Đôi điều về LỆ TỤC

1. Việc “thờ cúng tổ tiên”, nói gì thì nói là bắt nguồn từ việc “thờ trời đất” mà trong Hán tự, chỉ Trời là chữ “Thiên” : gồm có bộ “nhất” và chữ “đại” hàm ý nói lên “Thượng đế là vị lớn duy nhất”, Vua của mọi Vua vì vậy mới có câu: “Thánh bất khả tri” 聖不可知. Quyền năng siêu nhiên của Thượng đế, cái tác động đến con người hiện đại cảm nhận được mà ngày nay hay nói đến là “Nhân điện” hay “Năng lượng Vũ trụ” rồi “Ngoại cảm”...Do có sự Dị đại ( , khác biệt do thời gian) dị địa (, khác biệt do vùng miền không gian) nên hay bị QUÊN do vậy nên thi thoảng nhắc lại tí!

Nếu Đức tin đặt nó đúng chỗ thì ta tin rằng những tình cảm con người đối với Đấng Tối cao Siêu nhiên sẽ bù đắp những thiếu hụt trong cuộc sống hiện tại và nuôi dưỡng hy vọng cho những gì tốt đẹp ở tương lai, ở cõi vĩnh hằng. “Hoàng Thiên bất phụ hảo Tâm nhân” 皇天不負好心人 mà sống cho thanh thản, mọi việc sẽ hanh thông!

Mỗi khi cầu cúng cần mở rộng cửa, thắp đèn trước (khởi động), rót nước, rót rượu (dương cầu âm), rồi thắp hương (phát sóng) và khấn cúng (kêu cầu). Chú ý số lẻ, thuộc Dương mà Dương thờ Âm là hợp lẽ (đốt ba nén là cầu mong “Phúc- Lộc- Thọ”  đó còn là sự tượng trưng cho ba đời Chư Phật: Quá Khứ (A Di Đà) - Hiện Tại (Thích Ca) – Tương Lai (Di Lặc), sự tượng trưng cho ba ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, năm nén là “Phúc- Lộc- Thọ- Khang- Ninh”.) Nếu thắp quá nhiều hương sẽ mở đường cho Thập loại chúng sinh đến, tạo ra sự lộn xộn, phiền toái cho Thần, Tổ tiên mình thỉnh cầu. Khi cắm hương cần cắm cho ngay ngắn mới có tác dụng dẫn lời thỉnh cầu tới đúng nơi cần đến. Đồng thời không cắm chồng các chân hương lên nhau nhằm tránh tạo ra những lớp thô () và thanh (mới) và phòng bốc hoả. Khi châm hương không khi nào thổi tắt ngọn lửa mà vẩy hoặc dùng bàn tay phẩy nhẹ. 

2.Trường hợp bát hương tự nhiên bốc cháy, dân gian cho rằng báo “điềm” mà có người cho rằng bốc hỏa ở bát nhang thần linh là cháy báo hiệu may mắn còn bốc hỏa ở bát hương thờ tổ tiên là xui xẻo: hoá âm là khi chân hương cháy âm ỉ từ trong ra rồi đổ ra xung quanh thường liên quan đến mồ mả, thờ cúng; hoá dương là cháy từ trên xuống có liên quan đến nhà cửa, cuộc sống hằng ngày. Khi đó cần để hoá hết nhưng nhớ phòng hoả hoạn đừng dùng nước dập tắt tránh “Thuỷ Hoả giao tranh” 水火.

Cổ nhân cho rằng, ngoài lý do hương kém phẩm thì cần phân biệt:

- Hương tắt phần trên là ở Thiên, liên quan đến nóc nhà, ban thờ...

- Hương tắt ở đoạn giữa là Nhân, liên quan đến thành viên gia đình;

- Hương tắt đoạn cuối nghĩ đến Địa, liên quan đến mồ mả, đất cát...

Sau khi cúng xong thực hiện nghi thức “Cung phần sớ văn” (H: 恭焚疏文, A: To burn respectfully the petition to God, P: Brûler respectivement le placet au Dieu), tức kính cẩn đốt Sớ văn.

3. Ngày nay nên ứng dụng cách đánh số để chép Gia phả[1] và người còn sống (trên, ngang hay dưới người chép) vẫn vào Phả được. Sau này khi con cháu nối nhau hay Tục biên Gia phả thấy cần thiết vẫn bổ sung tiếp chỉ tăng số đời lên.

Khi sử dụng bản Chúc văn có sẵn trong mỗi dịp cúng giỗ cũng vậy. Nên nhớ:

- Phụ Thân[2] 父親: Cha, Thân Phụ 親父: Cha đẻ, còn gọi là Sinh Phụ 生父.

- Mẫu Thân 母親: Mẹ, Thân Mẫu 親母: Mẹ đẻ, còn gọi là Sinh Mẫu .

- Nhạc Phụ 岳父: Cha vợ, còn gọi là Nhạc Trượng 岳丈, Trượng Nhân 丈人 hay Ngoại Phụ 外父, Nhạc Mẫu 岳母: Mẹ vợ, còn gọi là Ngoại Mẫu 外母.

- Quân Phụ 君父: Phu quân đích phụ thân 夫君的父親: Phụ Thân của Phu Quân, tức là cha chồng, Quân Mẫu 君母: Phu quân đích mẫu thân 夫君的母: Mẫu Thân của Phu Quân, tức là mẹ chồng.

