Bài đăng

Anh họ tôi: Lương Đức Thiếp

Ai xui mắc nợ đèo bòng, Cho nên lận đận, long đong cả đời. Lương Đức Thiếp là anh họ cùng thời Đệ Tam tổ là Lương Đức Hanh với tôi. Anh là con trai thứ 3 của bác Liêm, cháu ông Công, chắt cụ Mạo, chút của cố Hinh, chít của kị Hanh. L.Đ.Thiếp cùng tuổi Quý Hợi với bố tôi vfa anh lấy vợ cùng làng tên là Đặng Thị Khuy, chị là em con dì của bác Nhỡ nhưng lại là cháu gọi bác này bằng chú, nếu theo họ Đặng. Bác đặng Văn Nhỡ ( cháu gọi bà nội tôi bằng cô ruột ) năm 1964 lên khai hoang và là Phó Chủ nhiệm HTX An Phong. ĐTK hiền lành, mắc bệnh đau đầu. Kị 07/11, Mộ “kết” không cải, đặt tại Nghĩa trang nhân dân thôn Nậm Dù, Km 46 Xuân Quang, Bảo Thắng. Khi ở quê, nhà cạnh ao tròn nhà thờ Tổ. Lên Lào Cai tháng 2/1964. Khi đến ga Phố Lu gia đình Lương Đức Thiếp (2 vợ chồng, các con : Thi, Thường, Đua, Năm) xuống vào định cư ở Thái Vua thuộc xã Xuân Quang, sau chuyển xuống Nậm Dù (Km 49) chứ không lên tx Lào Cai để vào Phong Niên như các hộ khác cùng thôn, đi cùng đợt. Trong những năm 1966-1977 the...

Phả ca

Bài thơ này do Nội tôn Lương Hoàn Xuyên, ngoại tôn Nguyễn Duy Kiệt đồng bút ký chép trong Gia phả ngành Lương Hoàn. Khi đưa lên đây, tôi chỉ sửa những chữ sai về chính tả, thêm dấu ngắt câu còn lại giữ nguyên. Đăng Lai phát tích họ nhà, Tổ Lương Công Nghệ đến ta Tám đời. Cháu con Nội, Ngoại khắp nơi, Tươi Tài, tốt Lộc cuộc đời vinh danh. Cây xanh thì lá cũng xanh, Đều cùng tốt ngọn, tươi cành nở hoa. Cụ Lương Công Thiệu họ ta, Công lao dẹp loạn xông pha bao lần, Quên mình vì nước vì dân, Đã từng cứu nạn xã nhân cơ hàn. Thiên tai địch hoạ gian nan, Lấy ai nghĩa đảm trung can lúc này. Cụ Lương Công Quản càng hay, Phù nguy cứu khốn trong ngoài đảm đương. Hưng công xây dựng từ đường, Chăm lo việc Tổ phần hương đêm ngày. Cơ giời dâu bể đổi thay, Càng dày cõi đức càng hay đó mà. Khai hoang ruộng đất càng gia, Hô hào con cháu theo đà tiến lên. Thiết tha lòng dạ vững bền, Nhớ công ơn Tổ chớ nên coi thường. Vì đâu mà có kỷ cương, Vì đâu mà có mọi đường sinh sôi? Vì công lao Tổ tài bồi, Muốn cùn...

Khi gia đình có người thân mất

Hình ảnh
Người chết thì đã quy tiên, Nhưng còn người sống cũng nên giữ gìn. 1. Khái quát về việc xem ngày, giờ chết: Người Việt vốn tôn trọng ông bà cha mẹ nên rất cẩn trọng khi cha già mẹ héo. Việc làm ma được xem là trọng việc của hiếu chủ. Ngoài việc chuẩn bị khâm liệm, tổ chức tang lễ còn chú ý tính giờ mất, ngày giờ mai táng. Khi gia đình có người thân mất, thường tìm người để tính giờ. Theo cổ nhân, sinh gặp giờ, ngày tốt xấu ảnh hưởng tới vận mệnh bản thân còn giờ chết xấu, tốt ảnh hưởng tới con cháu. 2. Ảnh hưởng của vong mệnh tới con cháu: Tuỳ ngày, giờ mất của vong mà có thể là: - Nhập mộ : Dự báo vong chết không phạm trùng tang. mãn kiếp sa bà, con cháu làm ăn thịnh vượng, phát tài , sai lộc; - Phục tang: là sự quay trở lại của Vong hồn; - Thiên di : Dự báo con cháu sẽ phải chia ly, tài sản phân tán, tranh chấp kiện tụng; - Trùng tang: là sự nhập của Vong hồn vào người sống, bắt đi theo. Có thể là: + Trùng tang Ngày là nặng nhất (Tam xa - 7 người chết theo), + Trùng tang Tháng là...

