[XEM GIA PHẢ][ PHẢ KÝ ][ THỦY TỔ ][PHẢ ĐỒ ][ TỘC ƯỚC ][ HƯƠNG HỎA ][TƯỞNG NIỆM][ THÔNG BÁO GIỖ]

Kính lạy các đấng Thần linh, Tiên Tổ và các bậc phụ thờ theo Tiên Tổ :
Phù hộ, Ban phúc, Chăm sóc cho GIA TỘC ngày càng phát triển; luôn An khang Thịnh vượng, Phúc khánh lâu bền
và Phù hộ, Chỉ giáo cho hậu sinh hoàn thành BỔN PHẬN cũng như TÂM NGUYỆN của mình
-*-
Trong nhiều bài viết có chứa các ký tự Tượng hình (chữ Hán, chữ Nôm).
Nếu không được hỗ trợ với Font đủ, bạn có thể sẽ chỉ nhìn thấy các ký hiệu lạ.


Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn nhuận. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn nhuận. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

14 tháng 10 2014

Năm Giáp Ngọ nhuận tháng Giáp Tuất

Mấy hôm rày nhiều người hỏi “Năm 2014 này có nhuận không ?” và “Vào năm nhuận có nên cưới gả, cát táng không ?”. Nên ôn lại tí chút.
1. “Nhuận” và cách tính năm nhuận:
Trong phép làm lịch, “Nhuận” (A: Intercalation, P: Intercalation, H: 置閏) là sự dôi ra (ngày, tuần, tháng) so với năm thường để làm cho lịch phù hợp với các mùa thời tiết. Thực ra tuy gọi là “năm nhuận” (H: 閏年, A: Leap year, P: Année bissextile) nhưng chỉ là hiện tượng có “ngày thừa” 閏日, “tháng thừa” 閏月 trong năm đó so với các tháng, các năm bình thường khác, chứ không phải là thừa năm!
Năm mặt trời hay năm thời tiết không phải là một số nguyên các ngày, nhưng năm trong các lịch thì lại phải là số nguyên ngày. Cách duy nhất để giải quyết sai biệt giữa năm mặt trời và năm trên lịch là biến đổi số ngày của mỗi năm trong các loại lịch.. Việc xác định năm nào là nhuận có thể được tính toán (lịch Julius, lịch Gregory, lịch Trung Quốc và lịch Do Thái cổ), hoặc được xác định theo các quan sát thiên văn (lịch Iran).
Lịch tính thời gian theo mặt trời gọi là Dương lịch. Trái đất quay trọn một vòng xung quanh mặt trời mất 365 ngày và 6 giờ. Năm dương lịch có số nguyên là 365 ngày, một năm dương lịch còn thừa 6 giờ và 4 năm dồn lại thừa 24 giờ, bằng một ngày.  Do vậy, cứ 4 năm sẽ có một năm 366 ngày, gọi là năm nhuận. Nhuận ngày dương lịch được tính vào tháng 2, tháng có 29 ngày. Dương lịch chỉ có thêm ngày chứ không có thêm tháng. Năm nhuận là năm mà số chỉ năm phải chia hết cho 4, ví dụ: năm 2016 : 4 = 504 là năm dương lịch nhuận 1 ngày.
Âm lịch tính thời gian theo mặt trăng. Một tháng mặt trăng trung bình có 29,5 ngày. Một năm âm lịch có 354 ngày, ngắn hơn năm dương lịch 11 ngày. Cứ 3 năm lại ngắn hơn 33 ngày (hơn 1 tháng). Để âm lịch vừa chỉ được tuần trăng, vừa không sai lệch nhiều với thời tiết 4 mùa, cứ 3 năm âm lịch người ta phải cho thêm một tháng nhuận để năm âm lịch và dương lịch không sai nhau nhiều. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, năm âm lịch vẫn chậm hơn so với năm dương lịch. Người ta khắc phục tình trạng trên bằng cách cứ 19 năm lại có một lần cách 2 năm thêm một tháng nhuận. Thực ra đấy là Âm Dương lịch hiện đang sử dụng theo múi giờ Việt Nam (UTC + 7 G). Năm nhuận trong âm lịch quy tắc khác với dương lịch và nó là nhuận thêm tháng. Muốn tính năm nhuận âm lịch lấy số chỉ năm dương lịch tương ứng chia cho 19, nếu số dư là một trong các số: 0, 3, 6, 9 hoặc 11, 14, 17 thì năm âm lịch đó có tháng nhuận.
Phật lịch cũng có việc thêm vào 7 tháng nhuận (adhikamasa) trong chu kỳ 19 năm và 11 ngày nhuận (adhikavara) trong chu kỳ 57 năm, nhưng ít liên quan tới đời sống dân thường nên không tập trung nghiên cứu
2. Nhuận cả âm lịch và dương lịch:
Đa số trong một năm nếu năm tính theo dương lịch mà nhuận (tháng 2 có 29 ngày) thì năm tính theo âm lịch sẽ không nhuận (không dư tháng) nhưng nhiều khi cả dương lịch và âm lịch đều nhuận và đó là “nhuận kép”.
Ví dụ: năm mà số La Mã: MMXII, số chỉ năm là 2012 (chia hết cho 4) là năm nhuận, tháng Hai có 29 ngày còn theo âm lịch, năm Nhâm Thìn phần lớn các ngày trong năm 2012 (bắt đầu từ 23/01/2012  đến 10/02/2013) mà con số chỉ năm dương lịch là 2012 khi chia cho 19 được 105, dư 17 nên năm Nhâm Thìn âm lịch cũng nhuận, có tháng tư nhuận. Gần đây về tương lai là năm 2020 Canh Tý: ngày 29 tháng 2 lịch dương là ngày thứ Bẩy, 07/2 âm còn lịch âm nhuận 2 tháng Tư và ngày 01/4 nhuận là thứ Bảy ngày 23/5/2020, nó là ngày Bính Dần, tháng Tân Tỵ.
Mở rộng ra, muốn tính xem năm (dương lịch) nào có “nhuận kép theo lịch Việt” từ nay đến 2060 ta công thức: 2012 + n8 với n là số nguyên dương.
3. Năm nay có nhuận không:
Theo cái nguyên tắc này thì năm  Lịch Gregory MMXIV dương lịch ghi là năm 2014 (chia hết cho 19=106, bắt đầu từ thứ Tư ngày 01 tháng Chạp năm Quý Tị đến 10 tháng Một (11) Giáp Ngọ), âm lịch ghi là năm Giáp Ngọ (甲午, bắt đầu từ thứ Sáu ngày 31/01/2014 đến thứ Tư ngày 18/02/2015), Phật lịch tính là năm 2557 là năm nhuận theo âm lịch, tức năm Giáp Ngọ nhuận mà là nhuận 2 tháng 9.
Tháng 9 nhuận này là tháng thiếu (月小, có 29 ngày) bắt đầu từ thứ Sáu ngày 24/10/2014 (ngày Julius: 2456955) đến thứ Sáu ngày 21/11/2014 (ngày Julius: 2456983) và nguyệt danh theo Can Chi của nó vẫn theo tháng 9 trước, tức là tháng “Giáp Tuất” 甲戌 có thêm từ “nhuận”.
Như vậy năm nay: Dương lịch không nhuận (tháng 2 có 28 ngày) còn âm lịch có nhuận (2 tháng 9).
4. Liên quan đến tâm linh:
Năm nhuận chỉ là một thủ pháp của các nhà làm lịch nhằm làm cho năm âm lịch và dương lịch không sai lệch nhau nhiều chứ không ảnh hưởng đến vận hạn của con người hay quốc gia rộng ra là toàn thế giới cũng như ảnh hưởng đến “cát”, “hung” của việc tiến hành trong năm đó. Lịch sử đã chứng minh như vậy.
Có điều đối với những việc tính theo lịch âm thì Tết và ngày cúng giỗ nếu rơi vào tháng sau tháng nhuận phải “chờ” thêm 1 tháng nữa, còn nếu rơi vào tháng có tên nhuận phải cúng vào tháng chính.
Người việt thường kiêng tiến hành những công việc đại sự vào tháng “thêm vào” đó nhưng từ thời kỳ thánh Patrick và Bridget trong thế kỷ 5 người Ireland phụ nữ chỉ có thể được cầu hôn trong những năm nhuận.

- Lương Đức Mến TH và BS-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

21 tháng 5 2012

Việc cúng giỗ khi gặp tháng nhuận

Năm 2012 Nhâm Thìn này là năm “Nhuận kép” bởi cả Âm lịch và Dương lịch đều nhuận. Tưởng  công việc cúng giỗ trong năm nhuận ai cũng rõ và dễ thống nhất với nhau. Nhưng hóa ra không dễ chút nào.

