Bài đăng

Cuốn Gia phả lớn nhất mọi thời đại

Những ai từng tìm hiểu về văn hóa phương Đông đều từng nhiều lần nghiên cứu về Khổng tử và cuốn Gia phả lớn nhất mọi thời đại của dòng họ Khổng. 1. Vài nét về Khổng Tử : Khổng Tử (孔子; còn gọi là Khổng Phu Tử 孔夫子; 551 – 479 tCn) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Hoa , ông tổ của Nho giáo, có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á . Tại các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo như Hàn Quốc, Việt Nam, ông cũng được thờ trong các Văn miếu. 2. Hậu duệ của Khổng Tử : Ngày nay có hơn năm mươi vạn người họ Khổng sinh sống ở Khúc Phụ đều nhận là con cháu của Khổng Tử. Nếu tính cả phụ nữ và những người sống ở nước ngoài vào hệ phả họ Khổng, gốc ở Khúc Phụ, Sơn Đông, thì con cháu ông nay lên tới hai triệu. Thực tế đã chứng minh rằng hậu duệ của Khổng Tử 80 đời nối tiếp đều được tận hưởng vinh hoa phú quý. Dù bao triều đại đổi thay vẫn không hề ảnh hưởng đến đặc quyền quý tộc cực cao của ...

119. HỌ VÀ TÊN người Việt Nam :

Con NGƯỜI khác loài vật trên nhiều phương diện, trong đó có việc đặt "tên" và sau đó là có "họ". Một số nhà nghiên cứu cho rằng bắt đầu có từ thế kỷ 2 trước Công nguyên và càng ngày càng đa dạng hơn, có ý kiến khác cho rằng “sớm nhất Việt Nam có tên họ vào khoảng đầu Công nguyên”. Khi ảnh hưởng mạnh của Nho giáo với chế độ Phụ quyền thì mới có việc “con theo họ Cha”. Giáo lý này do Khổng Khâu, tức Khổng Tử (551 tCn-479 tCn) sáng lập từ thời Xuân Thu. Nhưng chỉ đến thời nhà Hán đạo Khổng mới chiếm vị trí độc tôn. Khi cai trị nước ta, người Hán du nhập đạo Khổng và đem các họ có sẵn vào Việt Nam, chúng ta phát âm theo tiếng Việt nên thành họ Việt. Họ người Việt gồm các họ của người thuộc dân tộc Việt . Việt Nam nằm ở khu vực Đông Dương nên chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa từ Trung Quốc lẫn các nước vùng Ấn Độ hay dân tộc Chàm , cho nên họ người Việt cũng vậy. Trong đó họ du nhập từ TQ nhiều hơn nhưng đa số họ được đọc trại đi cho khác với nguyên gốc để hợp với cá...

Vấn đề “Tôn lô nhang bản mệnh”

Khi mới lập gia đình rồi ra ở riêng hay chuyển đến nơi ở mới, người Việt thường quan tâm tới việc lập bàn thờ, sắm bát nhang. Khi sắm bát hương đầu tiên cần dùng mực tàu viết chữ vào cốt không hiệu: . - Nếu là cốt thổ công thì viết Ngũ phương Thổ công, Thần tài Thần lộc. . - Nếu cốt gia tiên thì ta viết bằng hai cách : . +Cao tằng tổ khảo cao tằng tổ tỷ thúc bá đệ huynh cô ry tỷ muội.. +Nếu chỉ thờ cha mẹ hoặc ít có thể viết thẳng tên tuổi thọ bao nhiêu.. Sau khi viết xong ta dùng dấu tam bảo đóng dấu lên, đóng cả vào cốt gia tiên, cốt thổ công rồi gấp làm 4, cùng với Thất bảo, có vàng lá của hàng mã cho vào, ngoài cùng dùng giấy trang kim vàng gói lại (đằng có lớp vàng ra ngoài để chống cháy). Sau đó cho vào bát hương để dựng đứng áp sát về phía có đôi rồng chầu rồi đổ tro vào, lưng bát hương thì ta cho một lớp ngũ vị thơm là chất mua ở nơi làm hương rồi đổ tro rơm nếp vào tiếp. Sau khi bốc bát hương xong ta dùng nước ngũ vị hương hoặc nước hoa để tẩy dùng nén hương khoán chữ tẩy b...

Ngày MẸ SINH TÔI

Chào đời giữa lúc khó khăn, Đau lên, ốm xuống bao lần suýt vong. Trước khi sinh tôi, mẹ đã sinh 2 lần. Nhưng cả 2 anh tôi đều mất khi mới 1-2 tuổi. Có thày bói nói: Bố Mẹ tôi phải nuôi con nuôi trước và phải đi “cầu tự”. Thế là mẹ tôi đón một chị con bác L.Đ.Thông - Đặng Thị Quắm về nuôi. Chị này mất khi còn nhỏ. Mẹ lại xin con gái dì Ương, em ruột bà, lấy chú Miêu ở An Thái về nuôi song cũng lại mất sớm. Sau này nghe kể lại tôi biết, chẳng qua là do kém nuôi dưỡng. Ngày đó tỉ lệ trẻ sơ sinh bị chết nhiều nên chẳng mấy ai để ý. Trong những năm Pháp càn quét vùng ngoại thành Hải Phòng ác liệt (1947-1949) nhiều lần gia đình phải tản cư sang Tiên Lãng và có đợt tới tận Thái Bình. Khi tạm yên, quay về quê, mẹ tôi Đền thờ Đức Thánh Trần ngoài Kiếp Bạc làm lễ, chui qua bụng tượng voi. Sau đó tôi ra đời. Trong các giấy tờ thì tôi sinh ngày 23 tháng 02 năm 1955. Sau này bố tôi nói: Đúng ra là ngày 23/2 Ất Mùi (â...

