Bài đăng

VII.1.1. Người QUẢN TRỊ TRANG NÀY

Họ và tên: LƯƠNG ĐỨC MẾN Ngày sinh: 23/ 02 / 1955 Nơi sinh: xã Chiến Thắng , huyện An Lão , thành phố Hải Phòng - Việt Nam . Trú quán: SN 328 đường Hoàng Liên , phường Kim Tân , thành phố Lào Cai , tỉnh Lào Cai - Việt Nam . Tôi Quê gốc: làng Hương, xã Chiến Thắng , huyện An Lão , thành phố Hải Phòng theo gia đình lên khai hoang tại thôn An Phong , xã Phong Niên , huyện Bảo Thắng , tỉnh Lào Cai từ 2/ 1964 . Sau khi tốt nghiệp Đại học Quân y ( nay là Học viện Quân y Việt Nam ), tôi về công tác tại Công an tỉnh Hoàng Liên Sơn . Tái lập tỉnh Lào Cai ( 01/10/1991 ) tôi trở lên đây và công tác tại đó đến nay. Tôi có 2 con : 1 gái ( SN 1983 ) và 1 trai ( sinh 1985 ) đều đã TN Đại học , vợ công tác tại Trường Cao đẳng sư phạm tỉnh. Họ Lương có nhiều dòng mang những tên đệm khác nhau hoặc có dòng chữ lót đặt tuỳ ý không theo một quy luật nào. Nhưng Lương Đức 梁德 với quy định cha, con, cháu...đều mang chữ lót là “Đức” thì sinh sống hay xuất phát đều từ Chiến Thắng, An Lão,...

VI.1.2- Quê và họ hàng bên vợ Đệ LỤC ĐẠI TỔ

Đệ lục đại Tổ Lương Đức Thân đã từng lấy một người vợ quê bên Tiên Lãng , Hải Phòng. Một lần đi chợ không thấy về, gia đình có tìm nhưng không được. Sau lấy người vợ hiện tại làng Cốc cùng xã. VI.1.2.1- Quê vợ : Thôn Cốc Tràng 谷場 xã Chiến Thắng, thường gọi là làng Cốc 廊谷, cách làng Hương chừng 1,5 Km qua làng Hạ và một cánh đồng. Đây là thôn có từ xa xưa và nằm phía Đông Nam của xã. Cư dân ở đây gồm 17 họ nhưng đa phần là họ Phạm. So mặt bằng chung thì làng Cốc khá giả hơn và có cả người đi Lương lẫn người theo Đạo. Giữa 2 làng thì các họ Đào, Phạm, Lương nhiều nhà thông gia với nhau. Đây là làng cuối xã, có cả Chùa và Nhà Thờ và những năm 2000 là nơi có phong trào khuyến học khá. VI.1.2. 2- Họ Phạm : Họ Phạm [1] là một họ phổ biến ở Việt Nam. Đây cũng là một trong các họ của Trung Quốc. Theo “ Nguyên Hà Tính Toản ” và “Lộ Sử”, Lưu Luy thuộc dòng Đế Nghiêu 帝堯 thời Ngũ đế 五帝. Lưu Luy lập ra tiểu quốc Đường 唐 ( nay là vùng Sơn Tây, TQ ) và người ta thường gọi là Đường Đỗ Thị. Vào triề...

Nhớ buổi KHAI CƠ

Tháng 02/1964 các thành viên của 9 hộ, 56 khẩu người Chiến Thắng ( Ruẩn, Thông, Thân, Rật , Nguyên, Thiếp, Nhỡ, Thoả, Ngà ); 5 gia đình, một số hộ độc thân ( Ru, Ơn, Mậm, Dâng, Ngần ) ở An Thái với 23 khẩu cùng 5 gia đình gồm 20 khẩu ở Mỹ Đức ( Kịch, Đồng, Diêm, Đế, Phước ) rời quê hương An Lão, Hải Phòng lên Phong Niên, Bảo Thắng, Lào Cai khai hoang lập ra HTX An Phong. Chim trời tìm đậu cành xưa, Con ong kiếm mật vẫn về tổ quen. Mưu sinh qua khắp trăm miền, Sang hèn từng trải, nỗi niềm chẳng nguôi. Giáp Thìn, Xuân ấy rời nôi [1] , Lên xây quê mới giáp nơi biên thuỳ. * Bồi hồi nhớ buổi ra đi, Bốn nhăm năm ấy, bây giờ là đây. Trào vui nhớ lại những ngày, Cỏ môi, vắt, muỗi, những cây cùng rừng. Nhớ, Buồn, Rét, Đói đã từng, Mồ hôi, Máu đổ nên làng xóm nay. * Nào đâu sẵn cỗ mâm bày, Vi vu phải nhớ tới ngày khai cơ. Ra khơi vẫn nhớ bến bờ, Chuyện xưa chép lại, nhắc khi nhãng lòng. Dâng tiền nhân nén “Tâm nhang”, Khuyên răn hậu t...