- Đích Mẫu 嫡母: Các con của vợ lớn, vợ bé gọi vợ lớn của người; Thứ Mẫu 庶母: Các con thuộc dòng Đích hay dòng Thứ gọi vợ bé của cha mình.

- Dưỡng Phụ 養父: Cha nuôi, có thực sự nuôi đứa con đó; Nghĩa Phụ 義父: Cha nuôi, gọi là cha nuôi nhưng không có nuôi, nhận vì ân nghĩa, hoặc thương mến. Còn gọi là Khế Phụ 契父 , hay Khế Gia 契爺.

- Dưỡng Mẫu 養母: Mẹ có nuôi thực sự; Nghĩa Mẫu 義母: Mẹ nuôi không nuôi, còn được gọi là Khế Mẫu 契母.

- Kế Phụ 繼父: Người cha kế (cha ghẻ); Kế Mẫu 繼母: Người mẹ kế (mẹ ghẻ).

- Bá Phụ 伯父: Bác trai, còn gọi là Bá Bá 伯伯;  Thúc Phụ 叔父: Chú, còn gọi là Thúc Thúc 叔叔.

- Cô hay Cô Mẫu 姑母: Chị hoặc em gái của cha; Bá Mẫu 伯母: Bác gái, còn gọi là Bá Nương 伯娘.

- Thẩm Mẫu 嬸母: Thím; Cữu Phụ 舅父 hay Cữu Cữu 舅舅: Cậu (anh hoặc em trai của mẹ); Cấm Mẫu 妗母: Mợ; còn được gọi là cữu mẫu 舅母 .

- Di hay Di Mẫu 姨母 Dì (chị hoặc em gái của mẹ); Di Trượng 姨丈: Dượng (chồng của dì).

- Đường : Là chữ đặt trước chữ Thúc, Bá, Đệ, Huynh, Cô, Di, Tỷ, Muội

Do vậy, cổ nhân có câu “ba Cha, tám Mẹ” là vậy!. Ngày nay, người học chữ Nho xưa vắng dần. Lớp trẻ chỉ học Anh văn và nếu có học Trung văn thì là tiếng Trung hiện đại, với chữ Giản thể. Mấy ai còn rành âm Hán Việt và chữ Phồn thể. Song điều cần nhớ những danh xưng Hán thường gặp trong cúng giỗ lại là từ Hán Việt, ví như người Cha khi còn sống gọi là “phụ” , chết gọi là “khảo” , rước vào miếu thờ gọi là “nỉ” .

 Như vậy đàn ông gọi là “khảo”, đàn bà kêu là “tỉ” sau từ chỉ ngôi thứ. Đặc biệt nhớ rằng đời sau mà dùng bài văn khấn của đời trước phải tăng lên một bậc. Do vậy khi khấn cúng hay đề bia mộ tốt nhất nên khấn, viết đại từ chỉ rõ số đời: Đệ Nhất (Nhị, Tam...) đại tổ, tức Tổ đời thứ Nhất (Hai, Ba...). Dùng đích danh: Cao tổ, Tằng tổ, Tổ...chỉ đúng với đời người soạn chúc văn hay đề bia. Khi con cháu người đó tiếp thu vô hình trung lại vẫn là “Cao tổ, Tằng tổ, Tổ...” thì nguy, bởi thực tế các cụ đã nâng đời rồi: Cao tổ thành Cao cao Tổ, Tằng tổ thành Cao tổ, Tổ thành Tằng tổ...rồi!

4. Những Đại tự, Câu đối đắp ở cổng làng, mộ phần, nhà tổ lâu ngày bị bong tróc, mờ nên khi trùng tu phải đắp, sơn lại. Thợ chẳng biết chữ nên rất dễ tô, đắp sai. Chữ Hán lại vốn lắm nét, một âm Hán Việt được viết bởi nhiều chữ, một chữ lắm nghĩa và nhiều chữ tương tự nhau. Bởi thế mới có chuyện: chữ “Tác” thuộc bộ nhân () nghĩa là “nhấc lên” viết thành chữ “Tộ” thuộc bộ tâm () với nghĩa “tủi thẹn”; chữ “Ngộ” (gặp) vẽ ra chữ “Quá” (vượt)...

Hay gặp là các cụ xưa thường viết 梁貴公諱秀字德隆 “Lương quý công húy Tú, tự Đức Long” tức là cụ già tôn kính họ Lương tên là Tú, tự Đức Long. Sau này con cháu chẳng hiểu lại nghĩ cụ tên là Lương Quý Công...

Ngay tên của 2 cô, bố và chú tôi là: Di, Thị, Thân, Dật (,, , với nghĩa: Vui vẻ, cái chợ, thương yêu, nhàn rỗi) nhưng cô Di ai nấy gọi cô Ri, chú Dật thành chú Rật và chính anh tôi lại đề bia mộ cô Thị là Lương Thị Thi, với biện hộ “ai lại Lương Thị Thị bao giờ”! Nhưng họ tên đầy đủ của cô tôi viết bằng Hán tự cho 3 chữ khác nhau: 梁氏市.

Đặc biệt địa danh, cấp hành chính cố hương, phẩm tước của tiền nhân thay đổi theo năm tháng cần tra xét kỹ không rất dễ nhầm.

