Bài đăng

Tại sao "Thần Trùng" lại đáng sợ

Hình ảnh
"Thần nanh đỏ mỏ" mổ người chết Trong dân gian ngoài khái niệm Trùng tang, Trùng Phục còn có khái niệm Thần Trùng. Theo đó, những ngày Trùng tang, Trùng phục không kỵ chết ( bất đắc kỳ tử ) mà chỉ kỵ những việc an táng, tẩn liệm, mặc đồ tang, chôn cất, xả tang...còn chết nhằm ngày gặp  “ Thần Trùng ” mới đáng sợ. Cổ nhân cho rằng “Thần trùng” là thần hành hạ người chết vào ngày trùng hoặc bắt những người trong gia đình có người chết vào ngày trùng thì những người trực hệ với người chết có nguy cơ bị “trùng” bắt ( con dâu,con rể,cháu ngoại, người giúp việc không bị ). Chữ gọi là “Trùng tang liên táng”. Cội nguồn “Thần Trùng liên quan đến một chuyện như sau:  từ thủa xưa bên Bắc quốc có 12 con quỷ dữ chuyên giết những người cùng họ với người chết “nhằm vào giờ độc”. 12 con quỷ đó được Hán nhân gọi là “Thập nhị thời thần” 十二 时神 .Ví dụ hình trên, dân gian vẽ thần trùng xuất hiện dưới dạng một con chim, gọi là “thần nanh đỏ mỏ” từ trên không đáp xuống mồ người chết mổ thật mạ...

Về bài "Hạ Thập kỳ" lưu truyền trong dòng tộc

Hình ảnh
Hiện tại, theo tôi được tiếp xúc thì trong dòng họ Lương gốc xã Chiến Thắng, huyện An Lão có 2 bản chép Bài thơ nói về Công Đức Tổ. Đó là bài Hạ Thập kì (賀拾祺, tức bài thơ ghi lại những việc hay). Cả hai bản đều ghi tên tác giả là người con thứ 5 của Đệ Nhất Đại tổ và là Tổ Chi Đệ Tứ là Lương Công Thiệu 第四宗枝 梁公劭. Nhưng có những điểm khác biệt giữa hai tài liệu về hoàn cảnh ra đời và một số câu chữ của bài thơ: Xuất xứ bài thơ - Gia phả Chi thứ Ba do các bác tôi là Lương Đức Bình 梁德平, Lương Đức Chiểu 梁德沼 soạn 19/3/1997 ( phiên âm và dịch nghĩa của phụ thân tôi để lại ) thì Bài thơ viết ra nhằm ca ngợi công đức Thương Tổ tỉ là Cụ Lương Công Cảnh 梁公景 . Chuyện rằng: Thân phụ Tổ tỉ Lương Thị Còi (��(Ngỗi) hiệu Diệu Cần 妙勤) quê ở Quan Bồ 關蒲, Tiên Lãng là một quan binh của triều đình. Trong họ truyền rằng: Tổ thường được cử đi dẹp giặc những cuộc nổi loạn khắp nơi thờ kỳ đó (thế kỷ XVIII) và lập được nhiều chiến tích. Một lần, vào ngày Rằm tháng Giêng (năm ?) trước khi xuống thuyền trên s...

Âm Hán Việt xưng hô trong Cúng giỗ, Tang lễ

Hình ảnh
Những danh xưng (hô) bằng âm Hán Việt khi cúng giỗ, xướng danh lúc làm lễ tang phần đông là nghe rất trúc trắc, khó nhớ, nhất là đối với người trẻ tuổi, lơ mơ về Hán Nôm. Sau đây là một số từ xưng, hô tôi tập hợp được, lập thành 3 Bảng: Bảng 1: CÁC TỪ XƯNG HÔ THEO TRỰC HỆ Bảng 2: CÁC TỪ XƯNG HÔ THEO TRỰC HỆ KHÁC Bảng 3: CÁC TỪ XƯNG HÔ THEO BÀNG HỆ Thiếu sẽ cập nhật sau.

Nhân ngày giỗ Cụ Nội, nhớ về Cố Lương Công Quản

Hình ảnh
Ngày 17/9 tới là ngày giỗ của Cụ nội tôi, Lương Đức Trinh. Đệ Tứ đại Tổ 第四代祖 梁德禎 là con út của bà Hai, thường được gọi là “Trinh bé”, để phân biệt với “Chinh lớn” tức cụ Giáo Chinh 征 là con bà cả. Ngược lên, Đệ Tam đại Tổ Lương Đức Hanh第三代祖 梁德亨 là con của bà Ba với Nhị Tổ. Cụ nhà giầu, cai trị giỏi. Trước làm Lý trưởng 里長 sau làm Phó Tổng 傅總. Do ông nội tôi (Trính) bỏ nhà ra đi khi bố tôi còn nhỏ, không có ai truyền lại nên tôi có rất ít hiểu biết về Cụ và Cố bà Hai về họ tên, ngày mất và mộ phần. Chỉ biết bà Cả là Đặng Thị Chẻo: Người Mông Tràng Thượng (Kị 11-G) là thân mẫu của các cụ Hinh, Tuynh, Chinh, Thành. Cùng với Phạm Đình Nhiên, Đào Đăng Lung cụ là dưỡng tử của đệ Tam Tổ Lương Hoàn là Lương Công Quản ( con thứ Tư của cụ Đồ Thiệu ). So trong 4 ngành thì dòng của cụ Đồ Thiệu có nhiều người học cao, khấm khá cả về quan trường lẫn kinh tế. Nổi tiếng có Cụ Tổng Quản, Cụ Tuần Ngoạn, Cụ Tổng Phác, Cụ Chánh Mai, Cụ Cựu Huân ...Gia phả còn giữ được và chép cả năm mất hay những lần tu ...

