Bài đăng

QUỐC HIỆU NƯỚC TA qua các thời

QUỐC GIA: thực thể pháp lí bao gồm 3 yếu tố cấu thành: lãnh thổ (yếu tố vật chất, cơ sở vật chất), dân cư và quyền lực công cộng ( các yếu tố tinh thần ). QG là chủ thể cơ bản của luật quốc tế. Chủ quyền QG là đặc trưng cơ bản, quan trọng của QG. Theo pháp luật quốc tế hiện đại, tất cả các QG đều bình đẳng về chủ quyền. Còn QUỐC HIỆU: tên gọi chính thức của một nước và chính thể của một quốc gia. Thường được trình bày trên trang đầu văn bản chính thức của các cơ quan nhà nước. Quốc hiệu luôn là một trong những cái tên thiêng liêng nhất đối với mỗi dân tộc, mỗi con người. Quốc hiệu khẳng định sự tồn tại và chủ quyền của một quốc gia, thể hiện ý thức và niềm tự hào của mỗi dân tộc cũng như sự bình đẳng với các nước khác trên thế giới. Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã dùng nhiều quốc hiệu ( tên chính thức của quốc gia ) khác nhau. Bên cạnh đó, cũng có những danh xưng được dùng chính thức hay không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quốc gia Việt Nam. Nếu như bên Bắc quốc, tên triề...

Một số cuộc ĐỔI HỌ trong Lịch sử

Dưới chế độ phụ hệ, con cái lấy họ của người cha. Nhưng nhiều trường hợp con cháu phải " mai danh ẩn ích " hay " thay tên đổi họ " Do vô vàn nguyên nhân mà hậu duệ phải cải họ. Nhưng đa phần vẫn giữ được những dấu tích của họ cũ. Ví dụ: bên Trung Hoa có họ Vi 韋, cha ông trước kia là họ Hàn 韓, nhưng vì có tội với triều đình nên đã tách chữ Hàn làm đôi, bỏ đi nửa trái, giữ lấy nửa phải, thành ra họ Vi 韋. Cũng như ở nước ta nhiều người họ Mạc đã đổi thành họ Phạm vì Mạc 莫 và Phạm 范 đều có bộ thảo đầu (艹) như nhau. Hay như họ Trần đổi ra Đặng bởi 2 chữ (Trần 陳, Đặng 鄧) đều có bộ ấp 阝. Thế là «bỏ thì thương, vương thì tội» đành giữ lấy ít là một nửa vậy. Sau đây là vài ví dụ sưu tầm được: 1. Từ họ Lý ra họ Nguyễn Sau loạn Qúach Bốc năm Kỷ Tỵ (1209), trong triều Lý, thế lực họ Trần ngày một mạnh. Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm Giáp Thân (cuối 1224), tức Lý Chi...

Một số LỆ TỤC KHI SINH ĐẺ

Hình ảnh
Người Á Đông vốn rất coi trọng việc có con nối dõi tông đường nên coi một người mà “Vô hậu kế đại” (H:無後繼代,A: Without posterity, P: Sans postérité) là mắc tội lớn với tổ tiên. Do vậy người Việt rất chú trọng những tục lệ khi trong gia đình có người nằm ổ. 1.Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng : Con so là con sinh đầu lòng, con rạ là những đứa con sinh sau. Nếu nuôi được cả thì con so là trưởng, con rạ là thứ. Phong tục này phổ biến ở Bình Trị Thiên và một số địa phương ngoài Bắc, còn ở Nghệ An, Hà Tĩnh thì trừ trường hợp ở rể, nói chung con gái không được sinh đẻ ở nhà cha mẹ mình. Con gái mới lớn lên, mới sinh lần đầu tiên, trẻ người non dạ, chưa biết đi đứng, ăn uống, tắm giặt, kiêng khem ra sao, hơn nữa trong người yếu khoẻ ra sao muốn nhờ vả mẹ chồng hoặc chị em nhà chồng cũng ngần ngại, khó nói hơn với mẹ đẻ và chị, em mình. Còn những lần sinh sau đã có kinh nghiệm, có thể tự mình giải quyết được. Gần ngày ở cữ, mẹ chồng hoặc chàng rể sang quê ngoại thưa chuyện trước, nếu có khó...