DI CƯ lập nên CHI PHÁI MỚI

Di cư là sự thay đổi chỗ ở của các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư do nhiều nguyên nhân: điều kiện tự nhiên ( thiên tai, đất chật người động, thời tiết khắc nghiệt …), điều kiện sống ( mức sống thấp, nghèo đói ...), chiến tranh, đoàn tụ gia đình, cư trú chính trị, lẩn tránh pháp luật ( tội phạm ...). Còn việc thay đổi chỗ ở tạm thời trong chiến tranh hoặc thiên tai thì gọi là tản cư . Lịch sử Việt Nam thời hiện đại ghi nhận một số cuộc di cư lớn, Chính những đợt di cư này đã tạo ra những chi phái mới từ họ gốc ở cố hương. Họ Lương Đức xã Chiến Thắng , huyện An Lão , thành phố Hải Phòng cũng vậy. Di cư năm 1954 là sự kiện xảy ra sau Hiệp định Genève tại Việt Nam, bao gồm dòng người từ miền Nam “ tập kết ra Bắc ” và một dòng người lớn hơn với gần một triệu người “ di cư vào Nam ”. Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17 ....

Thủy tổ: LƯƠNG ĐẮC BẰNG

Tương truyền Tổ họ Lương Đức ở Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng (gốc của dòng Lương Đức Lào Cai) là hậu duệ đời thứ 11 của Bảng nhãn Thượng thư Lương Đắc Bằng nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm được cứ liệu. Không biết Gia phả dòng họ ở Tiên Lãng, Vính Bảo hay Thanh Hóa có chi tiết nào chép về chuyện này không? Dù Bảng nhãn Lương Đắc Bằng không có là Thủy tổ trực hệ của dòng họ Lương Đức Chiến Thắng thì cũng vẫn là một Danh nhân đáng kính, đáng tự hào cho mỗi con dân tộc Lương. Lương Đắc Bằng 梁得朋 ( 1472 - 1522 ), danh thần đời Lê sơ, người làng Hội Triều ( Hoằng Hoá, Thanh Hoá ). Công trạng: Năm Kỷ Mùi 1499, ngày 10/7, mới 28 tuổi, trong khi ứng chế với đề 五王帐”Ngũ Vương trướng” [1] được ưu hạng, được thưởng bậc nhất đỗ Bảng nhãn (榜眼, tức là Trạng nguyên 狀元 dưới triều Lê) đời Cảnh Thống 景統 Lê Hiến Tông. Từng cùng các đại nho: Đông các học sĩ Nguyễn Nhân Thiếp, Lê Ngạn Tuấn, Lê Mậu Thưởng, Nguyễn Xung Xác, Hàn lâm viện thị t...

VAY TRẢ

Hình ảnh
Nhân ngày 08/3/2004 Sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai đến nhà Chúc mừng cô giáo, các em có hỏi: Chú tặng gì? - Tôi cười: : Chú tặng .."Hoa Bắp Chuối" và đọc bài này. Nửa cuộc đời, ngẫm lại thấy sững sờ: Vay, nợ ai nay thành người như thế ? Dẫu chưa cao hơn trời, chẳng sâu hơn bể Mà nợ này sao cứ thấy rưng rưng !. Thân vay mẹ những năm tháng lau rừng, Ý chí cha truyền từ Tổ tông, Xóm Bản. Kiến thức này vay của Thấy của bạn, Trái tim Hồng ngành đào luyện mà nên. Còn hậu phương giúp nên nghiệp vững bền, Là công em, chắc gì em đã nhớ ? Em là thế, luôn chắt chiu che chở, Lo cho chồng, lại vun đắp cho con. Chất dịu hiền từ cái thủa còn son, Lớn dần lên, mặc thăng trầm, mưa, nắng. Muốn nghìn lời, anh càng thêm im lặng, Chút quà mừng, xin lại khất em yêu: Vay mượn này đâu một sớm, một chiều, Nên chuyện trả chẳng tính năm, tính tháng. Hai Mẹ dạy gái, dâu ...

NGHĨA TRANG DÒNG HỌ

Xa xưa dân ta đã có tục lập và duy trì Nghĩa trang dòng họ nhưng mới hạn chế ở những họ "Cao môn lệnh tộc". Gần đây ý tưởng đó được phục hồi nhưng khốn nỗi đất đai đã là "công thổ quốc gia" và ngày một eo hẹp dần. Dù kinh tế khó khăn, đất đai hiếm nhưng trước khi xa quê Cha Chú tôi đã thực hiện một việc có ích lớn cho chúng tôi và con cháu sau này. Năm 1964 trước khi lên Lào Cai, bố và chú tôi đã cho chạy những ngôi mộ thuộc gia đình tôi gọn vào một chỗ. Nghe kể lại việc tìm rất khó bởi trước kia chỉ là mả đất, quá trình cuốc, đắp, rồi tiểu chôn sâu tự trôi nên phải thuốn tìm mấy ngày mới tìm đủ. Mộ ông nội tôi là mộ tưởng niệm, mộ 2 bà cô không phân biệt rõ của ai vào ai. Tuy biết rằng “Nhất dương thắng Thập âm” nhưng hồi đó phong trào tìm đất chưa thịnh, lại gấp và nghèo nên gia đình đặt mộ các cụ vào khu đất mà thôn định sẵn và không khắc bia đánh dấu...