Bài đăng

Đôi điều về GIA ĐÌNH, GIA TỘC và NỐI DÕI

Trong lịch sử phát triển loài người thì việc hình thành và thừa nhận “gia đình”, “gia tộc” là một bước tiến lớn. 1. Ngược dòng lịch sử , chúng ta biết rằng trong xã hội nguyên thủy, đàn bà con gái làm việc lượm hái trái cây vừa ăn vừa để dành nên coi là nguồn sống trọng yếu, còn đàn ông đi săn bắn thì bữa có bữa không nên phải lệ thuộc vào đồ hái lượm của đàn bà để sống. Chính vì sự nhờ nhau mà sống và nhu cầu bản năng sinh lý mới nảy sinh quan niệm kết hôn. Nhưng đây là hiện tượng “ huyết tộc quần hôn ” và đa phần con cái chỉ biết đến mẹ không bao giờ biết bố là ai. Thế mới có truyện chép những thánh nhân thời thái cổ như Tam Hoàng, Ngũ Ðế trong thần thoại đều không có cha. Như Phục Hi có mẹ là Hoa Tư “dẫm phải dấu chân người khổng lồ” mà sinh ra ông; Hoàng Đế có mẹ là Phụ Bảo thấy điện vây quanh sao Bắc Đẩu... cảm ứng mà có thai ông; Vua Nghiêu có mẹ là Khánh Đô hợp cấu với rồng đỏ mà sinh ra. Trong sử Việt Nam, cũng đầy chuyện thần thoại về các danh nhân, như Thánh Gióng được sinh r...

Cháu Lương Như Quỳnh xuất giá

Hình ảnh
Cháu Lương Như Quỳnh( SN 1988, TN Trung cấp in xong ở và làm việc tại Hà Nội ) là thứ nữ của Lương Đức Tràng và Ngô Thị Lai.Ngày 25/11/2010 gia đình đã làm Lễ Vu quy cho cháu đi lấy chồng ở Hà Nội. Chú rể Nguyên Quốc Tuấn, vốn quê Hải Hưng cũng đã từng công tác tại Lào Cai. Sau đây là một số hình ảnh về Lễ Vu quy tại Lào Cai và Lễ Thành hôn tại Hà Nội. Mẹ cha đã nhận Cau Trầu, Đưa con gái đến làm dâu nhà người. Truyền thống gia tộc bao đời, Theo con phù trợ nên người dâu ngoan. An Phong đẹp cảnh núi non, Mong chàng rể mới sắt son câu thề. Xưa là con Mẹ, con Cha, Nay là con của hai nhà chung xây. Dầu cho góc bể chân trời, Lương tộc vẫn nhớ, dõi lời theo con. Dâu ngoan sánh với Rể hiền, Cháu con làm rạng Tổ tiên Ông bà. Như vậy cho đến thời điểm này phái Lương Đức tại Lào Cai có 3 cô cháu xuất giá về ở tại Hà Nội. Đó là: Lương Thị Vinh ( Đời thứ 7 ), Lương Thị Huyền Thương, Lương Như Quỳnh ( Đời thứ 8 ).Ngoài ra còn có cháu Nguyễn Thị Thu Huyền (tức Hường, là con gái Lương Thị Mong ( Đờ...

Đôi điều về GIA PHẢ và GIA PHẢ HỌC

Hình ảnh
Do ít thông tin nên trước kia và cả một số người hiện nay xem Gia phả là cái gì xa vời không phải việc được biết của ' thảo dân ". 1. Đơn giản nhất có thể hiểu “ Gia phả là lịch sử gia đình ". Do vậy trước hết cần biết về khái niệm “ LỊCH SỬ ”. Theo từ nguyên, “Lịch” 历, là “Trải qua, từng trải”; là những sự vật diễn biến xảy ra trong không gian và thời gian, không chịu sự tác động của tri giác và nhận thức của con người. “Sử” 史 là dấu vết của quá khứ còn lưu lại cho hiện tại và tương lai thông qua nhận thức có tính thời đại của con người. Theo Hán Việt tự điển 漢越字典 của Thiều Chửu thì: thứ ghi các sự tích trong nước từ xưa tới nay gọi là "lịch sử" 歷史, "quốc sử " 國史. Vậy lịch sử (H: 历史. A: History, P: Histoire ) là khoa học về nghiên cứu và phân tích những sự kiện đã xảy ra. Tuy nằm ngoài tác động của ý thức của con người nhưng, trong lịch sử chỉ có một số sự kiện lịch sử được xem là "thật" lại...

THAY NÉN TÂM NHANG

Hình ảnh
Người dưng năng gặp thành quen, Ruột rà không biết trở nên xa vời. Cùng làng đâu hẳn chung nôi, Khác quê lại vốn cùng nơi cội nguồn. * * * Dẫu còn lắm việc chải bươn, Vẫn giành công sức soạn nên cuốn này. Sơ kỳ Cha để lại đây (1), Chắt chiu tư liệu, chắp cây, nối cành. Gặp thêm các bậc cha anh, Ngoài làng, trong họ cho rành khởi nguyên(2) ! Đường xa, chân dạo trăm miền, Ý hay chép hỏi, sách nghiền ngẫm xem . Gắng công chắt lọc, kiếm tìm, Học thêm Hán ngữ (3)để tầm cho ra. * * * “Dân ta phải biết sử ta”(4) , Cháu con phải nhớ Ông Cha, ngọn nguồn. Nhớ người lấn biển, khai sơn, Người trồng cây Đức lưu ơn cao dầy. Xưa từ Tiên Lãng sang đây(5), Lập nên quê mới, nơi này Làng Hương. Sinh dòng Cao Mật họ Lương, Trải qua bao nỗi đoạn trường, nhục vinh . Sau tròn thập kỉ Hoà bình , Một nhánh lên với ngàn xanh lập làng(6) . Từ đây cuộc sống sang trang, Có non, có biển họ hàng thêm đông. Hơn hai Thế kỉ bão dông (7) , Hoà cùng trăm họ (8) Lạc Hồng chung ca. * * * Tâm ta soạn Phả nhà ta, Chép về ...