Ngày xưa các cụ đặt tên con cháu theo bộ, theo mối liên quan…khi cần phục chế lại Hán tự chỉ tên cần biết tên của bố, mẹ, anh, em người đó mới chọn được chưa chính xác bởi cũng âm đọc đó nhưng được ghi bởi nhiều chữ với nghĩa khác nhau. Chữ chỉ “họ” cũng vậy. Họ của tôi là Lương, được viết bởi chữ , nghĩa là: Cái cầu, trong từ “tân lương” 澤梁 hay Cái xà nhà trong từ “thượng lương” 上梁. Thế mà được viết thành chữ (lành hiền, lương thiện) trong khi ghi trên Mộ: 高祖考良貴公諱藝! Đúng ra phần mộ này phải ghi: 第一代祖考梁貴公諱藝之墓. Cũng như vậy đối với mộ bà: thay 高祖妣良氏諱頠  bằng: 第一代祖妣梁貴氏諱頠之墓. Họ nhà tôi mà viết là 凉德 thành “đức mỏng” nguy hại ngay!

Ví như đôi câu đối “祖功開破光前代; 宗德滋培喻後昆” đọc là: “Tổ công khai phá quang tiền đại; Tôn đức tư bồi dụ hậu côn” đại ý: “Công ơn khai phá của tổ tiên làm vẻ vang đời trước; Đạo đức cha ông bồi đắp làm rạng rỡ lớp sau”. Trong đó chữ “Côn” nghĩa là “nối” nên “hậu côn” là “con cháu sau này” nhưng nếu khi tô vẽ lại thêm bộ “Thuỷ” vào thành chữ “Hỗn” , tức “Hỗn tạp” thì lúc đó “hậu hỗn” nghĩa rất xấu, còn ra gì nữa!

Gia phả, Long văn xưa soạn bằng chữ Hán nhưng tên người lại là tên Nôm (nhất là nữ hay con nhà ít học), viết bằng chữ Nôm và thường đặt tên xấu cho dễ nuôi. Rất nhiều chữ Nôm mượn hai nửa của 2 chữ Hán hoặc có khi mượn nguyên cả chữ Hán và cái khó là chỗ đó. Thường nữ hay con nhà ít học hay đặt tên Nôm. Ví dụ đặt con là “Hoe” ý là cuối bét, con lại đen nên gọi là “Hoe Đẻn” rồi nhưng khi chép phả lại mượn chữ (hòe)ghi âm “hoe”, chữ (điển) ghi âm “đẻn”, đời sau dịch thành “Hòe Điển”, không ăn nhập gì với gia cảnh!. Hoặc như Đệ Nhất Tổ tỉ họ nhà tôi là Lương Thị Còi. Chữ “Còi” phải viết bằng chữ Nôm, nhưng Nôm thì lại mượn nửa chữ “côi” để ghi âm và nửa từ “phiếu” ghi nghĩa (nhẹ nhàng) mà được chữ  𩲡,  nhầm thành chữ “Ngỗi” , thành ra 2 Cụ khác nhau ở 2 bản Gia phả cùng một họ.

Ví dụ: Thượng Tổ tỷ họ tôi Gia phả ngành Hai chép là Nguyễn Thị Lã, bản Gia phả khác chép Nguyễn Thị Nữ. Đây không phải nhầm chữ ra chữ được! Theo tôi, chắc xưa tiền nhân chép tên Cụ bằng chữ mà chữ này có âm “Lữ” nhưng quen đọc là “Lã” nên sau này người chép theo âm quen đọc “Lã”, người chép theo phiên thiết là “Lữ” nhưng chuyển sang quốc ngữ viết ngọng thành ra “Nữ”!

 Hay như bác họ tôi vốn gốc chài lưới nên tên là (với chữ “ngư”   là cá chỉ nghĩa, chữ “nghiêu”   gợi âm) phải đọc và viết là “Nghoé” thế mà các anh chị tôi lập bia mộ ghi là “Ngéo”! Ngoài ra khi đi viếng mộ tôi còn thấy khá nhiều ngôi mộ khắc tên các cụ bằng chữ quốc ngữ hẳn hoi mà đố ai đọc được. Ví dụ: “Qoàng” (chắc là Quàng),  “Bắu” (Báu?)…

Hoặc như Cụ cố tôi là Lương Đức Trinh 梁德禎 là con út của bà Hai, thường được gọi là “Trinh bé”, để phân biệt với “Chinh lớn” tức cụ Giáo Chinh là con bà cả và ông Nội tôi là Lương Đức Trính 梁德楨 nhưng rất nhiều lần khi tôi bận, mẹ tôi nhờ người viết sớ toàn chép là “Chinh” và “Chính”, đành bỏ không dùng được. Bởi họ nhà tôi có cụ Chinh , khiếm tự 欠嗣 và trong số hậu nhân không có ai là “Chính” cả.

Đặc biệt các cụ nữ khi đã quy ở chùa thường đặt hiệu có chữ “Diệu” (Khéo, hay, thần diệu lắm, tinh thần khéo léo mầu nhiệm), ví như  Đệ Nhất Tổ tỷ trong Gia phả chép 梁氏諱 񠐜  đúng ra phải hiểu là Cụ họ Lương tên là Còi, hiệu Diệu Cần nhưng khi dịch sang quốc ngữ lại ghi thành Riệu Cần chẳng có nghĩa gì[3]! Tương tự như vậy, trong Hán văn thường có chữ dùng khi nói hết câu hay mở đầu câu; chữ này có phiên thiết là 羊者切  (dương giả thiết) nên phải đọc là “dã” nhưng nhiều người chép lầm thành “rã”. Khi đó nếu mất bản chữ Hán chỉ dựa vào bản phiên âm thì không ai hiểu và dịch được!