1. Trước hết nhắc lại về “nhuận”:
Nhuận hay nhuần là sự bổ sung thêm ngày, tuần hay tháng vào lịch để lịch phù hợp với các mùa thời tiết. Phép tính thời gian định ra số ngày trong tháng, số tháng trong năm phải là con số nguyên. Nhưng năm mặt trời hay năm thời tiết và chu kỳ trăng tròn, khuyết không phải bao gồm số nguyên các ngày. Để giải quyết sai biệt giữa năm, tháng theo chu kỳ tự nhiên với chu kỳ nhân tạo do con người đặt ra khi làm lịch người ta đã đưa “ngày nhuận”, “tháng nhuận” vào và tạo ra “năm nhuận”.
Cái thường gọi là “lịch ta” thực chất là “âm dương lịch” một năm thường có 12 tháng, nhưng cứ trong 19 năm như vậy sẽ có 7 năm có 13 tháng. Tháng thêm vào được gọi là “tháng nhuận” và năm đó gọi là “năm nhuận”.
2. Việc xác định tháng nhuận, tên tháng nhuận
Trong âm dương lịch tháng được thêm vào theo các quy tắc rất phức tạp. Đó là: phải đảm bảo tháng Tý (Một) luôn luôn là tháng có ngày chứa điểm khởi đầu tiết Đông chí ở nửa bán cầu Bắc; không được tính nhuận vào các tháng Sửu (Chạp), tháng Dần (Giêng). Để xác định tháng nhuận cần phải dựa vào các yếu tố có liên quan đến tiết khí do các nhà Thiên văn tính toán.
Trong cách đánh số thì tháng nhuận có cùng cách đánh số và tên gọi như tháng trước đó, chỉ thêm chữ “nhuận”. Trong hệ thống Can Chi thì tháng nhuận không có tên mà gọi theo tên tháng mà nó “nhuận”.
Ví như năm Nhâm Thìn 2012 nhuận 2 tháng Tư thì: tháng Tư sau (từ  thứ Hai ngày 21/5/2012 đến thứ Hai 18/6/2012) có tên:
-Theo số là “tháng Tư nhuận”, tức là tên số của tháng nó nhuận, tháng trước nó (từ thứ Bẩy ngày 21/4/2012 đến Chủ nhật ngày 20/5/2012).
- Theo Can Chi là tháng “Ất Tỵ (nhuận)”, nó là tháng thiếu chỉ có 29 ngày (từ ngày Nhâm Ngọ 壬午 trong Tiết: Tiểu mãn, kết thúc vào ngày Canh Tuất 庚戌 trong Tiết: Mang chủng). Tức là tên tháng mà nó nhuận, tháng Ất Tỵ (từ ngày Nhâm Tý 壬子 đến ngày Tân Tị 辛巳, tháng đủ 30 ngày).
3. Việc cúng giỗ khi gặp tháng nhuận
Năm có tháng nhuận không có hàm ý “tốt”, “xấu” gì về thời tiết, khí hậu. Do vậy cũng không thể ảnh hưởng đến vận hạn của con người hay khu vực,  quốc gia rộng ra là toàn thế giới.
Có điều đối với công việc tính theo lịch âm thì Tết và ngày cúng giỗ nếu rơi vào tháng trước nhuận thì bình thường, rơi vào sau tháng nhuận phải “chờ” thêm 1 tháng nữa. Trường hợp sự kiện xẩy ra vào chính tháng nhuận thì:
- Với những nghi lễ tính theo ngày, tuần thì phải tính từ ngày xẩy ra, tức là chú ý tới tháng nhuận.
- Với nghi lễ tính theo năm thì vẫn phải tiến hành theo tháng chính  bởi thực ra năm khác làm gì còn tháng “nhuận” đó nữa!
Ví dụ:
1. Thím tôi mất lúc 3 giờ sáng Thứ Tư ngày 15/6/1988, theo âm lịch đó là ngày 02 tháng 5 năm Mậu Thân. Năm nay nhuận 2 tháng Tư âm nhưng không thể cúng vào 02/4 nhuận (22/5/2012 nhằm ngày Quý Mùi tháng Ất Tỵ nhuận) được mà vẫn phải cúng vào tháng sau, 02/5 tức thứ Tư ngày 20/6/2012 nhằm ngày Nhâm Tý tháng Bính Ngọ.
2. Cháu rể tôi là Vũ Mạnh Hưng[1] (chồng Hoàng Thị Phương, con rể Lương Thị Sinh[2]) vừa mất lúc 8 giờ 30 ngày Chủ nhật 20/5/2012, tức là ngày 30 tháng Tư âm lịch, truy điệu và đưa tang từ 9 giờ thứ hai ngày 21/5/2012, tức là ngày 01 tháng Tư nhuận thì:
- Việc cúng 3 ngày, cúng tuần, cúng 49 ngày và 100 ngày tính từ 30/4 âm và trong cả tháng Tư nhuận. Cụ thể lễ Tam ngu vào: 23/5 tức ngày 02/4 nhuận; cúng tuần đầu vào 27/5 tức ngày 07/4 nhuận; Thất thất lai tuần vào 01/7 nhằm ngày 13 tháng 5 âm…
- Giỗ đầu vào 01 tháng Tư năm sau…
Nhớ Thím và thương cháu gái sớm mồ côi cha mẹ từ năm 14 tuổi nay lại mất chồng khi tuổi còn trẻ, mới ngoài 30. Một nách 2 con dại, kèm 2 em chưa ổn định với điều kiện lương giáo viên Tiểu học ở vùng cao…
Có lễ Trời chưa hẳn đã công bằng!

[1] Cháu quê ở Nam Đinh, sinh năm 1977 đang là Phó Chi nhánh điện SiMaCai, mất do Ung thư Vòm họng. Vợ vừa đẻ con trai thứ hai được 1 tháng rưỡi, em gái vợ là Thủy vừa cưới được 3 ngày.
[2] Lương Thị Sinh là con gái thứ hai của chú ruột tôi. Từng là giáo viên dạy ở xã Bản Mế, huyện Bắc Hà (nay thuộc SiMaCai) sau bỏ việc. Trong một chuyến đi xe khách từ Phong Niên lên bắc Hà, Sinh  bị rơi từ bậc tháng trên nóc xe khách  xuống và chết (ngày 19/4/1994, tức 09/3 Giáp Tuất). Sau hơn 100 ngày (26/6, tức 03/8) chông Sinh là Hoàng Công Phú (Chi cục trưởng chi cục Thuế Bắc Hà) cũng mất vì Xuất huyết não.

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

15 tháng 2 2012

Tìm hiểu về việc "nhuận kép" trong năm 2012-Nhâm Thìn


Chuyện vui kể rằng: có cụ già nói "năm nào tới sinh nhật Cụ cũng được gia đình hoặc tự tổ chức và đã thực hiện được đúng 20 lần", chẳng ai tin. Nhưng đó lại là sự thật! Bởi có một hiện tượng đặc biệt trong phép ghi lịch là có tháng nhuận, ngày nhuận nên có những ngày 4 năm mới xuất hiện 1 lần!. Kéo theo đó là bao nỗi suy tư: “nhuận” là gì? vì sao có “nhuận”? khi gặp năm có “ngày nhuận”, “tháng nhuận” vận hạn sẽ ra sao và việc cúng giỗ thế nào?...Đâu phải ai cũng rõ và đã sớm thống nhất được với nhau.
1. Về ngữ nghĩa:
“Nhuận” chữ Hán viết là , có nghĩa là “thừa”. Thực ra tuy gọi là “năm nhuận” (H: 閏年, A: Leap year, P: Année bissextile) nhưng chỉ là hiện tượng có “ngày thừa” 閏日, “tháng thừa” 閏月 trong năm đó so với các tháng, các năm bình thường khác, chứ không phải là thừa năm!