Việc đề chữ ở Từ đường, Lăng mộ

Hình ảnh
Ngày nay, trong phong trào trùng tu, tái thiết hay xây mới từ đường, Mộ phần tổ tiên nẩy sinh vấn đề viết, đắp hay tô sửa, đắp mới các Đại tự, Hoành phi, Câu đối . Trong hoàn cảnh các bậc túc nho am hiểu Hán tự, đặc biệt chữ Phồn thể vắng dần nên các gia đình, dòng họ gặp không ít khó khăn. Ngay cả chữ quốc ngữ mà còn viết sai đầy. Hôm nọ đi thăm mấy nghĩa trang gia đình ở Hải Phòng, Hà Nam tôi thấy rõ điều đó. Ví dụ: "QUÀN" thì viết là "QOÀNG", "BÁU" viết là "BẮU", "NGHOÉ" viết là "NGÉO"... Thêm nữa tên người, địa danh làng xã thường gọi theo tên Nôm, nhưng khi viết bên cạnh chữ Nôm, lại mượn nhiều chữ Hán và khó phân biệt đâu là chữ Nôm, đâu là chữ Hán. Do đó để tránh " tam sao thất bản ", cần thận trọng, không chỉ biết chữ mà cần biết về lịch sử, về dư địa chí và phương ngữ vùng đất đó. Ví dụ: Quê ngoại tôi Cốc Tràng được sinh ra từ nghĩa là “ bãi chim Cốc 鵒)” khác với cách diễn giải Cốc Tràng 谷場 với nghĩa là “ ...

Chuyện "Cát táng", quy tập mộ

Hình ảnh
Đã thành thông lệ, cứ mỗi dịp cuối năm chuyện bốc mộ ( chữ gọi là cát táng 吉葬, khác với hung táng 葬凶 hay mai táng 埋葬 chỉ việc chôn người thân khi mới chết. ) và chỉnh trang lại các ngôi mộ đã xây hoặc quy tập các ngôi mộ thành một khu lại được đưa ra bàn soạn trong mỗi gia đình, gia tộc. Sau cuộc họp ngày 19/11/2010 BCH Hội PYH Việt Nam tại VPYQG tôi và vợ về Duy Tiên, Lý Nhân ( thuộc Hà Nam ) để bàn chuyện "nâng cấp" mộ của các cụ bên họ Đỗ, họ Phạm đằng vợ tôi. Kể ra cũng lắm chuyện! Trước hết là chuyện bàn bạc trước khi xuất phát từ Lào Cai. Sau nữa là chuyện bên họ Đỗ của nhạc mẫu ở Trác Văn, Duy Tiên. Tiếp là chuyện họ Phạm, họ nhạc phụ tôi bên Chính Lý, Lý Nhân. Cuối cùng là chuyện Công Đức của những người con xa quê chỉnh trang Nghĩa trang dòng họ, làng quê. Thêm nữa là chuyện Câu đối và chữ đề ở Nghĩa trang, trên bia mộ. Bởi nội dung dài và không mấy liên quan nên tách ra từng phần và đưa sang bên trang cá nhân.

Tài liệu về cội nguồn các từ chỉ tên "Họ"

Hình ảnh
Tiếng Việt có bốn từ chỉ tên họ: Tính 姓,Thị 氏, Tộc 族, và Họ 户. Trong đó, “họ” là từ Nôm, còn ba từ kia là Hán Việt. Mỗi từ đều có quá trình hình thành khác nhau, có thể dùng lẫn cho nhau nhưng bản thân mỗi từ (chữ) lại mang một ý nghĩa khác nhau. 1. Dưới chế độ mẫu hệ mà chế độ hôn nhân là ngoại tộc quần hôn ( một tốp những người nam cùng lứa tuổi của thị tộc này được đưa đến thị tộc khác làm chồng của cả một tốp người nữ cùng lứa ) thì con đẻ ra không biết bố, mà chỉ sống với mẹ và loài người chưa có họ, chỉ có tên. Sau này, khi hình thành “họ”, trong Hán tự đã tạo ra chữ "Tính" 姓 bằng cách ghép chữ “Nữ” 女 với chữ “Sinh”生. Chữ 姓 này ký hiệu nói rõ một gia tộc đã sản sinh ra một con người nào đó và được giải thích trong “ Thuyết văn giải tự ” 說文解字 của Hứa Thuận (許慎, khoảng 58-147 ) là “ Nhân sinh dĩ vi tính, tòng nữ sinh " 2. Từ xã hội mẫu hệ phát triển sang xã hội phụ hệ , chế độ hôn nhân càng chặt chẽ hơn, hôn nhân đối ngẫu. Khi đó, con cháu ngày một sinh ra nhiều hơ...