đình Nhiên, Đào Đăng Lung cụ là dưỡng tử của đệ Tam Tổ Lương Hoàn là Lương Công Quản ( con thứ Tư của cụ Đồ Thiệu ). So trong 4 ngành thì dòng của cụ Đồ Thiệu có nhiều người học cao, khấm khá cả về quan trường lẫn kinh tế. Nổi tiếng có Cụ Tổng Quản, Cụ Tuần Ngoạn, Cụ Tổng Phác, Cụ Chánh Mai, Cụ Cựu Huân ...Gia phả còn giữ được và chép cả năm mất hay những lần tu ...

Các vị Tổ xa đời

Hình ảnh
Con cháu trẻ tuổi thường chỉ biết và nhớ đến Tổ tức cụ Nội mình chứ thực ra, theo thời gian số các Cụ Tổ của một dòng họ, một Chi phái, một Ngành ngày càng nhiều. Chính vì vậy mà cần phải có Gia phả mới chép lại được. Các vị Tổ xa đời chúng ta, theo tôi nhận thức được gồm: 1. Nguyên Tổ 元祖 và Triệu Tổ : 肇祖 là Đức Tổ đầu tiên nhất sinh ra những người chung một họ trong một nước. Ví dụ Hồ Hưng Dật được suy tôn là Đức Nguyên Tổ họ Hồ Việt Nam, Hùng Vương là Nam bang Triệu tổ 南邦肇祖. 2. Thuỷ Tổ 始祖: Ông tổ, vị tổ đầu tiên của một họ. Ví dụ một số dòng họ Lương ở miền Bắc suy tôn Cụ Lương Đắc Bằng là Thuỷ Tổ. 3. Thượng Tổ 尚祖: là Cụ Tổ sinh ra Đệ Nhất đại Tổ mà dòng họ ở khu vực đang thờ phụng. Ví dụ Lương Công Trạch được suy tôn là Thượng Tổ 上祖梁公宅 của họ Lương xã Chiến Thắng, Hải Phòng. 4. Đệ Nhất đại Tổ : là Cụ Tổ đầu tiên lập nên dòng họ tại một vùng. Ví dụ con trai cụ Lương Công Trạch là Lương Công Nghệ, vị Tổ đầu tiên ở hay xuất phát từ xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng l...