Phái họ PHẠM CHÍNH LÝ trên Lào Cai

Vợ người quản trị trang này họ Phạm gốc xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Nhưng gia đình đã lên Lào Cai ở xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng từ năm 1966. Do Gia phả thất lạc nên không tìm được Viễn Tổ, Ngũ Đại Tổ và từ đâu đến lập nghiệp tại đây. Chỉ chiếu từ Tổ Bốn đời là Phạm Văn Mẳn (kị 30/8), Cụ bà không nhớ tên (kị 26/6). Các cụ nhà nghèo, mất đã lâu, mộ đặt ở nghĩa địa rìa Xóm 8 ngoài cánh đồng, nhưng không ai nhớ chính xác là mộ nào. Ngày 27/6 Bính Tuất (Thứ Bẩy 22/7/2006) lần đầu tiên tổ chức giỗ Cụ bà tại nhà Liệt sĩ Phạm Văn Ngữ (Trưởng thế). Đông con cháu, cả cháu ngoại 3 đời về dự. Đã tính đến chuyện xây Từ đường, xây lại mộ Tổ. Nhưng không xác định chính xác được đâu là mộ cụ bà đâu là mộ chồng bà Nhường nên quan viên họ đành chịu [1] . Các cụ sinh 4 nữ, 2 nam là: P.T.Long, P.Văn Tuệ (Kị 06/10), P.T.Nhường, P.Văn Báu, P.T.Tý và P.T. Tỵ . P.T.Long lấy chồng họ Trần sinh Hoan, Hoàn, Chức, Quyền, Sang. T.V.Quyền sinh T.V.Đoàn chuyển lên Xuân Quang, Bảo Thắng ở từ 1974. T.T. C...

45 NĂM ẤY, ĐẤT NÀY

Thấm thoát đã 45 năm, tính từ tháng 2/1964 khi gia đình tôi rời quê lên lập nghiệp và mở ra một chi phái Lương Đức ở An Phong. Buổi gặp mặt được tổ chức ngày ngày 22 tháng 02 năm 2009(己丑年,正月, 二八日) rất cảm động. Chim trời tìm đậu cành xưa, Con ong kiếm mật vẫn về tổ quen. Mưu sinh qua khắp trăm miền, Sang hèn từng trải, nỗi niềm chẳng nguôi. Giáp Thìn, Xuân ấy rời nôi , Lên xây quê mới giáp nơi biên thuỳ. * Bồi hồi nhớ buổi ra đi, Bốn nhăm năm ấy, bây giờ là đây. Trào vui nhớ lại những ngày, Cỏ môi, vắt, muỗi, những cây cùng rừng. Nhớ, Buồn, Rét, Đói đã từng, Mồ hôi, Máu đổ nên làng xóm nay. * Nào đâu sẵn cỗ mâm bày, Vi vu phải nhớ tới ngày khai cơ. Ra khơi vẫn nhớ bến bờ, Chuyện xưa chép lại, nhắc khi nhãng lòng. Dâng tiền nhân nén “Tâm nhang”, Khuyên răn hậu thế chuyện làng khắc ghi.

Cuộc VĂN CÁCH bên TQ và ảnh hưởng của nó tới quê tôi.

Người Trung Quốc vốn giỏi về tổng kết kinh nghiệm và đưa ra những lời cô đúc sau đó phát động những chiến dịch rộng lớn, có ảnh hưởng nhiều mặt không chỉ tới đất nước bao la này mà còn ảnh hưởng tới lân bang và đến từng gia đình, dòng họ sinh sống nơi biên ải. Đặc điểm của phong kiến Trung Quốc là các triều đại thường lật đổ nhau trong bể máu và giai cấp giành được quyền lãnh đạo thường phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để duy trì quyền lực của họ và kiềm chế triều đại bị lật đổ. Đúng là: 合久必分,分久必合 hợp cửu tất phân, phân cửu tất hợp. Sang thời hiện đại, kết thúc nội chiến Quốc-Cộng (國共内戰, 1924 - 27; 1927 - 37 ), Đảng Cộng sản Trung Quốc (中国共产党/中國共産黨; Zhōngguó Gòngchǎndǎng, thành lập 23/7/1921 ) giành thắng lợi, thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (中華共和人民國 , Zhonghua Renmin Gongheguo ; A: People's Republic of China ) vào 1/10/1949 [1] . Trong thời kỳ Quá độ sang Chủ nghĩa Xã hội do Mao Trạch Đông 毛澤東 lãnh đạo (1949-1976), những “Trăm hoa vận động” (百花運動, Bách Hoa Vận Độn...