Mặt khác, tiếng Việt có 6 thanh điệu, khi sao chép chữ láu, dễ nhầm. Ngày xưa, con trai hai mươi tuổi 二十岁 làm lễ đội mũ gọi là “nhược quán” 弱冠, chưa đến hai mươi tuổi gọi là “vị quán” 未冠. Do không hiểu nên có người chép lại bản đã phiên âm rồi dịch thành mua chức hết “20 quan” (tiền), trong khi Tổ do thông minh lanh lợi nên được bổ làm quan ở tuổi 20!

Cách tốt nhất hiện nay nên dùng chữ quốc ngữ với âm thuần Việt. Trường hợp buộc phải dùng Hán tự mà nếu không có người thực học, am hiểu cần dựa vào Tự điển 字典 (sách giải nghĩa của chữ đơn, có thể chỉ là thành phần của từ) và Từ điển 词典 (sách sắp xếp thành các từ vị chuẩn theo một trình tự, thường là các chữ ghép lại thành từ). Ví như các cuốn Từ điển Hán Việt 漢越辭典 của Đào Duy Anh, Hán Việt tự điển 典字越漢 của Thiều Chửu.

Cuối năm 2009, khi chỉnh trang phần mộ của gia đình tôi đã dùng những chữ, câu có trong sách, sử dụng Computer gõ, chọn Font chữ Hán ưng ý rồi trình bầy lại bằng các phần mềm thích hợp sau đó in, phóng ra theo cỡ đã định. Cuối cùng mới đưa cho thợ khắc đá. Phần phiên âm, dịch nghĩa đều chép lại trong Gia phả để con cháu sau này hiểu được (dù không rành Hán tự). Làm như vậy chính xác lại đẹp. Nhưng cần cẩn trọng với từ cổ và phải dùng chữ Phồn thể.

5. Chú ý khi xác định tuổi theo âm lịch:

Do có sự khác nhau về cách tính lịch nên có sự “vênh” nhau về đại lượng chỉ thời gian trong đó năm mới Dương lịch bao giờ cũng đến sớm hơn năm mới Âm lịch hơn 1 tháng vì vậy có sự “chồng lấn” ở tháng 1, 2 Dương lịch và điều đó dễ nhầm khi quy đổi tuổi dương lịch sa ng âm lịch và ngược lại, ngay cả với người gọi là “thầy”.Ví dụ:

Chị dâu họ[4] tôi là Nguyễn Thị Đê[5], sau một đợt ốm dài (Xơ gan cổ trướng) đã mất hồi 23 giờ 25 phút ngày 21/3/2011 tức đêm thứ Hai ngày 17/02 âm lịch tại nhà riêng ở thôn Soi Chát xã Sơn Hải. Tứ trụ tử là Bính Tý, Ất Hợi, Tân Mão, Tân Mão (tháng 2: từ 11 giờ 40 đêm, theo âm lịch nới tính là ngày hôm sau nên vẫn thuộc giờ Bính Tý của ngày Ất Hợi 17/2). Theo CHỨNG MINH THƯ thì chị sinh ngày 30/01/1953. Do không nắm rõ nguyên lý tính lịch nên gia đình đinh ninh chị tuổi Quý Tị. Thực ra, do sự “chồng lấn” giữa hai loại lịch nên năm Quý Tị bắt đầu từ thứ Bẩy ngày 14/02/1953 (Bính Thân, Giáp Dần, Quý Tị) và kết thúc vào thứ Ba ngày 02/02/1954 (29 tháng Chạp tức Kỷ Sửu, Ất Sửu, Quý Tị). Do vậy ngày 30/01/1953 vẫn là năm Nhâm Thìn (từ ngày 27/01/1952 đến ngày 13/02/1953) và đó là ngày 17 tháng Chạp âm (có Bát tự là : xx, Nhâm Ngọ, Quý Sửu, Nhâm Thìn), tức chị tuổi Thìn[6], 59 tuổi! Ngay cả “thầy” Bùi Văn Thiếc (người cùng thôn ở xuôi và trên Lào Cai) cũng lấy tuổi Quý Tị để xem giờ, chọn ngày cho tang lễ! Rõ ràng như vậy là tính cho “vong” đẻ trước chị tôi 1 tuổi nhưng để anh và các cháu khỏi lo, tôi không phân tích rõ “cơ sở khoa học” của phép làm lịch và xem ngày như đã nói ở trên tức là giữ nguyên kết quả gia đình đưa.

Trường hợp chị tôi gia đình và thầy đổi một cách “máy móc” lại đúng tuổi 59 chị tôi khi mất. Còn trường hợp chú Lê Hồng Phát hàng xóm cạnh nhà tôi lại khác. Chú mất ngày 10 tháng 6  năm 2014 tức là ngày 13 tháng 5 năm Giáp Ngọ. Hồ sơ ghi chú sinh ngày 23/01/1965, tức là ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thìn tức khi mất chú 50 tuổi (âm). Nhưng cơ quan và trong gia đình có một số người biết một tí bảo đầu năm 1965 vẫn là năm “1964 âm” nên chú đã 51 tuổi[7]!