Như vậy: Năm nhuận theo dương lịch là năm chứa một ngày dôi ra còn theo âm lịch là năm có chứa tháng thứ 13.
Theo nguyên lý đó thì năm nay cả âm lịch (Nhâm Thìn, có nhuận tháng) và dương lịch (2012, có nhuận ngày) đều là năm nhuận.
2. Nguyên do có năm nhuận:
Thời gian vốn tự nhiên sinh ra nhưng lịch lại do con người lập nên. Con người lập ra lịch để ghi thời gian. Để làm lịch con người đã dựa vào ba đơn vị đo vốn được hình thành từ hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, không phụ thuộc vào sự áp đặt của con người: ngày (chu kỳ tự xoay quanh trục của trái đất), tháng (âm lịch là chu kỳ mặt trăng chạy một vòng quanh trái đất), năm (chu kỳ trái đất quay một vòng quanh mặt trời). Vì thế, lịch gắn liền với khoa học thiên văn và liên quan tới  khí hậu trên trái đất.
Việc đo thời gian được ấn định theo thiên văn, theo thời tiết và phép làm lịch đã quy định có sự lặp lại theo chu kỳ nhất định. Nhưng ba đơn vị thời gian thiên văn: ngày, tháng, năm không thông ước với nhau, không thể tìm ra một số nào chia hết cho cả 3 đơn vị này. Do vậy trên thực tế thì các mùa và các sự kiện thiên văn không lặp lại chính xác sau một số nguyên các ngày nên sau một khoảng thời gian nhất định sẽ xẩy ra sai số lớn. Vì vậy cần phải thêm vào một ngày hoặc một tháng để chỉnh lại các sai số do làm tròn.
2.1. Đối với Dương lịch:
Dương lịch (, The sun calendar/Le calendrier solaire) hiện tại mà chúng ta đang dùng là lịch của người La Mã cổ đại. Phép tính lịch này lấy năm Xuân phân làm cơ sở, có độ dài bằng vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời. Cũng bởi dựa vào chu kỳ mặt Trờimặt Trời thuộc Dương nên đây còn gọi là  Lịch Thái Dương. Lịch La Mã được Romulus (người sáng lập thành Roma, khoảng 753 tCn) tạo ra dựa trên hệ thống âm lịch của người Hy Lạp.
Khi làm lịch, người La Mã thời đó chưa biết là Trái Đất quay xung quanh Mặt trời và năm của họ chỉ có 304 ngày, được chia thành 10 tháng chứ không phải 12 tháng với tên của các tháng là Martius, Aprilis, Maius, Junius, Quinctilis, Sextilis, September, October, November và December. Trong đó tên chỉ 4 tháng đầu là tôn vinh các vị thần còn 6 tên chỉ 6 tháng cuối có nghĩa đen là tháng 5, tháng 6, tháng 7, tháng 8, tháng 9 và tháng 10.
Sau này, khi nhận ra lịch La Mã một năm thiếu 60 ngày so với chu kỳ quay của Trái Đất, hoàng đế thứ hai của La Mã là Numa Pompilius (715 tCn-673 tCn) đã thêm hai tháng có tên là January và February và đặt ở cuối của lịch và mỗi năm có 365 ngày, đó là Lịch Numa. Theo học giả Sacrobosco (thế kỷ 13) thì sơ đồ nguyên thủy của các tháng trong lịch này là rất đều, xen kẽ các tháng dài và ngắn. Từ tháng 1 đến tháng 12 thì độ dài các tháng là: 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, tổng cộng 354 ngày
Theo thời gian, tới khi Julius Caesar (7/100 tCn-3/44 tCn) lên nắm quyền thì lịch đã bị lệch mất 80 ngày so với mặt trời (lệch mùa) và nếu không có sự sửa đổi ngay lập tức thì lịch sẽ còn lệch hơn nữa trong tương lai. Do vậy, nhà Thiên văn học người Alexandria (Ai Cập) có tên là Sosigenes đã được Caesar giao việc nghiên cứu chỉnh sửa lại lịch cho chính xác. Sosigenes đã xác định lại chính xác lịch hiện tại mỗi năm thiếu 1/4 ngày. Ông đã và đồng thời xếp lại thứ tự tháng (đẩy January và February lên đầu) và đặt ra quy định tháng Hai có 28 ngày và cứ 4 năm một lần thì tháng 2 sẽ lại có 29 ngày để bù cho 1/4 ngày bị dư ra của một năm. Lịch này gọi là lịch Julius, được Julius Caesar giới thiệu năm 46 tCn và có hiệu lực từ năm 45 tCn.
Để thực hiện cải cách này, có một năm (rất có thể tương ứng với năm 46 tCn) đã được kéo dài 445 ngày. Tháng sinh của Caesar, Quintilis, được đổi tên thành Julius; ngày sinh của ông 12 tháng 7 trở thành quốc lễ của La Mã. Sacrobosco cho rằng Julius Caesar đã thêm 1 ngày vào mọi tháng, ngoại trừ tháng Hai, tổng cộng là 11 ngày nữa, tạo ra năm có 365 ngày. Ngày nhuận có lẽ đã được thêm vào tháng Hai trong năm nhuận:  31, 29 (hay 30), 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30. Như vậy tháng 8 (tháng Augustus) ngắn ngày hơn tháng 7 (tháng Julius) nên  sau đó Hoàng đế La Mã Augustus (63 tCn-14) đã đổi độ dài các tháng là : 31, 28 (hay 29), 31, 30, 31, 30, 31, 31, 30, 31, 30, 31. Đây chính là độ dài các tháng mà ngày nay chúng ta đang dùng.
Nhưng độ dài của năm mặt trời là 365,242216 ngày cho nên lịch Julius dài hơn khoảng 0,0078 ngày trong một năm, tức là khoảng 11 phút 14 giây. Để bù vào sự khác biệt này thì cứ 400 năm ta sẽ bỏ bớt đi 3 ngày năm nhuận. Cho đến năm 1582 (sự sai biệt đã lên đến 10 ngày). Vào năm đó, Hoàng Gregory XIII (1502-1582) quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng tương ứng trở lại. Sau ngày 4 tháng 10 năm 1582 là ngày 15 tháng 10. Lịch đã sửa mang tên lịch Gregory và được áp dụng cho đến bây giờ. Độ dài của năm được xác định chính xác bằng 365,2425 ngày, vì thế đến thời điểm áp dụng lịch Gregôriut thì thời gian theo lịch Juliut đã chậm đi 10 ngày. Để loại trừ sai, lịch đó đã quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng tương ứng trở lại và quy định: tại Roma, Espagne và Portugal, cũng như các nhà thờ Thiên chúa giáo thì ngày hôm sau của thứ năm 4/10/1582 là 15/10/1582; chu kì nhuận xác định là: 400 năm chỉ có 97 năm nhuận. Quy tắc xác định lịch này như sau: Các năm không nhuận có 365 ngày: các tháng 4, 6, 9, 11 có 30 ngày, tháng 2 có 28 ngày, 7 tháng còn lại có 31 ngày; riêng năm nhuận có 366 ngày do thêm 1 ngày vào tháng 2 để có 29 ngày.
Nguyên tắc xác định năm nhuận theo lịch Gregory: các năm chia hết cho 4 (như năm 1964, 1980, 2004, 2012…) là năm nhuận, nhưng với các năm chia hết cho 100 thì phải đồng thời chia hết cho 400 mới là năm nhuận. Theo đó các năm 1700, 1800, 1900, 2100, 2200… không là năm nhuận vì không chia hết cho 400, còn các năm 1600, 2000 hay 2400, 2800… là năm nhuận ! Theo nguyên tắc này thì trung bình một năm có 365 + 1/4 − 1/100 + 1/400 = 365,2425 ngày, tức là 365 ngày 5 giờ 49 phút và 12 giây.
Lý do nằm sau quy tắc này như sau:
Lịch Gregory được tạo ra để đảm bảo ngày xuân phân ở châu Âu rơi vào ngày 21 tháng 3, để đảm bảo ngày lễ Phục Sinh có thể điều chỉnh theo ngày xuân phân một cách rõ ràng hơn.
Một năm xuân phân (tính giữa hai điểm xuân phân kế tiếp nhau) là khoảng 365,242375 ngày.
Quy tắc tính năm nhuận theo lịch Gregory lấy một năm trung bình là 365,2425 ngày.
Sự sai khác rất nhỏ này (trên 0,0001 ngày) có nghĩa là sai số thời gian sẽ tích lũy đủ một ngày trong khoảng 8.000 năm. Nhưng trong thời gian của 8.000 năm thì độ dài của một năm xuân phân cũng sẽ thay đổi theo một lượng mà người ta không thể dự báo chính xác trước. Vì thế quy tắc tính năm nhuận của lịch Gregory là đủ thỏa mãn.
2.2. Đối với Âm Dương lịch
Lịch gắn bó Thái âm (Mặt trăng) với Thái dương ( Mặt trời) và được gọi là Âm dương lịch. Nhưng phiền phức là để đạt được mục đích ấy là khó, vì số Tuần Trăng và Thời tiết đều là số có phần lẻ. Cụ thể:
Tuần Trăng hay Sóc sách : 29,530588 ngày trung bình;
Thời tiết hay Tuế chu : 365,242216 ngày trung bình
Nếu như Dương lịch đã qua nhiều lần đổi thay như đã nói thì Âm lịch cũng trải qua nhiều thay đổi, sửa chữa. Chúng ta đã biết: năm Mặt Trăng ( nián) là từ Tết Nguyên Đán này đến Tết Nguyên Đán tiếp theo, được sử dụng để tính ngày. Năm Mặt Trời ( suì) có thể là chu kỳ giữa hai Lập xuân liền nhau hay chu kỳ giữa hai Đông chí, dùng để tính tháng. Âm Dương lịch 陰陽 này được áp dụng bởi AL phối theo DL từ thời Minh (,1368 – 1644) và hoàn chỉnh như ngày nay dưới triều Thanh (清朝,1644 - 1911). Đó là hệ lịch giống như âm lịch (tháng theo tuần Trăng) vừa lấy năm theo vòng thời tiết, không sai lệch nhiều với thời tiết 4 mùa nên cứ 3 năm rồi 2 năm âm lịch người ta phải cho thêm một tháng nhuận để năm âm lịch và dương lịch không sai nhau nhiều (tam niên nhất nhuận, ngũ niên tái nhuận). Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, năm âm lịch vẫn chậm hơn so với năm dương lịch.
Khắc phục tình trạng trên bằng cách cứ 19 năm lại có một lần cách thêm một tháng nhuận theo quy luật nhuận là tháng theo tiết khí mà không có trung khí. Với cách đặt nhuận như vậy, cuối một chu kì tổng số ngày theo ÂDL và theo năm Xuân phân xấp xỉ bằng nhau nhưng trong từng năm của chu kì thì ngày tháng vẫn sai nhau.
Những ngày tiết khí là cái cốt cho dương lịch. Âm dương lịch do đã có nhuận để đuổi kịp dương lịch này phải lấy giờ chuẩn, ngày chuẩn theo phép tính múi giờ. Chính quy luật nhuận này cùng với quy ước pháp định múi giờ (Việt Nam múi giờ 7 còn Trung Quốc là múi giờ 8) đã tạo nên sự khác nhau giữa lịch âm của chúng ta với lịch âm Trung Quốc. Dù Việt hay Hoa thì mỗi năm có 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu, 29 ngày.  Cứ 19 năm thì nhuận 7 lần, mỗi lần nhuận một tháng. Tháng đầu năm là tháng Giêng và tháng cuối năm là tháng Chạp không bao giờ được lấy làm tháng nhuận. Ngày đầu năm, ngày mùng Một Tết, là ngày đầu tuần trăng thứ nhì sau ngày tiết Ðông chí (Winter solstice, thường xem như là ngày mà đêm dài nhất trong năm).  Tùy theo tuần trăng ở ngày Ðông chí mà ngày đầu năm sẽ đến trong khoảng 30 đến 59 ngày sau ngày đó.  Do đó ngày mùng một Tết chỉ có thể nằm trong khoảng 20 tháng 1 đến 21 tháng 2 dương lịch.  Tháng âm lịch thường đi sau tháng dương lịch một hay hai thứ, như tháng ba âm lịch ứng với tháng tư hoặc tháng năm dương lịch.
Nguyên tắc tính nhuận: việc đặt ngày trong Âm dương lịch theo nguyên tắc “Sóc-Vọng”, sao cho các ngày đầu tháng luôn không có trăng; có 2 loại tháng: tháng thiếu 月小 có 29 ngày, tháng đủ 月大 có 30 ngày; thường số tháng đủ nhiều hơn số tháng thiếu một chút. Năm nhuận có 13 tháng, có hai tháng trùng tên, tháng thứ nhì là tháng nhuận và tháng nhuận cũng theo nguyên lý “sóc vọng” và “thiếu-đủ” trên.  Tùy theo tháng nhuận, năm nhuận có từ 382 đến 385 ngày. Trong 19 năm dương lịch có 228 tháng dương lịch, tương ứng với 235 tháng âm lịch, thừa 7 tháng so với năm dương lịch, gọi là 7 tháng nhuận. Bảy tháng trước đó được quy ước vào các năm thứ 3, 6, 9 hoặc 8, 11, 14, 17, 19 của chu kỳ 19 năm.
Với năm âm lịch, muốn tính năm nhuận chỉ việc lấy năm dương lịch tương ứng với năm âm lịch chia cho 19, nếu số dư là một trong các số: 0, 3, 6, 9 hoặc 11, 14, 17 thì năm âm lịch đó có tháng nhuận.
3. Năm 2012:
Dương lịch: Lấy năm sinh của Chúa Jêsu (Đức Chúa Jésus Christ, 耶蘇教主, Gia Tô Giáo Chủ) làm năm khởi đầu, trước năm đó gọi là trước Công nguyên (tCn). Công Nguyên 公元 là kỉ nguyên bắt đầu bằng năm theo truyền thống được cho là năm sinh của Chúa. Các năm trước đó được gọi là trước Công Nguyên hay trước Tây lịch. Khái niệm Công Nguyên được tu sĩ Dionysius Exiguus đặt ra vào thế kỷ 6 khi ông tính lịch cho các ngày lễ Phục Sinh và được dùng với các lịch Julius và Gregory, theo đó Chúa sinh ngày 25/12 năm 753 Rome nên năm Rome thứ 754 trở thành năm 1 (không có năm 0). Các nhà làm sử áp dụng thông lệ này vì nó được dùng lần đầu bởi tu sĩ Bede trong tác phẩm Historia Ecclesiastica Gentis Anglorum (Lịch sử giáo hội của người Anh, 731). Ông ta không dùng số 0, mặc dù ông đã biết số 0 vào lúc đó, vì việc đếm số cho năm bắt đầu từ 1 chứ không phải 0. Sau đó người ta nhận thấy rằng  Dionysius  đã tính lầm ít nhất 4 năm. Năm 2000 đáng lý ra phải là năm 2005. Chữ tương đương với Công Nguyên trong tiếng Latin là Anno Domini, viết tắt AD hay A.D., nghĩa là Năm của Chúa hay Kỉ nguyên Kitô. Nó được sử dụng phổ biến trong tiếng Anh, thường đặt trước số năm, ví dụ AD 128.
Theo quy ước đó năm nay: số La Mã: MMXII, số chỉ năm là 2012 và số này chia hết cho 4 nên là năm nhuận. Tháng Hai có 29 ngày.
Đó là:  Thứ Tư 29/02/2012, Ngày 8/2 âm lịch (ngày Canh Thân 更申, tháng Quý Mão 癸卯, năm Nhâm Thìn 壬辰); Giờ đầu ngày: Bính Tý; thuộc Tiết: Vũ Thủy.
Theo Âm lịch, năm Nhâm Thìn phần lớn các ngày trong năm 2012 (bắt đầu từ 23 tháng 1 năm 2012  đến 10 tháng 2 năm 2013) mà con số chỉ năm Dương lịch là 2012 khi chia cho 19 được 105, dư 17 nên năm nay âm lịch cũng nhuận. 
Tháng nhuận là tháng Tư. Theo nguyên tắc đặt tên, tháng Nhuận khoongc ó tên Can Chi mà gọi theo tên tháng nó Nhuận, tức là tháng Ất Tỵ nhuận 乙巳. Nó bắt đầu từ  thứ Hai ngày 21/5/2012, tức Ngày Nhâm Ngọ 壬午, tháng Ất Tỵ (nhuận), năm Nhâm Thìn, Giờ đầu ngày: Canh Tý, Tiết: Tiểu mãn và kết thúc vào thứ Hai 18/6/2012. Vì tháng Nhuận thiếu nên đây là ngày 29/4 nhuận, tức ngày Canh Tuất 庚戌, tháng Ất Tỵ (nhuận), năm Nhâm Thìn, Giờ đầu ngày: Bính Tý, Tiết: Mang chủng.
4. Tính “Cát”, “Hung”:
Năm nhuận chỉ là một thủ pháp của các nhà làm lịch nhằm làm cho năm âm lịch và dương lịch không sai lệch nhau nhiều nên có thể có năm chỉ lịch dương nhuận hoặc ngược lại có năm chỉ lịch âm nhuận. Nhưng có những năm cả hai lịch đều nhuận. Đó là những năm mà con số chỉ năm dương lịch “chia hết cho 4” và “chia cho 19 thì dư 0, 3, 6, 9, 11, 14, 17”.
Ta lại biết Lịch dương hiện tại được sử dụng ổn định từ cuối năm 1582, còn cách tính Lịch âm (thực ra là Âm dương hợp lịch) hiện nay được hoàn chỉnh từ thời nhà Thanh (清朝, 1644 – 1911) bên Tầu. Riêng với Việt Nam, việc xác định múi giờ và cách tính lịch được quy định bởi Quyết định số 121/CP ngày 8.8.1967 của Chính phủ và tái khẳng định bằng Quyết định số 134/2002/QĐ-TTg ngày 14/10/2002 của Thủ tướng. Như vậy, theo quan điểm chính thống việc xác định ngày tháng chính thức theo lịch hiện hành chỉ đúng từ sau 01/01/1968 trở đi và nhiều năm lệch ngày, tháng âm lịch so với lịch Trung Quốc.

