Bài đăng

Gần Ngày Giỗ Tổ, càng nhớ TRẦU CAU

Hình ảnh
Gần đến ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, nhớ về một tục rất nhân văn, tồn tại cho đến ngày nay đó là tục ăn trầu và chuyện liên quan đến Trầu Cau ! Từ thuở xa xưa , có lẽ do kinh nghiệm, cổ nhân đã biết sử dụng các loại lá, rễ, quả của nhiều thứ cây khác tìm được để bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa hay trị bệnh. Trong đó có quả cau, lá trầu và một số loại rễ cây. Tục ăn trầu có từ lâu ở miền nam Trung Hoa, ở Thái Lan, Miến Ðiện, ở Ðông Dương,… Thuở nhỏ thấy bà và cô tôi gọi là ăn “giầu”, lớn lên đi học thấy sách báo chỗ viết ăn “trầu”, nơi ghi ăn “giầu” …Đây đều là chữ Nôm, nhưng “giầu” 𢀭 đã quá quen trong “giầu nghèo” nên trong bài này tôi cứ chép là “trầu” 茱 (bộ thảo 艸 + chữ châu 朱 , có bộ mộc 木 ) cho dễ phân biệt! Dân gian gọi “ăn trầu” nhưng thực ra trong miếng “trầu” có đủ thành phần :   một phần lá trầu, một phần quả cau ( khô hay tươi ), miếng nhỏ vỏ ( chay, quạch ), đôi khi cả một viên thuốc ( lào ). Bởi vậy mới có câu: Ăn trầu mà có vỏ chay, Vôi kia có nhạt cũng ca...

NIỆM hay LIỆM

Hình ảnh
Người ta, ai cũng muốn được “Trường sinh bất tử” (H: 長生不死 , A: The immortality , P: L'immortalité ) hay chí ít cũng đạt “Tuổi hạc” (H: 鶴岁 , A: The age of crane , P: L'âge de la grue ). Nhưng, như người xưa đã biết: “Bách tuế vi kỳ” (H: 百歲為期 , A: Hundred years are the limit of life , P: Cent ans sont la limite de la vie ), nghĩa là con người sống một trăm năm là kỳ hạn, chẳng ai cưỡng được! Vì vậy, mới có câu “ Hữu sinh hữu tử” 有生有死 và ai cũng hiểu rằng Sinh ký tử qui 生寄死歸 , tức là sống gởi thác về. Quan niệm về triết lý nhân sinh rất phổ biến ở Á Đông, cho rằng đời sống của con người nơi cõi trần chỉ là một giai đoạn ngắn tạm thời trong suốt một cuộc sống bất tận thiệt thọ của con người nơi cõi TLHS. Con người đầu kiếp xuống cõi trần chỉ tạm trong thời gian nhiều lắm là trăm năm để công tác hoặc học hỏi thêm và tiến hóa. Vẫn biết Ông bà Cha mẹ “ra đi” lúc tuổi già là đương nhiên, nhưng khi nó đến vẫn cứ bất ngờ hụt hẫng. Là nỗi đau khôn cùng, sự mất mát lớn lao, nỗi tr...

TÊN CỦA NGƯỜI VIỆT (NGƯỜI KINH)

Hình ảnh
Mặc dù Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người và “Tên” của người Việt Nam được các nhà nghiên cứu cho rằng bắt đầu có từ thế kỷ 2 tCn, càng ngày càng đa dạng hơn nhưng việc nghiên cứu về “tên người”, tức “ Tính danh học ” (A: anthroponymy , H: 姓名學 ) ở ta còn chưa được lâu lắm! Nhưng có điều chắc chắn là, k ết cấu họ tên (H: 姓名 , A: Name and forename , P: Nom et prénom ) của người Việt ( người Kinh ở Việt Nam) thường cũng gồm 3 thành tố tương tự người Hán là: họ + chữ đệm + tên. Điều này thể hiện rõ qua Gia phả của các gia đình, dòng họ. Song trong giao tiếp thì người Việt ít nhắc đến “họ” 姓 và thường kèm từ “anh” (“em”, “cô”, “bác”, “chú”, “ông”, “bà”, “cụ”,… ) đứng trước “tên” 名 chứ không gọi: Phạm tướng quân 范将军 , Đặng Giám đốc 鄧经理 , Lương Bác sĩ 梁大夫 , Nguyễn tiểu đệ 阮小弟 ...như người Hoa! Đồng thời người Việt dùng chữ “Văn” 文 , “Thị” 氏 làm tên đệm để phân biệt nam nữ còn người Hoa thì không.  Vì sao lại có hiện tượng “ nam Văn nữ Thị” lại là việc khác và nó khô...