Bài đăng

Tết Táo quân và Sớ Táo quân

Hình ảnh
Không phải năm nay mới có Tết Táo quân và cần tới Bài vị Táo quân cũng như Sớ Táo quân . Năm nào cũng thế, năm ngoái đã dặn kỹ rồi nhưng ở nơi “ chín người mười làng ”, lắm ý kiến khác nhau lại bận lo trăm thứ nên vợ con và các em, các cháu lại hỏi. Đành nhắc lại. 1. Tục thờ thần Táo 灶神 và nghi thức Tết Táo quân là du nhập từ Bắc quốc sang. Tục này có khởi nguồn từ một chuyện thần thoại thời Trung Quốc cổ đại. Theo đó Thần táo được xưng là Táo Quân 灶君 , Táo Vương 灶王 hay Táo Vương gia 灶王爺 và là nam giới 為男性神 . Tuy có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng với  người Việt thì sự tích Táo quân mang đậm tính thuỷ chung, tình nghĩa, là chuyện “ hai ông và một bà ”, có họ tên cụ thể, tượng trưng là 3 cỗ “ đầu rau ” hay “ chiếc kiềng 3 chân ” ở nhà bếp. Do vậy mới có câu: “ Thế gian một vợ chồng, không như Vua Bếp hai Ông một Bà” .  Ba vị đó được dân Việt suy tôn là thần Đất, thần Nhà, và thần Bếp núc nhưng do ảnh hưởng của tuyết Ba ngôi 三位一体 nên dân gian gọi chung là Ông Táo và B...

Tìm hiểu về Can Chi khởi nguyên: GIÁP TÝ

Trong các hệ đếm từ xưa truyền lại, như hệ đếm cơ số 2, cơ số 3, cơ số 5, cơ số 10, cơ số 12 thì riêng hệ đếm cơ số 12 gắn với “Can Chi” nay chỉ còn dùng để chỉ thời gian, liên quan nhiều đến một số nền văn minh cổ. Cổ xưa, người Trung Hoa chưa biết đến số đếm. Thời Hoàng đế (黃帝 [1] , 2000 tCn) người ta đã sáng tạo ra “Can, Chi” (干支 gānzhī ). Đây là hệ đếm cổ (10, 12 ) vẫn còn dùng ở Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam. Ban đầu nó dùng để chỉ ngày, sau đó vì tính tiện ích tổng hợp của nó, nó được dùng gọi giờ, tháng và năm và gắn với những con vật. Như vậy can chi trở thành đơn vị thời gian âm lịch. Nhưng nếu nghiên cứu kĩ các nhận xét về bệnh tật của các con giáp cho phép thừa nhận sự chặt chẽ và khoa học hệ đếm can chi này. Can 干 có nghĩa là cây có gốc ở Trời nên gọi là Thiên can ( 天干 ; tiāngān ) và bởi dùng ngũ vận để tính Thiên căn ( 2 x 5=10 ) nên gọi Thập Can ( 十干 ; shígān ) . Thập Thiên can là: 1.Giáp 甲 , 2.Ất 乙 , 3.Bính 丙 , 4.Đinh 丁 , 5.Mậu 戊 , 6.Kỷ 己 , 7.C...

Kỷ Niệm Ngày Giỗ Cha

Hình ảnh
Nhân Kỷ niệm 65 năm ngày Tổng tuyển cử Quốc hội Khoá I ( 06/01/1946-06/01/2011 ) chợt nghĩ không biết hồi đó phụ thân tôi tham gia Ban Bầi cử làm những việc gì? Nhưng ngày giỗ người   (13 tháng Chạp Bính Tý-13 tháng Chạp Canh Dần)   thì nhớ như in và gửi gắm tâm tư vào mấy vần như sau: Cha ơi, nhớ những ngày rày, Mười Bốn năm trước là ngày tiễn cha. Buồn đau nước mắt nhạt nhoà, Khi nuốt trong dạ, lúc oà tiếng than! * Còn đâu tình cảm chứa chan, Còn đâu lời dạy, bảo ban tối ngày? Còn đâu bóng dáng hao gầy, Ngồi nghe con cháu dãi bầy, hỏi thăm. * Còn lời căn dặn, cao thâm: Giữ gìn gia đạo, vững Tâm chèo đò. Còn đây bao nỗi toan lo: Dẫu đi khắp nẻo, chốn quê nhớ về. * Mỗi lần nhớ buổi cha đi, Bỗng dưng ướt đẫm bờ mi nỗi niềm. Dẫu rằng vắng bóng đường nghiêm, Móng nền cha dựng vững thêm từng ngày. Thêm con, thêm cháu vui vầy, Chắc nơi chín suối cha rầy đỡ lo. * Nhớ cha sắm sửa hương hoa, Gửi lên Thượng giới kính xin độ trì. -T...