Năm đầu tiên từ mốc đó xẩy ra hiện tượng “nhuận kép” chính là năm 1968 Mậu Thân. Năm đó tháng Hai lịch dương có ngày 29, vào thứ Năm ngày 02 tháng 02 âm còn lịch âm nhuận 2 tháng 7 và 01 tháng 7 nhuận là ngày Bính Dần, tháng Canh Thân (nhuận) rơi vào thứ Bẩy ngày 24/8/1968.

Cũng có năm theo lịch Trung Quốc là “nhuận kép” nhưng với Việt Nam thì không và ngược lại. Ví dụ năm 1984, theo Dương lịch tháng hai có 29 ngày và ngày đó rơi vào thứ Tư và là ngày 28 tháng Giêng Giáp Tý. Năm Giáp Tý đó lịch Trung có 2 tháng 10 và ngày 01 tháng 10 nhuận (Ất Hợi) là thứ Sáu ngày 23/11/1984 nhưng ngày đó lịch Việt đã là ngày 01/11 âm lịch, tức ngày Tân Dậu, tháng Bính Tý. Do vậy năm đó nước ta ăn Tết trước một tháng và âm lịch của lịch Việt nhuận vào năm sau: 1985-Ất Sửu. Năm đó âm lịch nước ta có 2 tháng 2 và 01/02 nhuận là Thứ Năm ngày 21/3/1985 nhưng lịch Tầu lại là tháng Hai thường nên vẫn cùng tên Can Chi là Kỷ Mão.