HÔN NHÂN qua những nét VĂN TỰ

Hình ảnh
Chữ Hán là chữ tượng hình mang nhiều hám ý sâu xa. Trong đó chữ "Hôn nhân" cũng vậy. Hôn nhân (H: 婚姻, A: Marriage, P: Mariage) hay Hôn thú 婚娶 là việc cưới vợ gả chồng cho con trai và con gái, việc kết nghĩa thông gia giữa hai họ. Còn Hôn phối 婚配 là sự phối hợp thành vợ chồng của đôi nam nữ. Qui cách tổ chức xã hội gia đình Việt Nam đã mô phỏng theo hình thức luân lý của Trung Hoa từ mấy ngàn năm. Vào đầu thế kỷ thứ nhất của Công nguyên, sử chép có hai thái thú Trung Hoa là Tích Quang ở quận Giao Chỉ và Nhâm Diên ở quận Cửu Chân là hai người đã “khai hóa” dân Văn Lang về lễ nghĩa theo Trung Hoa. Ðặc biệt là Nhâm Diên đã “dạy dân làm lễ cưới hỏi trong khi lấy vợ lấy chồng, và bắt những lại thuộc trong quận lấy một phần lương bổng của mình mà giúp cho những người nghèo đói để lấy vợ lấy chồng”. Trên danh nghĩa là “khai hóa”, nhưng rõ ràng có một sự “áp đặt” theo tục lệ Trung Hoa mặc dù vào thời tổ tiên người Việt trong xã hội của nước Văn Lang cũ đã có một nếp sống ...

Lệ tục trong CƯỚI XIN

Hôn nhân là sự cam kết đồng ý giữa các cá nhân Nam và Nữ về các khía cạnh luật pháp, xã hội và tôn giáo. Hôn nhân là nền tảng của gia đình trong hầu hết các dạng hình xã hội. Trong lịch sử, hôn nhân thường là thỏa thuận xã hội giữa một người đàn ông (chồng) và một người đàn bà (vợ). Chế độ đa thê là một kiểu hôn nhân khác trong một số xã hội, thường có một người đàn ông lấy nhiều vợ, nhưng cũng có khi một người đàn bà lấy nhiều chồng. Trong một số nước phương Tây hiện nay, hôn nhân đồng tính được công nhận là một kiểu hôn nhân. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu và khởi đầu bằng việc cưới xin. Việc này gọi là Hôn lễ (H: 婚禮, A: Marriage ceremony, P: Cérémonie de mariage) tức là việc tổ chức đám cuới theo nghi lễ cổ truyền, hay theo nghi thức của tôn giáo. Trong đó, Tân Hôn hay Thành Hôn là lễ cưới dâu, tổ chức nơi nhà trai còn Vu Quy là lễ đưa con gái về nhà chồng, tổ chức nơi nhà gái. Song rất tiếc nhiều người, cả MC vẫn lẫn lộn. Trước khi làm lễ cưới đôi vợ chồng tương lai ...

CÂY ĐỜI MÃI MÃI XANH TƯƠI

Đây là phần viết về Đời thứ 9. 10 và các thế hệ sau. Mở đầu: Cho đến khi tôi viết những dòng này (5/2009) thì anh Thiếp, anh Trù đã có cháu gọi bằng ông, bằng cụ. Có nghĩa là dòng Lương Đức tại Lào Cai đã có hậu duệ tới Đời 9, 10. Nhưng chưa kê cứu hết được. Từ Đời thứ 9 trở đi con cháu tôi phải viết tiếp để cho dòng họ mãi trưởng tồn và hưng thịnh.

V. Đệ Ngũ Tổ: LƯƠNG ĐỨC TRÍNH

V.1- Sự thăng trầm và tục giỗ người mất tích : 第五代祖 梁德楨 [1] Thủa nhỏ được học hành do bác là cụ Giáo Chinh dạy. Nhà khá. Từng làm Lí trưởng 里長, nhưng bênh dân. Có lần “Tây đoan” về bắt rượu “lậu” ông hô cướp và huy động cả làng ra vây. Tây sợ chạy và từ đó “cạch” không sách nhiễu làng Hương nữa.Về sau do ham mê cờ bạc và cũng như đa phần quan chức thời đó, cụ nghiện ma tuý do đó trở nên nghèo túng. Mặc dù được chị gái chu cấp nhưng không đủ chi tiêu, ruộng vườn cứ hao dần. Mâu thuẫn vợ-chồng ngày một tăng. Sau khi vợ sinh 2 gái (Ri, Thị) bỏ ra ngoài Vàng Danh, Cẩm Phả [2] làm phu mỏ Than. Mãi khi cụ Mạo sai con là Liêm [3] ra tìm, mới về. Sau đó sinh tiếp 2 Nam (Thân, Rật (Dật) ). Đến khoảng 1926-1927, vào mùa thả diều, cùng với mấy người trong Tổng lại bỏ nhà ra đi, nói là đi “Tân Thế giới” [4] . Không ai can được. Hôm đó là ngày 29 tháng Giêng. Từ đó không về và cũng không tin tức gì. Chờ 6, 7 năm sau, biết cụ đã mất, gia đình tổ chức “chiêu hồn nạp táng” 招魂納葬. Mời 7 sư làm c...