Đôi điều về VÁI VÀ LẠY

“Vái” và “Lạy” là 2 động tác thường gặp khi hành lễ nhưng từ thực tế “điền dã” thấy nhiều kiểu khá “buồn cười” nên thấy vẫn phải chép lại để nhớ, thực thi và lan truyền.

1.Về ngữ nghĩa: Khi có Giỗ, ngày Tết, người Việt thường sắp, bầy hoa quả, nước, rượu, cỗ bàn, chén bát, đũa, thìa, muối, gạo,… lên bàn thờ rồi thắp nhang, đèn, đốt nến, khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn, và cầu phúc lành.

“Lễ” chính là khuôn mẫu, là cách bày tỏ kính trong 4 hoạt động cúng tế hệ trọng: Quan (, chào mừng đứa bé mới ra đời), Hôn (, lễ thức hôn nhân của gia đình), Tang (, nghi thức tiễn đưa một người về chầu tiên tổ) và Tế (, hình thức tế lễ để tưởng nhớ ông bà tổ tiên) nhằm thể hiện sự tôn kính. Tuy gồm nhiều cách thể hiện nhưng tựu trung lại có:  

Ðứng Bái: (Vái, Lạy) đứng làm lễ và tùy theo phong tục tập quán khác nhau mà động tác Bái có khác nhau.

Qùy Bái: (Lạy) qùy làm lễ nhưng cũng tùy theo phong tục tập quán mà động tác thực hành cũng khác nhau.

Ngồi Bái: (Tọa Tụng, Vái, Lạy) với nhiều cách thực hành khác nhau theo phong tục tập quán riêng.

Hành Bái: (Bái, Lạy trong những nghi thức rước lễ) cũng có những cách thực hành khác nhau, tùy theo hình thức lễ lạc, tùy theo mỗi tôn giáo.

Trong truyện Kiều  斷腸新聲, Nguyễn Du (阮攸, 1766 – 1820) dùng từ khấn vái trong câu 95:  “𠽍哏㗑𡮈, Lầm rầm khấn vái nhỏ to”.  

2. Lạy và vái là hai hành động thể hiện lòng kính trọng trong văn hóa tâm linh của người Việt. Vái () là chắp tay đưa lên ngang đầu rồi cúi đầu nhẹ, thực hiện nhanh. Lạy là hành động trang trọng hơn, chắp tay đưa cao rồi quỳ xuống, cúi đầu sát đất.

Vái: Trong quá trình tiến hành nghi thức Lễ có hành vi “bái”. “Bái” là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất trước những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính; là hành động của con người thực hành tham gia trong buổi Lễ. Vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái.

Mỗi buổi Lễ có những phương cách “Bái” riêng, tùy theo truyền thống hay có cải cách, sửa đổi theo thời gian, theo sở thích của người chủ xướng đề đặt thêm.

Chắp hai tay trước ngực. Đưa tay lên ngang đầu hoặc trán. Cúi đầu và khom lưng theo nhịp, rồi đưa tay về trước ngực.

Lạy: Chắp tay đưa cao quá trán. Hạ dần tay xuống ngực. Quỳ gối, chống hai tay xuống đất và cúi đầu chạm đất cho mỗi lạy. Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình. Thế lạy truyền thống của đàn ông và thế lạy của đàn bà khác nhau nhưng đều rất có ý nghĩa, vừa thành khẩn vừa trang nghiêm trang. Nhưng muốn áp dụng, nhất là thế lạy của đàn ông phải tập lâu mới nhuần nhuyễn được.

Đàn ông khi hành lễ đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và giơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy. Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.

Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng. Sở dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy. Sở dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.

Thế lạy của đàn ông có vẻ hung dũng, tượng trưng cho dương nhưng khi mặc âu phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có ai mặc khăn đóng áo dài còn áp dụng thế lạy này trong dịp Tế Lễ lớn. Còn phần đông chỉ đứng vái.

Khi hành lễ các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.

Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối và không mấy đẹp mắt.

3. Sau khi khấn, người ta thường vái thay lời chào kính cẩn. Người ta thường nói “khấn vái” là vậy. Trong dân gian, về mặt hình thức có :

1. Ngã Mạn Lễ: là người lạy Phật hoặc lạy Ông, lạy Bà, lạy Tổ Tiên chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc phải hành lễ (sợ bạn bè chê trách mình là kẻ bất hiếu, bất nghĩa, bất tín, bất trung), nhưng thâm tâm của họ không muốn lạy (sợ mất thể diện, sợ bẩn quần áo) do dó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không có chút nào lễ độ cung kính cả. Theo cách này, người hành lễ: Đầu lạy xuống không sát đất và đứng lên cúi xuống một cách cẩu thả cho qua việc.

2. Cầu Danh Lễ: nghĩa là người lạy vì mong cầu danh vọng, quyền tước qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như lấy lòng quần chúng, người đó lễ lạy vì mọi người chứ thật ra không phải lễ lạy cho chính họ. Khi đó  họ siêng năng lễ lạy để cho mọi người cho rằng mình có đạo đức, thượng cấp nâng đỡ và quần chúng ủng hộ. Thật ra thâm tâm của họ không có chút gì tín thành và ngược lại, khi không có ai, họ lại biếng nhác, cẩu thả trong việc lễ lạy.