Cô tôi, Lương Thị Di

Hương tàn vẫn thoảng khói bay, Cô tôi hương tắt khói rày tắt luôn! 梁氏怡 Sinh năm Nhâm Tí (1912), đẹp người. Lấy chồng là Phạm Văn Ký, người thôn Kim Côn, cùng xã. Bà mất 02/6 Ất Dậu (thứ Ba ngày 10/7/1945) khi đẻ con đầu.Vì vậy cô Thị tôi hay kể: “người nhà mình tắt hương hết khói”. Sau đó bác Phạm Văn Ký đã tục huyền nhưng vẫn đi lại, theo cúng giỗ với Lương tộc. Nói thêm : Đàn bà goá đi bước nữa gọi là tái giá 再嫁 hay tái tiếu 再笑, đàn ông mất vợ lấy bà kế gọi là tục huyền 續絃 (ý như đàn đứt lại căng dây khác). Hồi CCRĐ bị qui sai. Thực ra đó là đất của bà cô mà bác trông giúp. Nhưng so ra không bằng 1/50 đất các con bác ở Khuể sau này. Ngày đó, "Đội" đem nhốt tại nhà tôi mà bác không dám nhận cơm do mẹ tôi đưa vì sợ nhà tôi bị liên luỵ. Việc bác đi lại họ mạc ở làng Hương thưa dần sau khi gia đình tôi lên Lào Cai vào 02/1964. Năm 1972 bác có lên Lào Cai thăm bà nội tôi và gia đình tôi. Ông mất do già yếu năm 198....Vợ kế và các con (Kiểm, Tuy, Hoạch, Bốn, Huyền, Kỉ) đã chu...

Xã Chiến Thắng có 2 dòng họ Phạm

Xã ta, họ Phạm hai dòng, Cốc Tràng quan võ, Mông Tràng quan văn. 1.   Phạm Ngũ Lão  ( 范五老 , 1255 - 1320 ), danh tướng thời Trần, quê: làng Phù Ủng, huyện Đường Hào nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh và việc ra mắt Trần Hưng Đạo như sau: Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi. Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích, thấy vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo. Ông được Trần Hưng Đạo gả con gái ( giả làm con gái nuôi của Trần Hưng Đạo vì nhà Trần có quy định chỉ gả con gái trong dòng tộc ) là quận chúa Anh Nguyên. Là người văn...

22 năm ngày giỗ thím tôi

1. Lược sử: Bà tên là Lưu Thị Bính Bà sinh năm Mậu Thìn-1928 ( có người và có hôm bà nói với tôi là bà tuổi Tân Mùi, tức là sinh năm 1931) , quê thôn Hạ Lũng, An Hải, Hải Phòng. Đây là một làng ven đô thuộc phường Đằng Hải, quận Hải An nay. Từ xưa vốn nổi tiếng về trồng cây trái, hoa tươi, quả ngọt cung cấp cho thị trường. Nơi đây có Miếu Hạ Lũng là một trong hệ thống các công trình kiến trúc cổ mà nhân dân dựng nên để ghi nhớ công lao của Ngô Vương Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938. Bà nhanh nhẹ, hoạt bát, hiểu việc đời.    Chú thím tôi cưới nhau hồi đầu “kháng chiến 9 năm”. Chuyện rằng: hồi 9 năm thím sơ tán về làng Hương buôn bán, trọ ở nhà chị gái bác Ruẩn. Bà này muốn làm mối thím cho em trai mình là Trương Tiếp ( anh bác Lương Đức Ruẩn ). Trong khi đó bên ngành nhà tôi lại muốn cưới cho chú tôi là Lương Đức Rật để chú khỏi “lêu lổng”. Ngày đó xã có qui định: dân nơi khác đến ( trong đó có thím Bính ) tối tối phải ra đình ngủ tập trung ( chắc có vai trò...

Giờ sinh và vận số

Hình ảnh
Trong dân gian đến nay vẫn coi trọng Bát tự sinh ( tên Can, Chi của 4 đại lượng chỉ thời gian khi sinh là Giờ, Ngày, Tháng, Năm ). Khi chưa có ngoại sản thì việc sinh đẻ hoàn toàn do tự nhiên, hài nhi đủ ngày đủ tháng khắc được sinh ra. Nay quá nhiều người lạm dụng nên đã chọn trước năm, thậm chí cả ngày giờ để sinh con, rồi vấn đề “trai, gái”. Rõ là vớ vẩn ! Ngày xưa thì khác và con người còn chịu nhiều sự chi phối của các quy luật của tự nhiên. Cổ nhân tin rằng con trai sinh vào giờ Dương ( Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm ) còn con gái sinh vào giờ Âm ( Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý ) là tốt. Nếu ngược lại là lỗi giờ sinh. Mỗi mùa lại có những giờ sinh tốt khác nhau: giờ Dậu, Thìn, Tỵ ở mùa Xuân ( Mộc vượng Hỏa ); Ngọ, Mùi, Hợi ở mùa Hè ( Hỏa vượng Thổ ); Ngọ, Dần, Thân ở mùa Thu ( Kim vượng Thủy ) và Sửu, Tuất, Tý ở mùa Đông ( Thủy vượng Mộc ). Đặc biệt nếu sinh vào gìơ Kim xà Thiết tỏa, giờ Quan sát, Tướng quân, Diêm vương, Dạ đề đứa trẻ khó nuôi: a. Giờ Kim sa ̀: Phạm giờ Kim sà, tri...