6. Phép tính Nhuận:

Do 3 đơn vị cơ bản đo thời gian vốn được hình thành từ hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, ngày (chu kỳ tự xoay quanh trục của trái đất), tháng (âm lịch là chu kỳ mặt trăng chạy một vòng quanh trái đất), năm (chu kỳ trái đất quay một vòng quanh mặt trời). Nhưng ba đơn vị này không thông ước với nhau; vì vậy cần phải “thêm vào” để chỉnh lại các sai số do làm tròn từ đó sinh ra “nhuận”, trong phép làm lịch, “Nhuận” (A: Intercalation, P: Intercalation, H: 置閏) là sự dôi ra (ngày, tuần, tháng) để làm cho lịch phù hợp với các mùa thời tiết. Thực ra tuy gọi là “năm nhuận” (H: 閏年, A: Leap year, P: Année bissextile) nhưng chỉ là hiện tượng có “ngày thừa” 閏日, “tháng thừa” 閏月 trong năm đó so với các tháng, các năm bình thường khác, chứ không phải là thừa năm!

Với những người “làm công ăn lương” thì năm dương lịch nhuận thì tháng 2 phải “cõng” thêm một ngày mà không được “bù lương”. Những việc tính theo lịch âm (việc cúng Cơm hằng ngày, cúng Tuần thường, Tuần Tứ Cửu, Tốt khốc, giỗ đầu không phải xem ngày, cứ tính số ngày mà thực hiện) thì Tết và ngày cúng giỗ nếu rơi vào tháng trước nhuận thì bình thường, rơi vào sau tháng nhuận phải “chờ” thêm 1 tháng nữa.

- Với những nghi lễ tính theo ngày, tuần thì phải tính từ ngày xẩy ra, tức là chú ý tới tháng nhuận.

- Với nghi lễ tính theo năm thì vẫn phải tiến hành theo tháng chính  bởi thực ra năm khác làm gì còn tháng “nhuận” đó nữa! Ví dụ:

1. Thím tôi mất lúc 3 giờ sáng Thứ Tư ngày 15/6/1988, theo âm lịch đó là ngày 02/5 năm Mậu Thân. Năm 2012 nhuận 2 tháng Tư âm nhưng không thể cúng vào 02/4 nhuận (22/5/2012 nhằm ngày Quý Mùi tháng Ất Tỵ nhuận) được mà vẫn phải cúng vào tháng sau, 02/5 tức thứ Tư ngày 20/6/2012 nhằm ngày Nhâm Tý tháng Bính Ngọ.

2. Cháu rể tôi là Vũ Mạnh Hưng[8] (chồng Hoàng Thị Phương, con rể Lương Thị Sinh[9]) mất lúc 8 giờ 30 ngày Chủ nhật 20/5/2012, tức là ngày 30/Tư âm lịch, truy điệu và đưa tang từ 9 giờ thứ hai ngày 21/5/2012, tức là ngày 01/Tư nhuận thì:

- Việc cúng 3 ngày, cúng tuần, cúng 49 ngày và 100 ngày tính từ 30/4 âm và tcả tháng Tư nhuận. Cụ thể lễ Tam ngu vào: 23/5 tức ngày 02/4 nhuận; cúng tuần đầu vào 27/5 tức ngày 07/4 nhuận; Thất thất lai tuần vào 01/7 nhằm ngày 13 tháng 5 âm…

- Giỗ đầu vào 01 tháng Tư năm sau…

3. Nhạc mẫu tôi mất lúc 23 giờ 25 phút ngày 19/12/2013 tức là ngày 17  tháng Một năm Quý Tị, hưởng thọ 94 tuổi. Đúng ra thì việc cúng Cơm hằng ngày, cúng Tuần thường, Tuần Tứ Cửu, Tốt khốc, giỗ đầu không phải xem ngày, cứ tính số ngày mà thực hiện. Nhưng vì là cuối năm, 49 ngày gối sang năm mới và năm Giáp Ngọ lại nhuận nên có :

- Cúng Tuần Tứ Cửu (終七, tức là lễ Chung thất): 49 ngày Mẹ mất vào thứ Năm ngày 06/2/2014 tức 07 Tết mà tục không để qua năm mới nên cúng vào Trưa thứ Tư ngày 22/01/2014 tức 22 tháng Chạp. Khi đó, thực ra mới có 35 ngày nhưng hợp tục. Hơn nữa hôm đó là ngày Quý Tỵ (Trường Lưu Thủy), thuộc hành Thủy, có Cát tinh là Thiên Phúc hợp việc tống lễ.

- Năm Giáp Ngọ nhuận 2 tháng 9 âm nên Giỗ đầu 小祥 Mẹ vào trưa Thứ Tư ngày 07/01/2015, tức là 17/Một âm lịch thực ra đã trải qua 13 tháng theo lịch âm.

Người Việt thường kiêng tiến hành những công việc đại sự vào tháng “thêm vào” nhưng từ thời kỳ thánh Patrick và Bridget trong thế kỷ 5 người Ireland phụ nữ chỉ có thể được cầu hôn trong những năm nhuận.