Gần đây nhất về trước là năm 2004 - Giáp Thân là năm “nhuận kép”. Năm đó, số La Mã ghi là MMIV là một năm nhuận bắt đầu vào thứ năm trong lịch Gregory vàlà năm 5764–5765 trong lịch Do Thái, năm 1424–1425 trong lịch Hồi giáo, năm 1382–1383 theo lịch Ba Tư, và năm 2757 Phật lịch.
Về dương lịch, năm 2004 (chia hết cho 4) tháng 2 có 29 ngày và ngày nhuận này rơi vào Chủ nhật, tức  ngày 10 tháng 2 âm lịch, có Lục tự là ngày Mậu Dần, tháng Đinh Mão, năm Giáp Thân, Giờ đầu ngày: Nhâm Tý, Tiết: Vũ Thủy.
Về âm lịch (tương ứng 2004 chia cho 19 dư 9): năm Giáp Thân có 2 tháng 2 âm lịch. Ngày 1 tháng 2 nhuận là Chủ nhật ngày 21/3/2004, tức ngày Kỷ Hợi, tháng Đinh Mão (nhuận), năm Giáp Thân, Giờ đầu ngày: Giáp Tý thuộc Tiết: Xuân phân. Bởi là tháng thiếu nên ngày cuối tháng nhuận này là ngày 29 tháng 2 nhuận, vào Chủ nhật 18/4/2004, với Lục tự là ngày Đinh Mão, tháng Đinh Mão (nhuận), năm Giáp Thân, Giờ đầu ngày: Canh Tý, nhằm Tiết: Thanh minh.
Gần đây về tương lai là năm 2020 Canh Tý: ngày 29 tháng 2 lịch dương là ngày thứ Bẩy, 07/2 âm còn lịch âm nhuận 2 tháng Tư và ngày 01/4 nhuận là thứ Bảy ngày 23/5/2020, nó là ngày Bính Dần, tháng Tân Tỵ.
Như vậy muốn tính xem năm (dương lịch) nào có “nhuận kép theo lịch Việt” từ nay đến 2060 ta công thức: 2012 + n8 với n là số nguyên dương.
Năm “nhuận kép” không có hàm ý gì về thời tiết, khí hậu. Do vậy cũng không thể ảnh hưởng đến vận hạn của con người hay quốc gia rộng ra là toàn thế giới. Lịch sử đã chứng minh như vậy.
Có điều đối với người làm công ăn lương, tháng Hai dương lịchn năm đó họ phải làm thêm 1 ngày không lương. Đối với công việc tính theo lịch âm thì Tết và ngày cúng giỗ nếu rơi vào tháng sau tháng nhuận phải “chờ” thêm 1 tháng nữa, còn nếu rơi vào tháng có tên nhuận phải cúng vào tháng chính.
-BS, TH từ nhiều nguồn TK-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

20 tháng 7 2025

Nhuận hai tháng Sáu âm lịch ?

Mấy hôm nay, dư luận rộ lên việc “Nhuận 2 tháng Sáu âm”. Mình cũng “a dua” vài điều xem sao. Thì ra có khối điều mình đã biết nhưng cũng lắm điều “lơ mơ”, thậm chí không tường,...nhưng đều cần lan tỏa!...  

1. Nhắc lại không thừa:

     Thời gian vốn tự nhiên sinh ra nhưng lịch lại do con người lập ra lịch pháp (Calendar, phép làm lịch) để ghi thời gian. Để làm lịch con người đã dựa vào ba đơn vị đo vốn được hình thành từ hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, không phụ thuộc vào đơn vị đo đó là ngày (chu kỳ trái đất tự xoay trục nghiêng 23, 5 độ), tháng (chu kỳ mặt trăng chạy một vòng quanh trái đất), năm (chu kỳ trái đất quay một vòng quanh mặt trời). Vì thế, lịch gắn liền với khoa học thiên văn và liên quan tới  khí hậu trên trái đất.

Ba đơn vị thời gian thiên văn đó (ngày, tháng, năm) không thông ước với nhau, không thể tìm ra một số nào chia hết cho cả 3 đơn vị này. Do vậy trên thực tế thì các mùa và các sự kiện thiên văn không lặp lại chính xác sau một số nguyên các ngày nên sau một khoảng thời gian nhất định sẽ xẩy ra sai số lớn. Vì vậy cần phải thêm vào một ngày hoặc một tháng để chỉnh lại các sai số do làm tròn . Năm chứa Ngày, Tháng thêm vào đó đươc gọi là “năm nhuận” !

Nhuận” chữ Hán viết là , có nghĩa là “thừa”. Thực ra tuy gọi là “năm nhuận” (H: 閏年, A: Leap year, P: Année bissextile) nhưng chỉ là hiện tượng có “ngày thừa” 閏日, “tháng thừa” 閏月 trong năm đó so với các tháng, các năm bình thường khác, chứ không phải là thừa năm!

1.1. Đối với Dương lịch:

Dương lịch (陽曆, The sun calendar/Le calendrier solaire) là Phép tính lịch lấy năm Xuân phân làm cơ sở, có độ dài bằng vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời. Cũng bởi dựa vào chu kỳ mặt Trời mà mặt Trời thuộc Dương nên đây còn gọi là  Lịch Thái Dương. Lịch La Mã được Romulus (người sáng lập thành Roma, khoảng 753 tCn) tạo ra dựa trên hệ thống âm lịch của người Hy Lạp.

Khi làm lịch, người La Mã thời đó chưa biết là Trái Đất quay xung quanh Mặt trời và năm của họ chỉ có 304 ngày, được chia thành 10 tháng chứ không phải 12 tháng với tên của các tháng là Martius, Aprilis, Maius, Junius, Quinctilis, Sextilis, September, October, November và December. Trong đó tên chỉ 4 tháng đầu là tôn vinh các vị thần còn 6 tên chỉ 6 tháng cuối có nghĩa đen là tháng 5, 6, 7, 8, 9 và tháng 10.

Sau này, khi nhận ra lịch La Mã một năm thiếu 60 ngày so với chu kỳ quay của Trái Đất, hoàng đế thứ hai của La Mã là Numa Pompilius (715 tCn-673 tCn) đã thêm hai tháng có tên là January và February và đặt ở cuối của lịch và mỗi năm có 365 ngày, đó là Lịch Numa và theo học giả Sacrobosco (thế kỷ 13) thì nguyên thủy của các tháng trong lịch này là rất đều, xen kẽ các tháng dài và ngắn. Từ tháng 1 đến tháng 12 thì độ dài các tháng là: 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, 30, 29, tổng cộng 354 ngày

Tới khi Julius Caesar (7/100 tCn-3/44 tCn) lên nắm quyền thì lịch đã bị lệch mất 80 ngày so với mặt trời, và lịch sẽ còn lệch hơn nữa trong tương lai. Do vậy, nhà Thiên văn học người Alexandria (Ai Cập) có tên là Sosigenes đã được Caesar giao việc nghiên cứu chỉnh sửa lại lịch cho chính xác. Sosigenes đã xác định lại chính xác lịch hiện tại mỗi năm thiếu 1/4 ngày. Ông đã xếp lại thứ tự tháng (đẩy January và February lên đầu) và đặt ra quy định tháng Hai có 28 ngày và cứ 4 năm một lần thì tháng 2 có 29 ngày để bù cho 1/4 ngày bị dư ra của một năm. Lịch này gọi là lịch Julius, được Julius Caesar giới thiệu năm 46 tCn và có hiệu lực từ năm 45 tCn.

Để thực hiện cải cách này, có một năm (rất có thể là năm 46 tCn) đã được kéo dài 445 ngày. Tháng sinh của Caesar, Quintilis, được đổi tên thành Julius; ngày sinh của ông 12 tháng 7 trở thành quốc lễ của La Mã. Sacrobosco cho rằng Julius Caesar đã thêm 1 ngày vào mọi tháng, ngoại trừ tháng Hai, tổng cộng là 11 ngày nữa, tạo ra năm có 365 ngày. Ngày nhuận có lẽ đã được thêm vào tháng Hai trong năm nhuận:  31, 29 (hay 30), 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30. Như vậy tháng 8 (tháng Augustus) ngắn ngày hơn tháng 7 (tháng Julius) nên  sau đó Hoàng đế La Mã Augustus (63 tCn-14) đã đổi độ dài các tháng là : 31, 28 (hay 29), 31, 30, 31, 30, 31, 31, 30, 31, 30, 31. Đây chính là độ dài các tháng mà ngày nay chúng ta đang dùng.

Nhưng độ dài của năm mặt trời là 365,242216 ngày cho nên lịch Julius dài hơn khoảng 0,0078 ngày trong một năm, tức là khoảng 11 phút 14 giây. Để bù vào sự khác biệt này thì cứ 400 năm ta sẽ bỏ bớt đi 3 ngày năm nhuận. Cho đến năm 1582 (sự sai biệt đã lên đến 10 ngày). Vào năm đó, Giáo hoàng Gregory XIII (1502-1582) quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng tương ứng trở lại. Sau ngày 4 tháng 10 năm 1582 là ngày 15 tháng 10. Lịch đã sửa mang tên lịch Gregory và được áp dụng cho đến bây giờ. Độ dài của năm được xác định chính xác bằng 365,2425 ngày, vì thế đến thời điểm áp dụng lịch Gregôriut thì thời gian theo lịch Juliut đã chậm đi 10 ngày. Để loại trừ sai, lịch đó đã quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng tương ứng trở lại và quy định: tại Roma, Espagne và Portugal, cũng như các nhà thờ Thiên chúa giáo thì ngày hôm sau của thứ năm 4/10/1582 là 15/10/1582; chu kì nhuận xác định là: 400 năm có 97 năm nhuận. Trong đó: Các năm không nhuận có 365 ngày (các tháng 4, 6, 9, 11 có 30 ngày, tháng 2 có 28 ngày, 7 tháng còn lại có 31 ngày); riêng năm nhuận có 366 ngày (tháng 2 để có 29 ngày).