Các vị Tổ xa đời

Hình ảnh
Con cháu trẻ tuổi thường chỉ biết và nhớ đến Tổ tức cụ Nội mình chứ thực ra, theo thời gian số các Cụ Tổ của một dòng họ, một Chi phái, một Ngành ngày càng nhiều. Chính vì vậy mà cần phải có Gia phả mới chép lại được. Các vị Tổ xa đời chúng ta, theo tôi nhận thức được gồm: 1. Nguyên Tổ 元祖 và Triệu Tổ : 肇祖 là Đức Tổ đầu tiên nhất sinh ra những người chung một họ trong một nước. Ví dụ Hồ Hưng Dật được suy tôn là Đức Nguyên Tổ họ Hồ Việt Nam, Hùng Vương là Nam bang Triệu tổ 南邦肇祖. 2. Thuỷ Tổ 始祖: Ông tổ, vị tổ đầu tiên của một họ. Ví dụ một số dòng họ Lương ở miền Bắc suy tôn Cụ Lương Đắc Bằng là Thuỷ Tổ. 3. Thượng Tổ 尚祖: là Cụ Tổ sinh ra Đệ Nhất đại Tổ mà dòng họ ở khu vực đang thờ phụng. Ví dụ Lương Công Trạch được suy tôn là Thượng Tổ 上祖梁公宅 của họ Lương xã Chiến Thắng, Hải Phòng. 4. Đệ Nhất đại Tổ : là Cụ Tổ đầu tiên lập nên dòng họ tại một vùng. Ví dụ con trai cụ Lương Công Trạch là Lương Công Nghệ, vị Tổ đầu tiên ở hay xuất phát từ xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng l...

Xưng, Hô trong Tang ma Cúng giỗ

Hình ảnh
Trong quan hệ giao tiếp việc xưng hô là rất quan trọng, đặc biệt trong gia tộc. Ngày nay, trong giao tiếp mọi người thường dùng tiếng Việt và xen nhiều tiếng lóng, từ ngoại lai…Song trong tang lễ hay cúng giỗ các thầy hoặc bậc trưởng thượng thường dùng từ Hán Việt mà ngày nay ít người nhớ nổi. Trong Xưng hô (H: 稱呼, P: S'adresser, A: To address ) thì “xưng” là tiếng tự gọi mình còn “hô” tiếng gọi người khác. Danh xưng biểu hiện thứ bậc trong gia đình, gia tộc; về quan hệ trên dưới, cấp chức trong công sở hay việc giao tiếp ở ngoài xã hội mà ngày nay, trong giao tiếp mọi người thường dùng tiếng Việt và xen nhiều tiếng lóng, từ ngoại lai…Nhưng khi cúng giỗ, xướng danh khi tang lễ vẫn còn dùng từ xưng hô bằng âm Hán Việt mà với số đông là nghe rất trúc trắc, khó nhớ. Theo THỌ MAI GIA LỄ việc thờ cúng chỉ tới 5 đời, còn lại là tống giỗ. Do vậy trong các lễ tang, các buổi cúng giỗ chỉ dùng các từ xưng hô trong 9 đời. Vấn đề Cửu huyền, Thất tổ và Cửu tộc có những cách lý giải khác nhau, ...

Sử dụng bàn tay trong bấm quẻ

Hình ảnh
Bàn tay không chỉ để lao động mà còn có ý nghĩa phản ánh tương lại, mệnh số, tật bệnh và với các ông "Thầy" nó còn là thước để bấm độn nữa. Hồi trước mỗi khi hỏi tuổi hay cần tính ngày giờ để làm một việc gì tôi thấy các ông Thầy, Bác, Bố tôi và sau này cả anh Tích nữa cứ đưa bàn tay ra dùng ngón cái bấm vào các đốt rồi lẩm bẩm một hồi sau mới phán. Tôi nghĩ các cụ thần bí hoá để người thường không biết được. Sau này khi tìm hiểu về dịch lý, về Can, Chi, Ngũ hành và Bát quái ...tôi mới hiểu. Thì ra các cụ xưa chắc chưa biết lập Bảng ra giấy mà các cụ an ngay trên tay mình, gán cho mỗi đốt, ngấn đốt các ngón trên bàn tay có một ý nghĩa nhất định rồi từ đó đếm theo một chiều quy ước nhất định để tính ra kết quả. Đúng là chủ nghĩa kinh nghiệm phương Đông đi trước thực nghiệm phương Tây xa và cũng rất khoa học. Dựa vào những gì biết được tôi lập ra hình bàn tay và với các số, ký hiệu tương ứng với các giá trị cần tìm trong việc tính Trùng tang, Nhập mộ, dự đoán tương lai con cá...