7.Lễ Chung thất :

Thế tục cho rằng 49/100 ngày là thời kỳ vong linh còn mờ mịt, nổi chìm chưa định, nên phải cúng vong để giúp được chuyển sinh vào chỗ thiện. Theo thuyết của Phật giáo:  vừa mới chết, hồn người chết bị Thành Hoàng là vị thần cầm sổ bộ điạ phương phái Ngưu Đầu và Mã Diện (đầu Trâu mặt Ngựa) áp tải đến tra về những hành vi thưở sinh thời chốn dương gian, qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một Điện ở âm ty (sau 7 tuần vong hồn đã siêu thoát sẽ tự do hay bị gông cùm tuỳ theo tội trạng. Do vậy gia đình hiếu chủ đến tuần thứ 7 thực hiện việc cúng 49 ngày còn gọi là thất thất lai tuần hay Tuần tứ cửu 四九 hay Trùng thất 重七). Đây là lễ quan trọng, cần chuẩn bị chu đáo. Có thể gia chủ tự cúng hay mời thầy, thỉnh sư về khấn giúp.

Dân gian biết đến nhiều hình thức trao đổi mà chủ yếu là: trực tiếp qua nhập đồng (qua miệng người ngồi đồng); qua báo mộng (mà lúc tỉnh người được báo mộng nhớ, kể lại để mọi người suy đoán); qua cầu cơ (bằng đồng xu lăn đến chữ có nội dung cần cầu); hỏi trực tiếp bằng xin Âm Dương (đồng ý hay khước từ).

 Người Việt quan niệm có bốn thế giới tồn tại:  trên trời (Thiên Phủ); dưới đất (Địa Phủ); dưới nước (Thoải Phủ); trên rừng (Nhạc Phủ). Mỗi thế giới đều do một người đàn bà cai quản gọi là các Mẫu, các mẫu đều không có tên, duy mẫu Liễu Hạnh là mẫu Thượng Thiên danh tính đầy đủ. Từ tục thờ Mẫu dẫn đến phổ biến và hay gặp là việc “lên đồng” hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian.

Dịp cúng 49 ngày phụ thân tôi, gia đình nhờ thầy Kiên ở Xuân Quang lập đàn với 18 bàn ở ngoài sân sau đó có thực hiện việc hầu đồng trong nhà.

Lúc ở ngoài sân, Mẹ và anh em tôi theo thầy Kiên đi “phá từng cửa ngục”, phá được hết thì coi như linh hồn Cha dễ Siêu thoát. Đến cửa thứ 3, ông Kiên khấn, Mẹ tôi gieo mãi mà vẫn không thấy được (chỉ coi là “được” khi 2 đồng tiền kim loại cổ gieo phải 1 sấp, 1 ngửa). Mẹ tôi buồn nghĩ là bố tôi giận vì hôm người mất bà đi xuôi ! Tôi liền xin khấn và gieo. Quả nhiên là được, cả nhà thở phào nhẹ nhõm ! Nửa đêm thấy mọi người bảo ông này cao tay, muốn tổ chức “lên đồng”. Tôi từng thấy nhiều nhà tổ chức “lên đồng”, người ngồi đã lợi dụng mượn “giọng người đã mất” để nói xấu người này, khích bác người kia gây mối bất hoà trong gia tộc nên tôi không muốn. Nhưng nhiều người đề nghị quá. Tôi đành đồng ý, với điều kiện dâu trưởng (vợ tôi) ngồi đồng còn trưởng nam (tôi) cầm cành phan. Tôi đã dặn vợ tôi: nếu quả tình không biết gì mà “ông về nhập vào” thật thì không sao còn nếu tỉnh táo thì giả sử có bực ai cũng không được lợi dụng “mượn thế âm chửi, trách người dương”, vợ tôi đồng ý. Sau ngót 2 tiếng, ông Kiên và người trợ lế qua đủ mọi “ngón nghề” hết tụng kinh lại hát Chầu văn, mở băng bài Chúa Thượng ngàn..., mọi người “tấu lạy” hỏi gì vợ tôi (lúc đó được gọi là “Cô“) cũng không hề nói. Thày đành chịu, khi mọi người bỏ mâm và khăn trùm đầu ra vì mệt nên vợ tôi vật ngã.-Thực ra đó là hình thức “thôi miên”. Việc tôi ngồi “cầm cành phan” có “hiệu quả” hơn vì cành phan có “đảo và xoay tít” , ai cũng bảo “Cụ” đã về, nhận được lời cầu khấn (đảo phan) nhưng chưa muốn nói gì ! Tôi nghĩ đó cũng là cách giải toả tâm lí tốt.

Thực ra tôi đành mạn phép vong hồn Cha, Vong linh Tiên Tổ và các bậc Thần linh để “tung tiền xin âm dương”, “ngồi cầm cành phan” theo cách tự thôi miên, “tâm động quỷ thần tri” của mình để yên lòng người đang sống ! Chắc Cha, Tổ tiên, Thần linh cũng thấu hiểu. Sau này hồi tháng 2/1999 bên Ngoại tôi có làm “giải hạn” cho gia đình, nhưng không ai biết cầm cành phan nên cúng cả đêm không được, gây lo cho cả nhà và sau phải cúng laị tốn thêm 800 000 đ !

Trong vòng 100 ngày sau khi chết, âm hồn người chết vẫn còn luẩn quẩn quanh nhà, chưa đi xa nên có cúng cơm. Sau 100 ngày hồn đã bay xa nên làm lễ cúng hết 100 ngày (卒哭, tức lễ tốt khốc nghĩa là thôi khóc). Thường lễ 49 ngày làm lớn, có mời thầy hay sư đến cúng thì lễ 100 ngày thu hẹp hoặc ngược lại.