Nguyên tắc xác định năm nhuận theo lịch Gregory: các năm chia hết cho 4 (như năm 1964, 1980, 2004, 2012…) là năm nhuận, nhưng với các năm chia hết cho 100 thì phải đồng thời chia hết cho 400 mới là năm nhuận. Theo đó các năm 1700, 1800, 1900, 2100, 2200… không là năm nhuận vì không chia hết cho 400, còn các năm 1600, 2000 hay 2400, 2800… là năm nhuận ! Theo nguyên tắc này thì trung bình một năm có 365 + 1/4 − 1/100 + 1/400 = 365,2425 ngày, tức là 365 ngày 5 giờ 49 phút và 12 giây. Việc này để đảm bảo ngày xuân phân ở châu Âu rơi vào ngày 21 tháng 3, để đảm bảo ngày lễ Phục Sinh có thể điều chỉnh theo ngày xuân phân một cách rõ ràng hơn.

Một năm Xuân phân (tính giữa hai điểm Xuân phân kế tiếp nhau) là khoảng 365,242375 ngày. Quy tắc tính năm nhuận theo lịch Gregory lấy một năm trung bình là 365,2425 ngày.

Sự sai khác rất nhỏ này (trên 0,0001 ngày) có nghĩa là sai số thời gian sẽ tích lũy đủ một ngày trong khoảng 8.000 năm. Vì thế quy tắc tính năm nhuận của lịch Gregory là đủ thỏa mãn.

Chú ý rằng, khi các tháng được đặt tên lại, theo tiếng Anh là: 1 January (31 ngày),  2 February (28 hay 29 ngày),  3 March (31 ngày),  4 April (30 ngày),  5 May (31 ngày),  6 June (30 ngày),  7 July (31 ngày),  8 August (31 ngày),  9 September (30 ngày),  10 October (31 ngày),  11 November (30 ngày),  12 December (31 ngày) Như thế, để dễ nhớ: tháng 2 là tháng cuối của năm thời lập lịch lại liên quan đến chết chcs, án tử nên rút đi chỉ còn 28 ngày (năm thương) hay 29 ngày (năm nhuận) còn tháng 7 (July) và tháng 8 (August) mang tên 2 Hoàng đế lập quốc của La Mã nên có 31 ngày; còn cứ một tháng 31 ngày đến tháng 30 ngày bắt đầu từ tháng 1.

Liên Hợp quốc thấy rằng  lịch Gregorien không thích hợp với sinh hoạt kinh tế hiện tại nên có ý định sửa thành lịch vĩnh viễn quốc tế. Nhưng là vấn đề của các nhà khoa học, không thuộc lĩnh vực cần biết của thảo dân.

Dương lịch chúng ta sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã đã được hoàn thiện nhiều lần và lần cuối là bởi Giáo hoàng Grégoire XIII (1572-1585). Do lịch sử đó nên có 2 tháng liền nhau (7 July và 8 August) đều 31 ngày và tháng 2 (February) ít ngày nhất, chỉ 28 hay 29 ngày! Nó được tính theo chu kỳ quay của Trái Đất quanh Mặt Trời (365 ngày/năm). Tuy nhiên, thời gian cần thiết để trái đất quay hoàn toàn một vòng quanh mặt trời khoảng 365,24 ngày nên cứ mỗi năm vượt qua khoảng cách giữa dương lịch và thời gian trái đất quay quanh một vòng mặt trời sẽ chênh lệch 5 giờ, 48 phút và 56 giây. Để điều chỉnh, dương lịch áp dụng quy tắc năm nhuận, cứ 4 năm lại thêm một ngày, đưa tổng số ngày của năm nhuận lên 366.

1.2. Đối với Âm Dương lịch

Nếu như Dương lịch đã qua nhiều lần đổi thay như đã nói thì Âm lịch cũng trải qua nhiều thay đổi, sửa chữa. Chúng ta đã biết: năm Mặt Trăng  là từ Tết Nguyên Đán này đến Tết Nguyên Đán tiếp theo, được sử dụng để tính ngày. Năm Mặt Trời  là chu kỳ giữa hai Lập Xuân liền nhau hay giữa hai Đông chí, dùng để tính tháng.

Vì năm Âm lịch cổ điển chỉ có 354,36 ngày nên so với chu kỳ thay đổi thời tiết trên Trái Đất là 365,25 ngày, hụt mất hơn chục ngày. Chỉ vài năm là số ngày chênh lệch này lên đến cả tháng. Chỉ mươi, mười lăm năm, số ngày chênh lệch này lên đến nửa năm. Do đó, Âm lịch cổ điển không phản ánh chính xác thời tiết nữa, nếu năm nào đó Tết Nguyên Đán vào mùa Xuân thì mươi mười lăm năm sau, Tết Nguyên Đán vào giữa mùa Hè! Cổ nhân quan niệm chuyển động tương đối của Mặt Trời so với Trái Đất là trong mỗi chu kỳ 4 mùa, Mặt Trời đi trên 1 quỹ đạo tưởng tượng gọi là đường Hoàng Đạo. Các cụ quan sát vị trí Mặt Trời hàng ngày trên đường Hoàng Đạo đó luôn thay đổi trong suốt 4 mùa và sau đó lại lặp lại cho 4 mùa tiếp theo. Họ đánh dấu 24 vị trí Mặt Trời trên đường Hoàng Đạo đó ứng với 24 ngày gọi là Ngày Tiết (Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân…).

Từ lâu, người Phương Đông đã biết đến sự sai lệch của Âm lịch cổ điển (chỉ dựa vào Mặt Trăng) so với thời tiết (do Mặt Trời quyết định). Vì vậy, người ta tìm cách điều chỉnh lại Âm lịch theo Mặt Trời, thành Âm Dương lịch (lịch ngày nay chúng ta vẫn đang dùng và gọi là Âm lịch nhưng thực ra đó là Âm Dương lịch). Âm Dương lịch (A: Lunisolar calendar, P: Calendrier luni-solaire, H: 陰陽曆)  này được áp dụng từ thời Minh  (明朝, 1368 – 1644) và hoàn chỉnh như ngày nay dưới triều Thanh (清朝, 1644 - 1911). Ở Việt Nam thường gọi là “lịch ta”! Đó là hệ lịch lấy chu kỳ mặt trăng (mọc, lặn, khuyết, tròngiống như Âm lịch vừa lấy năm theo vòng thời tiết, không sai lệch nhiều với thời tiết 4 mùa nên cứ 3 năm rồi 2 năm âm lịch người ta phải cho thêm một tháng nhuận để năm âm lịch và dương lịch không sai nhau nhiều (三年一閏, 五年再閏, tam niên nhất nhuận, ngũ niên tái nhuận). Do đã có nhuận để đuổi kịp dương lịch này phải lấy giờ chuẩn, ngày chuẩn theo phép tính múi giờ. Chính quy luật nhuận này cùng với quy ước pháp định múi giờ (Việt Nam múi giờ 7 còn Trung Quốc là múi giờ 8) đã tạo nên sự khác nhau giữa lịch âm của chúng ta với lịch âm Trung Quốc. Dù Việt hay Hoa thì mỗi năm có 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu, 29 ngày.  Cứ 19 năm thì nhuận 7 lần, mỗi lần nhuận một tháng. Dù thế nào thì lịch này dựa vào chu kỳ quay của Mặt Trăng quanh Trái Đất. Một năm chỉ có khoảng 354 ngày, ngắn hơn năm Dương lịch khoảng 11 ngày. Vì vậy, nếu không có tháng nhuận, lịch Âm sẽ ngày càng lệch xa.

Tháng đầu năm là tháng Giêng 正月 và tháng cuối năm là tháng Chạp 臘月không bao giờ được lấy làm tháng nhuận. Ngày đầu năm, ngày mùng Một Tết, là ngày đầu tuần trăng thứ nhì sau ngày tiết Ðông chí (Winter solstice, thường xem như là ngày mà đêm dài nhất trong năm). Tùy theo tuần trăng ở ngày Ðông chí mà ngày đầu năm sẽ đến trong khoảng 30 đến 59 ngày sau ngày đó.  Do đó ngày mùng Một Tết chỉ có thể nằm trong khoảng 20 tháng 1 đến 21 tháng 2 Dương lịch.  Tháng âm lịch thường đi sau tháng dương lịch một hay hai thứ, như tháng ba âm lịch ứng với tháng tư hoặc tháng năm dương lịch. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, năm âm lịch vẫn chậm hơn so với năm dương lịch. Khắc phục tình trạng trên bằng cách cứ 19 năm lại có một lần cách thêm một tháng nhuận theo quy luật nhuận là tháng theo tiết khí mà không có trung khí. Với cách đặt nhuận như vậy, cuối một chu kì tổng số ngày theo ÂDL và theo năm Xuân phân xấp xỉ bằng nhau nhưng trong từng năm của chu kì thì ngày tháng vẫn sai nhau.