Sơ lược về THẾ ĐẤT tốt xấu và sự lựa chọn

Trong những năm mải lo chạy loạn, tản cư, lo phòng tránh bom đạn trong chiến tranh; mải lo cái ăn, cái mặc thời hậu chiến, đối với đa phần người dân, việc thiết kế và xây nhà ở, xây phần mộ của người thân được xem xét, thực hiện không mấy kỹ lưỡng. Ngày nay, khi đời sống khá giả người Việt đã chú ý tìm về những gì tốt đẹp nhất của truyền thống mà cổ nhân đã tích luỹ qua bao đời. Vị trí đặt ngôi nhà ( Dương trạch , 陽宅) hay ngôi mộ ( Âm trạch , 陰宅 ) với tương lai rất quan trọng, chọn sai sẽ hại cả một gia đình, một dòng họ. Chả thế mà có câu: “ Y sát nhất nhân, Địa sát nhất tộc” 医杀一人地杀一族. Do vậy ngày càng có nhiều sách, xuất hiện lắm Thầy dẫn đến gia chủ đôi khi đã lúng túng càng thêm phân vân lựa chọn vị trí, hướng... 1. Khái quát chung: Thực ra ban đầu cổ nhân cho rằng “Nhất dương thắng Thập âm” 一陽勝十陰. Nhưng về sau dương cơ ( nơi ở của người đáng sống) chỉ cốt lấy hướng còn âm phần ( nơi an táng của người thân ) thì được quan tâm đến cả vị trí, thế đất, hình thù đám đất và h...

Tên gọi CÁC THÁNG theo Âm lịch

Hình ảnh
Tuy có hiện đại đến đâu, trong đời sống tâm linh người Việt vẫn dùng đến Âm lịch. Khác với Dương lịch, việc gọi tên tháng Âm lịch không phải mấy ai cũng rành và mỗi người giải thích một kiểu. Tại sao tháng cuối năm lại gọi là tháng Chạp và người ghi tháng “12”, người bảo phải ghi “Mười Hai”? 1. Khái lược về tên từng tháng của Âm lịch: 1.1. Âm lịch (H: 陰曆 . A: The lunar calendar , P: Le calendrier lunaire ) mà thực chất lịch đang dùng là Âm Dương lịch 陰陽 曆 , còn gọi là Hạ lịch 夏曆 , nông lịch ( 農曆 nónglì ) còn gọi nó là "cựu lịch" 舊曆 sau khi "tân lịch" 新曆 , tức lịch Gregory được sử dụng là lịch chính thức. Âm lịch tính thời gian dựa theo sự vận chuyển của mặt trăng quanh trái đất còn Dương lịch (H: 陽曆 , A: The sun calendar , P: Le calendrier solaire ) thì tính thời gian dựa theo sự vận chuyển của trái đất quanh mặt trời. Nhưng giống Dương lịch, Âm lịch hiện tại cũng chia mỗi năm ra thành 12 tháng, ngày đầu tháng của âm lịch ( Nguyệt cát 月吉 ) là ngày Sóc (...

Việc hình thành TỘC DANH

Hình ảnh
Khởi đầu là việc hình thành "Tính" 姓 , sau đến "Thị" 氏 rồi "Tộc" 族 thì mỗi “Họ” ( chữ thuần Việt) có một tên gọi, được gọi ra, chép lại, lan truyền mà chữ g ọ i là "Tộc danh" 族 名 để khẳng định những người trong một gia tộc là cùng từ một Cụ Tổ m à ngày nay hầu hết là con theo họ cha, cha theo họ ông.... Nhưng tại sao người lại mang họ Lương, người thì họ Đặng, họ Phạm...lại c ó người mang họ kép như Đặng Trần; rồi anh em con chú con bác ruột lại mang họ khác nhau thì ngay từ khi lớn lên rồi tôi vẫn chưa hiể u mà cũng chẳng biết hỏi ai! Khi bắt tay vào soạn Gia phả dòng họ, buộc phải nghiên cứu tôi mới rõ rằng: do nhiều nguyên nhân mà phần lớn các họ của người Kinh đều có tộc danh từ các họ bên Tầu và khi viết ra chữ Hán là như nhau. Do vậy, dù có yêu nước đến mấy, cao lòng tự tôn đến đâu vẫn buộc phải dựa vào tư liệu từ Bắc quốc. Đa phần tộc danh của người Hán ( mà người Việt bị ảnh hưởng ) được hình thành, xuất hiện từ thời nhà Chu...