Sau lễ tốt khốc, thân nhân đã vượt qua 10 cửa ải dưới Địa phủ, linh hồn siêu thoát hoàn toàn. Từ đó con cháu không khóc nữa, thực sự “yên tâm” người khuất núi đã thoát hiểm! Do vậy thôi cúng cơm hàng ngày và cúng tuần nữa, người chết được thờ chung trên bàn thờ tổ tiên, câu đối và gian thờ cúng được dọn dẹp. Đúng 1 năm sau trước ngày mất 1 ngày làm giỗ đầu, chữ là tiểu tường (H: 小祥, A: The small mourning, P: Le petit deuil) năm sau nữa làm giỗ hết.

   Cũng trong khoảng 100 ngày này, mỗi khi có đám tang thì con cháu phải đi nhận mộ bằng cách lên thắp hương và hờ khóc trong suốt khoảng thời gian đám tang kia chôn cất. Họ cho rằng khi có một đám tang mới là âm phủ có một đám hội, hồn ma có thể mải chơi nơi đám hội này mà quên mất lối về cho nên phải hờ khóc để gọi hồn về đúng nhà cửa.

Bởi “Linh tại ngã, bất linh tại ngã” 靈在我不靈在我 hiểu nôm na là “linh thiêng là do mình mà không linh thiêng cũng do mình” mà ra cả, cốt ở cái Tâm! 

Đặc biệt chú ý chớ có mải mê tìm đất tốt bởi tốt với nhà này, chưa hẳn tốt với mình vì “Nhất Phúc, Nhì Mệnh, Tam Phong thủy” mà! Đồng thời chớ có tin thấy bói rằng “Mộ Tổ nhà X bị Mộ Tổ nhà Y trực chiếu” hay “cản” mà đang tâm tìm cách yểm bùa, đào, xê dịch mộ nguời hay tìm cách “khắc chế”, “đấu Phong thủy” theo luật Ngũ Hành (như đắp núi chế hồ, trồng cây hạn đồi, dùng rào sắt khắc rào tre...). Bởi “mình phụ ngươì là họa, nguời phụ mình là phúc” nên làm vậy chỉ hại thêm. Đó còn chưa nói đến việc “thầy” thấp tay không trị được tà ma hay bản thân thầy “hai mang” càng nguy!. Hơn nữa, tất cả  việc xem chỉ là yếu tố “Tâm linh”, để cháu con yên tâm hoàn tất việc báo hiếu chứ”Xương người chết sao cầu được Phúc”!. Cốt ở con cháu “Tâm thành tất linh ứng心誠必靈應, “Tiên tích Đức, hậu tầm Long先積德後尋龍 và xưa nay “Đức năng thắng số德攮勝數 cũng nhiều.

Nhớ lời thầy và tuân theo căn dặn của thân phụ khi còn sống, chúng tôi đã chấp hành theo nguyên tắc đó, Bố tôi tuổi Quý Hợi, mệnh Khôn - Thổ khi hung táng vào Thứ Tư 22/01/1997 (tức là ngày 14 tháng Chạp năm Bính Tí) do ông Kiên (người gốc Tiên Lãng, ở Xuân Quang) đặt mộ hướng Tây Bắc thuộc hướng Diên niên. Ngôi mộ này phía sau có Hậu chẩm là tựa vào Rùa đen (Huyền Quy) là dãy đồi nhà anh Mão; trước mặt có Minh đường là Phượng hoàng đỏ thấp hơn như cái ghế để chân là quả đồi thuộc Cốc Sâm; bên trái có Rồng xanh (tả Thanh Long) là dãy đồi hồi nhà ông Sơn nằm cao hơn; bên phải có Hổ trắng (hữu Bạch Hổ) là dãy đồi thấp kế tiếp núi Cốc Sâm. Xa hơn có dòng nước chẩy và con đường vào xóm coi như huyết mạch của đất. Đến khi thực hiện việc cải táng di hài thân phụ, tôi giao cho chú Luân chọn một điểm tại Nghĩa trang km36 thôn An Phong xã Phong Niên và làm việc với Thôn, Xã về việc cấp đất. Sau anh em đã kiểm tra lại, thấy thoáng đáng, đủ thực hiện được nguyên tắc “chiêu mục”, tiện đường.

Hướng mộ là hướng mà khi người nằm dưới đó ngồi dậy nhìn thấy. Theo nguyên tắc ”trần sao âm vậy” việc chọn hướng cần dựa vào mệnh người nằm dưới mộ và tránh hướng Tuyệt mệnh, Hoa hại. Khi nhờ cụ Luận (ở Duyên Hải, thị xã Lào Cai) tính, Cụ nói đặt hướng Tây (khi ngồi dậy nhìn thấy mặt trời lặn), có nghĩa là đầu quay hướng Đông. Theo Thuật Phong Thuỷ thì đây là hướng Mão  là hướng thành công và phồn vinh. Tôi đã thực hiện đúng vì khi tự nghiên cứu thấy đó là hướng Thiên y, hơi chệch lên Bắc sẽ là Diên niên, ghé xuống Nam sẽ là Phúc đức đều là hướng lành với tuổi Cha.

Trường hợp các gia đình quy tập mộ người thân trong một khu thì việc xác định hướng là theo mệnh của người gia trưởng, những thành viên khác sắp xếp theo thứ tự “Tả chiêu hữu mục” 左昭右穆: các đời lẻ về bên tay Trái - hướng Đông, đời chẵn về bên Phải-hướng Tây. Trong bàn đồ thờ Cửu Huyền Thất Tổ cũng sắp xếp Bài vị hay ảnh theo nguyên tắc này. Dịp này gia đình thống nhất đưa mộ bà Nội tôi (mất ngày 22/12/1982, cải táng năm 1986, đặt ngay cạnh mỏm đá, gần giữa cửa nhà gia đình tôi trong xóm) ra. Vì qui tập nên phải theo cùng hướng với mộ thân phụ tôi, đặt ở bên tay Trái mộ này.