3. Thân Tâm Cung Kính Lễ: là người lễ lạy phải thể hiện thân và tâm đều cung kính và sự Lễ Bái mới có giá trị. Khi đó, người hành lễ phải có đức tin, có sự cảm ứng rất dễ dàng với chư Phật, với các Thánh Hiền, với Ông Bà, Tổ Tiên. Người lễ lạy muốn cho Thân và Tâm đều cung kính thì nên theo cách lạy “Ngũ thể đầu địa Lễ” của Phật Giáo và phải lạy thường xuyên để cho cung cách được thuần thục. Người lễ lạy đã thuần thục thì mới có khả năng nhiếp phục Tâm loạn động của mình. Thân Tâm Cung Kính Lễ là cách lạy cơ bản của Phật Giáo về mặt hình thức mà người xuất gia cũng như kẻ tại gia phải hành trì cho nghiêm túc.

Tục ngữ có câu nói: “Thờ thì dễ, giữ lễ thời khó”. Trong khi hành lễ nếu biết rõ được ý nghĩa linh thiêng của từng lễ, từng tiểu tiết nghi thức thì ý vị biết dường nào và thấm thía lòng dạ biết bao. Người xưa đã ví von người không biết lạy bái đúng cách thì khác nào như con cóc lạy trời vậy. Nói “xưa bày nay làm” là câu đưa đẩy thể hiện sự tù mù làm giảm đi ý nghĩa thiêng liêng. Cách lạy vừa là mặc ước vừa là quy định theo lễ, theo tình huống mà ứng xử sao cho phải lẽ. Số lần lạy và vái đều mang một ý nghĩa rất đặc biệt, nhưng xem ra chưa mấy ai tường, nhất là giới trẻ.

4. Về số lần “Vái, Lạy”

1). Lạy 2 lạy, 2 vái 二拜: tượng trưng cho âm dương hòa hợp, tức sự sống.

- Trong tang ma, khách đến lễ khi linh cữu còn quàn tại nhà thì chỉ lạy 2 lạy theo lễ đối với người sống (tượng trưng cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống). Nếu chôn cất xong rồi, mới lạy 4 lạy trước bàn thờ hoặc nấm mồ còn thơm mùi đất mới. Tang chủ đáp lễ thì khách lạy 2 lạy mình lạy 1 lạy; khách lạy 4 lạy, mình lạy 2 lạy.

- Trong cưới hỏi, ở lễ hợp cẩn, người vợ trải chiếu, lạy chồng 2 lạy người chồng đáp lại bằng cách vái 1 vái.

Nói cho dễ hiểu theo lối rút gọn: lạy người sống 2 lạy, lạy người chết chưa chôn cũng 2 lạy (vì linh cữu còn quàn ở dương thế), khi chôn quan tài dưới đất xong thì mới lạy 4 lạy.

2). Lạy 3 lạy, 3 vái: thực hiện Tam bái 三拜 khi mặc đồ âu, nếu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.  

Dân gian có câu Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt, hoặc lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng Giêng. Lạy Phật, Tiên Thánh, Thành hoàng, lạy cha ba lạy con đi lấy chồng. Khi lạy Phật, bởi “thân tâm cung kính” nên ngoài tâm niệm chí thành, năm vóc (đầu, hai tay và hai chân) phải sát đất.

Cổ nhân vận dụng số 3 như một pháp số: biểu tượng cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng); Tam cương (quân, sư, phụ hoặc đạo vua-tôi, cha-con, vợ-chồng) phải giữ cho các giếng mối trên vững vàngnhư thế đứng của đỉnh 3 chân.

3). Lạy 4 lạy, 4 vái: 四拜

Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Trước khi đi theo họ trai rước dâu, con gái lạy mẹ 4 lạy 四拜 với ý nghĩa mong cho con giữ trọn đạo làm dâu nhà chồng, theo phép tam tòng tứ đức. Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và thánh thần.

Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.

Trong nghi tiết lễ tế, người xướng đến 34 động thái, còn gọi là tiểu tiết. Lời xướng thứ 8: Tham thần cúc cùng bái có nghĩa là lạy 4 lạy theo nhịp xướng; lời thứ 12: Phủ phục, hưng bái có nghĩa là chủ tế khấu đầu, lạy 2 lạy; lời thứ 32: Hành tạ  lễ cúc cùng bái thì chủ tế và bồi tế lễ tạ 4 lạy…

4). Lạy 5 lạy , 5 vái:

Người quân tử phải “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” do vậy khi Vua ngự ở điện chính quan văn từ Tứ phẩm và quan võ Tam phẩm trở lên đều lạy vua 5 lạy theo quy định của Lễ Nghi Chí “lạy vua 5 lạy 3 vái”.

Năm lạy tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung ương, nơi nhà vua ngự. 

Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì giờ để mỗi người lạy 5 lạy.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Xác định Ngũ hành của chữ Hán

Bài Khảo luận về "NGUỒN GỐC HỌ LƯƠNG"

Câu đối mừng Đám Cưới