Nếu năm Mặt Trời được định nghĩa như là năm chí tuyến thì âm dương lịch sẽ cung cấp chỉ thị về mùa; nếu nó được tính theo năm thiên văn thì lịch sẽ dự báo chòm sao mà gần đó trăng tròn (điểm vọng) có thể xảy ra. Thông thường luôn có yêu cầu bổ sung buộc một năm chỉ chứa một số tự nhiên các tháng, trong phần lớn các năm là 12 tháng nhưng cứ sau mỗi 2 (hay 3) năm lại có một năm với 13 tháng. Lịch gắn bó Thái âm (Mặt trăng) với Thái dương (Mặt trời) và được gọi là “Âm dương lịch”. Nhưng phiền phức là để đạt được mục đích ấy là khó, vì số Tuần Trăng và Thời tiết đều là số có phần lẻ (Tuần Trăng hay Sóc sách : 29,530588 ngày trung bình; Thời tiết hay Tuế chu : 365,242216 ngày trung bình).

Do tính ưu việt bởi cách tính thuận tiện, đơn giản, phản ánh đúng chu trình thời tiết trong năm nên Dương lịch được dùng cả ở những nước vốn vẫn dùng âm lịch hoặc âm - dương lịch: Anh 英格蘭 áp dụng từ 3/9/1752, Nga 俄羅斯 năm 1918, Hy Lạp 希拉 năm 1923, Nhật 日本: 1873, Trung Quốc 中國 1912, Roumanie 西班牙: 1820...và ngày nay được dùng rộng rãi trên thế giới.

2. Nhuận:

Âm lịch không khớp hoàn toàn với chu kỳ của Mặt Trăng và Mặt Trời, nên cứ khoảng 2-3 năm lại có một tháng nhuận để điều chỉnh.  “Nhuận” (A: Intercalation, P: Intercalation, H: 置閏) có nghĩa là “thừa”, đó chính là sự dôi ra (ngày, tuần, tháng) so với năm thường để làm cho lịch phù hợp với các mùa thời tiết. Thực ra tuy gọi là “năm nhuận” (H: 閏年, A: Leap year, P: Année bissextile) nhưng chỉ là hiện tượng có “ngày thừa” 閏日, “tháng thừa” 閏月 trong năm đó so với các tháng, các năm bình thường khác, chứ không phải là thừa năm!  Những năm mà có số chỉ năm dương chia hết cho 4 và chia cho 19 dư 0, 3, 6, 9, 11, 14, 17 là những năm cả dương lịch và âm lịch đều nhuận và đó là “nhuận kép”: tháng 2 dương lịch có 29 ngày và năm âm lịch có 13 tháng.

Âm lịch tính theo chu kỳ Mặt trăng quay quanh Mặt trời mà chu kỳ đó kéo dài 29,53 ngày nên một năm với 12 chu kỳ quay sẽ có khoảng 354 ngày. Như vậy, so với năm Dương lịch thì năm Âm lịch ít hơn khoảng 11 ngày, sau 3 năm sẽ là 33 ngày, tức là hơn 1 tháng. Để khắc phục “khoảng cách chênh lệch đó” và để phù hợp với thời tiết, người ta đưa ra “năm nhuận” (năm có 13 tháng) và đó chính là “Âm Dương lịch” mà ta đang dùng. Trong đó cứ 3 năm có 1 năm nhuận, 5 năm có 2 năm nhuận, 19 năm có 7 năm nhuận.

Nếu năm nào cả Lịch Âm và Lịch Dương đều “nhuận” thì là là năm “nhuận kép”. Ví dụ năm MMXX (2020 Canh Tý) : tháng 02/2020 trong lịch Dương có 29 ngày (vào thứ Bẩy)  và lịch âm Canh Tý có tháng Tư nhuận. Và năm Kỷ Hợi chỉ có 354 ngày, thế nhưng năm Canh Tý (2020) thì lại có tới 384 ngày.

Mở rộng ra, từ 2012 đến 2060 các năm “nhuận kép” là các năm mà con số chỉ năm dương lịch thỏa mãn điều kiện: 2012 + n8 với n là số nguyên dương. Ví dụ năm: 2020 (Canh Tý), 2028 (Mậu Thân), 2036 (Bính Thìn). Năm “nhuận kép” không có hàm ý gì về thời tiết, khí hậu. Do vậy cũng không thể ảnh hưởng đến vận hạn của con người hay quốc gia rộng ra là toàn thế giới. Lịch sử đã chứng minh như vậy.

Nhuận chỉ là một hiện tượng điều chỉnh lịch và không ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh hay cuộc sống con người. Vì vậy, các hoạt động thường nhật vẫn diễn ra bình thường, và mọi quyết định lớn vẫn nên dựa vào hoàn cảnh thực tế.

2.1.Nguyên tắc tính nhuận:

Đã đề cập ở trên, giờ tổng quy lại: Lấy số năm Dương lịch tương ứng chia cho 19, nếu số dư là một trong các số: 0, 3, 6, 9, 11, 14, 17 thì năm Âm lịch đó có tháng nhuận. Tức tháng được thêm vào để đồng bộ Âm lịch với Dương lịch, giúp lịch âm không bị lệch quá nhiều so với lịch dương. Ví dụ năm Nhâm Thìn phần lớn các ngày trong năm 2012 (bắt đầu từ 23 tháng 1 năm 2012  đến 10 tháng 2 năm 2013) mà con số chỉ năm Dương lịch là 2012 khi chia cho 19 được 105, dư 17 nên năm Nhâm Thìn 2012 âm lịch có nhuận tháng mà là tháng Tư. Theo nguyên tắc đặt tên, tháng Nhuận không có tên Can Chi mà gọi theo tên tháng nó Nhuận, tức là tháng Ất Tỵ nhuận 乙巳. Nó bắt đầu từ  thứ Hai ngày 21/5/2012, tức Ngày Nhâm Ngọ 壬午, tháng Ất Tỵ (nhuận), năm Nhâm Thìn, Giờ đầu ngày: Canh Tý, Tiết: Tiểu mãn và kết thúc vào thứ Hai 18/6/2012. Vì tháng Nhuận thiếu nên đây là ngày 29/4 nhuận, tức ngày Canh Tuất 庚戌, tháng Ất Tỵ (nhuận), năm Nhâm Thìn, Giờ đầu ngày: Bính Tý, Tiết: Mang chủng.  Lại nữa năm MMXII, số chỉ năm là 2012 và số này chia hết cho 4 nên là năm nhuận. Tháng Hai có 29 ngày. Đó là:  Thứ Tư 29/02/2012, Ngày 8/2 âm lịch (ngày Canh Thân 更申, tháng Quý Mão 癸卯, năm Nhâm Thìn 壬辰); Giờ đầu ngày: Bính Tý; thuộc Tiết: Vũ Thủy.

Việc tính tháng nhuận Âm lịch là tháng nào ta phải xác định các điểm Sóc và các điểm trung khí, tức là phải tính chính xác vị trí của Mặt Trăng cũng như Trái Đất trên quỹ đạo chuyển động và việc đó rất phức tạp. Theo các nhà Thiên văn học thì năm Canh Tý 2020 này nhuận vào tháng 4 âm lịch và ngày 01/4 nhuận là thứ Bảy ngày 23/5/2020, nó là ngày Bính Dần, tháng Tân Tỵ (tên Can Chi của tháng chính). Đối với công việc tính theo lịch âm thì Tết và ngày cúng giỗ nếu rơi vào tháng sau tháng nhuận phải “chờ” thêm 1 tháng nữa, còn nếu rơi vào tháng có tên nhuận phải cúng vào tháng chính.

Dương lịch lấy khoảng thời gian 1 vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời là một năm, gồm 365,25 ngày và chia ra 12 tháng, có tháng 31 ngày, có tháng 30 ngày, riêng tháng 2 bình thường có 28 ngày (tổng cộng 365 ngày). Để bù số lẻ gần 0,25 nên cứ 4 năm, Dương lịch lại có 1 năm nhuận, tháng 2 có 29 ngày, cả năm 366 ngày (chính xác là 400 năm có 97 năm nhuận, tháng 2 có 29 ngày, cả năm 366 ngày). Đối với người làm công ăn lương, tháng Hai dương lịch năm “nhuận” phải làm thêm 1 ngày không lương.

Việc đặt ngày trong Âm dương lịch theo nguyên tắc “Sóc-Vọng”, sao cho các ngày đầu tháng luôn không có trăng; có 2 loại tháng: tháng thiếu 月小 có 29 ngày, tháng đủ 月大 có 30 ngày; thường số tháng đủ nhiều hơn số tháng thiếu một chút. Năm nhuận có 13 tháng, có hai tháng trùng tên, tháng thứ nhì là tháng nhuận và tháng nhuận cũng theo nguyên lý “sóc vọng” và “thiếu-đủ” trên. 

Tháng nhuận là tháng không chứa Trung khí. Trong danh sách 24 tiết khí có 12 Trung khí (Đông chí, Đại hàn, Vũ thủy, Xuân phân, Cốc vũ, Tiểu mãn, Hạ chí, Đại thử, Xử thử, Thu phân, Sương giáng và Tiểu tuyết)  và 12 Tiểu khí (Tiểu hàn, Lập xuân, Kinh trập, Thanh minh, Lập hạ, Mang chủng, Tiểu thử, Lập thu, Bạch lộ, Hàn lộ, Lập đông và Đại tuyết)

Tùy theo tháng nhuận, năm nhuận có từ 382 đến 385 ngày. Trong 19 năm dương lịch có 228 tháng dương lịch, tương ứng với 235 tháng âm lịch, thừa 7 tháng so với năm dương lịch, gọi là 7 tháng nhuận. Bảy tháng trước đó được quy ước vào các năm thứ 3, 6, 9 hoặc 8, 11, 14, 17, 19 của chu kỳ 19 năm, chu kỳ Meton. Cái “lạ” của chu kỳ này là: cứ sau 19 năm thì ngày tháng tương ứng giữa lịch âm, lịch dương lại lặp. Ví dụ Tết Nguyên Đán năm 2017 vào ngày 28/1 thì các năm trước đây hoặc sau này cách năm nay một bội số của 19 cũng thế (các năm 1960, 1979, …. hoặc 2027, 2036, 2055…. đều ăn Tết vào ngày 28/1). Các ngày Giỗ, Tết khác cũng như vậy.

2.2. Nhuận 2 tháng Sáu âm

Năm 2025 đặc biệt với hiện tượng “Song xuân nhuận tháng Sáu”, mang ý nghĩa cát lành song tiềm ẩn những biến động năng lượng. Đây là sự kết hợp của hai yếu tố, sự xuất hiện của hai tiết Lập Xuân trong một năm âm lịch (song xuân) và việc tháng Sáu được lặp lại (nhuận tháng Sáu).

Năm 2025 là được tính bắt đầu từ ngày 01/01/2025 đến hết ngày 31/12/2025 dương lịch và không chia hết cho 4 nên không phải là năm nhuận theo lịch Dương nhưng là một năm nhuận theo Âm lịch (2025 : 19 = 106 dư 11) nên năm Ất Tỵ (2025) có 13 tháng thay vì 12 tháng với  384 ngày tính từ ngày 29/01/2025 đến ngày 16/2/2026. Trong khi đó, dương lịch vẫn 365 này. Như vậy năm nay, số ngày trong năm âm lịch dài hơn dương lịch tới 19 ngày. Điều này có nghĩa là khoảng cách từ Tết Nguyên đán 2025 đến Tết Nguyên đán 2026 sẽ kéo dài gần 380 ngày, lâu hơn hẳn một năm thông thường. Theo lịch Dương, mùng 1 Tết năm 2026 Âm lịch sẽ rơi vào ngày 17/2/2026 (thứ Ba)

Thực ra, tháng nhuận sẽ không cố định vào tháng nào mà có thể rơi vào bất cứ tháng nào từ tháng Giêng đến tháng Chạp nhưng có điều kiện là tháng không chứa Trung khí và nên nhớ là trong danh sách 24 tiết khí có 12 Trung khí (Đông chí, Đại hàn, Vũ thủy, Xuân phân, Cốc vũ, Tiểu mãn, Hạ chí, Đại thử, Xử thử, Thu phân, Sương giáng và Tiểu tuyết)  và 12 Tiểu khí (Tiểu hàn, Lập xuân, Kinh trập, Thanh minh, Lập hạ, Mang chủng, Tiểu thử, Lập thu, Bạch lộ, Hàn lộ, Lập đông và Đại tuyết).

Tháng 6 âm lịch được chọn là tháng nhuận vì từ ngày 25/7 đến ngày 23/8, trong âm lịch không có trung khí nào mà nó chứa Tiểu khí là Tiểu Thử (小暑 nóng nhẹ) còn tháng có Trung khí là Hạ Chí (夏至 giữa Hè) điểm sóc 25/6 đến điểm sóc 25/7/2025 là tháng Sáu thường có có 30 ngày chứa trung khí Đại thử (22/7, 大暑oi bức). Tiếp đến là một tháng 6 nhuận kéo dài 29 ngày từ ngày 25/7 – 22/8/2025 dương lịch. Điều này đã đưa tổng số ngày trong năm Ất Tỵ 2025 lên tới 384 ngày. Hơn nữa điểm sóc (tháng âm lịch tiếp theo), trung khí Xử thử (處暑, Mưa ngâu) lại diễn ra vào đúng ngày 23/8. Đó là ngày mùng 1 đầu tháng âm lịch của tháng tiếp theo.

Có lẽ không thừa khi nhắc lại rằng: cũng vì năm 2025 có tháng 6 nhuận, nên năm Ất Tỵ 乙巳 có 13 tháng, và tiết Lập Xuân 立春 xuất hiện 2 lần (tạo ra hiện tượng mà dân gian ví  là “rắn hai đầu”): lần đầu vào ngày 3/2/2025 (tức thứ Hai ngày 06 Quý Mão  tháng Giêng 戊寅 năm Ất Tỵ) và lần thứ hai vào ngày 4/2/2026 (tức thứ Tư ngày 17 Kỷ Dậu 己酉, tháng Chạp Kỷ Sửu 己丑, năm Ất Tỵ ).

3. Bình thường hóa:

3.1.Nhuận 2 tháng Sáu âm điều hiếm gặp nhưng không phải là bất thường, vì theo quy luật, Lịch Âm 2025 nhuận khoảng 2-3 năm một lần để điều chỉnh sự chênh lệch giữa năm Âm lịch và Dương lịch; có thể coi là năm may mắn, thích hợp để mở rộng làm ăn, phát triển kinh doanh.

3.2. Theo quan niệm dân gian, sự kiện này thường được xem là biểu tượng của một năm may mắn, mang đến nhiều điều tốt lành và sự thịnh vượng. Trong đó có việc chậm đến  tháng Cô hồn, tháng Bẩy âm tận 1 tháng!

Nhưng, tháng Sáu âm lịch được xem là tháng “dương thịnh - âm suy”, là thời điểm giữa năm, giao thời giữa nắng gắt mùa Hạ và chuẩn bị cho sự chuyển mình của mùa Thu. Thời tiết lúc này vô cùng khó chịu. Khi tháng Sáu bị “nhân đôi”, tức có hai tháng Sáu âm, người xưa tin rằng cán cân trời đất bị lệch, dẫn đến âm dương bất ổn, và điều đó là điềm không lành, mùa hè nắng nóng sẽ kéo dài, “hỏa khí vượng”, dương khí quá mạnh, khiến âm khí suy yếu. Âm khí đại diện cho sự bình ổn, điều hòa và bảo vệ con người khỏi những năng lượng xấu. Nếu âm khi suy yếu thì vận mệnh cũng ảnh hưởng.

3.3.Vào những ngày tháng này, có người sẽ hạn chế làm việc lớn, trong đó có những việc như động thổ, cưới xin…

3.4. Ngày nay xã hội ngày càng phát triển, người ta ít nghĩ và cũng ít tin vào những chuyện tâm linh. Cũng chưa có nghiên cứu khoa học nào khẳng định trực tiếp những điều này. Thế nhưng những người thuộc tầng lớp trước, hay những người sống chủ yếu ở các vùng quê thì vẫn tin tưởng vào những kinh nghiệm truyền lại này rất nhiều, bởi con người xưa luôn sống chan hòa với trời đất, cảm nhận sâu sắc sự bất thường từ những dấu hiệu nhỏ nhất.

3.5. Tuy nhiên, “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, mục đích chính của người xưa vẫn là muốn khuyên chúng ta nên sống hòa bình,... đừng tàn phá để mẹ thiên nhiên nổi giận,... năng làm việc thiện, tích đức, ...

Để khép lại bài viết, cần nhắc lại rằng tuy một sự kiện xảy ra cùng một lúc (thời gian tuyệt đối) nhưng được ghi lại bằng năm, tháng, ngày, giờ là thời gian “tương đối”, thay đổi theo vị trí (kinh độ) của điểm quan sát trên trái đất. Để thống nhất khi đánh giá, người ta định ra múi giờ mà trong đó Việt Nam lấy múi giờ thứ 7 làm gốc, Trung Quốc múi giờ 8,… nên không thể “áp” lịch Trung hay bất cứ lịch của nơi nào khác sang lịch Việt mà “xem ngày”, chọn giờ,... được !

-Lương Đức Mến, BS từ nhiêù nguồn TK, 25/6/Ất Tỵ-

Nhấn vào đây để đọc toàn văn...

Cám ơn bạn đến thăm nhà


Vui nào cũng có lúc dừng,
Chia tay bạn nhé, nhớ đừng quên nhau.
Mượn “Lốc” ta nối nhịp cầu,
Cho xa xích lại, để TRẦU gặp CAU.


Mọi thông tin góp ý, bổ sung, đề nghị sửa trao đổi trực tiếp hay gửi về:
Sáng lập, Thiết kế và Quản trị : LƯƠNG ĐỨC MẾN
(Đời thứ Bẩy dòng Lương Đức gốc Chiến Thắng, An Lão và từ 07/2025 là xã An Hưng, thành phố Hải Phòng (SSN)- Thế hệ thứ Hai phái Lào Cai)
ĐT: 0913 089 230 - E-mail: luongducmen@gmail.com
SN: 328 đường Hoàng Liên, thành phố Lào Cai và từ 07/2025 là phường Lào Cai tỉnh Lào Cai (SSN)

Kính mong quan viên họ và người có Tâm, có Trí chỉ bảo, góp ý thêm về nội dung và cách trình bày
Bạn có thể đăng Nhận xét dưới mỗi bài với “Ẩn danh”.
Còn muốn đăng nhận xét có để lại thông tin cá nhân thì cần đăng kí tài khoản tại Gmail .
Chúc bạn luôn Vui vẻ, Hạnh phúc, May mắn và Thành đạt!