Mẹ đẻ tôi, Cụ bà Phạm Thị Uyển (hiệu Diệu Canh) sinh năm Canh Thân 1920 tạ thế lúc 6 giờ 10 phút sáng ngày Thứ Bẩy 23/05/2026 (tức là ngày 07 tháng Tư năm Bính Ngọ); Cát táng sau Hỏa táng, đặt tại nghĩa địa nhân dân xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai từ ngày 09/4/2026 (tức 09 tháng Tư năm Bính Ngọ).

 Dù đã tìm được Cát địa nhưng nếu chôn nhầm ngày thì coi như “đem thi thể vứt đi” chứ đâu phải mai táng nên hậu quả khôn lường. Do vậy việc tính ngày giờ trong chôn cất (hung táng) và khi cải mộ (cát táng) rất quan trọng. Chưa biết hiệu quả thế nào nhưng cứ để cho lòng người vững là tốt.

Chung : Không phô trương cầu kỳ, nhưng không tủn mủn kiểu nhà neo và hoa hoè kiểu trọc phú, cần phù hợp, hài hòa với xung quanh.

Được Mẹ đồng ý, lúc đầu tôi định đưa cả hài cốt vợ chồng Chú Thím Rật-Bính về đây nhưng chị em Dưỡng - Tràng chưa thống nhất được, nên tôi không dám ép, chỉ tính cả phần đất mai kia giành cho mẫu thân.

Phần Lương tộc chi mộ  này có kích thước 4, 5 x 3 m được xây tường bao, đầu các ngôi mộ quay hướng Đông (hướng Mão). Mộ Đệ Ngũ Tổ Tỉ xây mái nhọn trên có gắn Rồng chầu mặt nguyệt, tấm dựng gắn ảnh (chụp 1982). Mộ đệ Lục Đại Tổ mái uốn vòm, tấm dựng gắn ảnh, hai bên có đôi câu đối khắc trên đá của LĐM ghi bằng chữ Quốc ngữ:

CÔNG CAO MỞ ĐẤT LƯU HU TH;

ĐỨC C RÈN CON RNG TỔ TÔNG.

Sau tháng 7/2026 khi làm mộ đá cho Mẹ tôi ch khắc đôi Câu đối (chữ Quốc ngữ) là:

CÔNG SINH THÀNH NGÀN NĂM LUÔN NHỚ;

NGHĨA DƯỠNG DỤC MUÔN THUỞ CHẲNG QUÊN.

  Chính giữa tường phía sau có bàn thờ với bức hoành phí gồm cả chữ Nho 克昌厥後 (KHẮC XƯƠNG QUYẾT HẬU) và dịch nghĩa: (Thịnh vượng cho đời sau). Sau này, vào ngày 5/12/2009 (tức là ngày 10/11 Kỷ Sửu), có nhà xây mộ xung đối với mộ Cha, tôi đã cho bịt cửa giữa và mở cửa nách để vào mà không làm các động tác “đôi co” hay “đấu phong thủy” như có người từng khuyên!. Tại cửa chính vừa xây kín phía trên ghép bức bằng đá khắc chữ Việt chữ Hán: “LƯƠNG TỘC CHI MỘ (Đệ Ngũ và Đệ Lục đại), 阴德不忘 ÂM ĐỨC BẤT VONG” và hai bên đặt đôi câu đối Quốc ngữ:

PHÙ HỘ VỮNG BỀN MIÊU DUỆ;

NGUYỆN CẦU VĨNH VIỄN ÂM PHẦN.

Chọn mầu gạch: Xưa kia khi cải sẽ đắp mộ tròn. Sau này xây hình dài hoặc tròn tùy gia chủ nhưng ững n phần dài. Hiện nay việc quét vôi các ngôi mộ xây đã giảm, đa phần là ốp gạch. Vào những năm 2024 trở đi đua nhau “làm mộ Đá”. Việc chọn mầu gạch, kiểu Mộ,…cũng theo nguyên tắc sinh vượng của Ngũ hành, Bát quái. Khi xây mộ phụ thân, tôi chọn gạch ốp là mầu Hồng (sinh vượng cho mệnh Thổ) Còn phần mộ của Bà nội và Mẹ tôi, chúng tôi không xem hướng, chọn mầu gạch nữa!.

-Lương Đức Mến, Chép và soạn lại vào dịp Nghỉ Tết Độc lập 02/9/2023-



[1] Cách chép Gia phả này thuận cho đời sau chép tiếp là biết được cụ nào khai sinh ra dòng họ thì xếp là Đời thứ Nhất (Đệ Nhất đại tổ 第一代祖), các Thế hệ sau chép thứ tự là Đời thứ Hai, thứ Ba… Với các cụ Tổ xa đời hơn về trước nên ghi như sau:

 Nguyên Tổ 元祖 là Đức Tổ đầu tiên nhất sinh ra những người chung một họ trong một nước. Ví dụ Hồ Hưng Dật được suy tôn là Đức Nguyên Tổ họ Hồ Việt Nam, Hùng Vương là Nam bang Triệu tổ 南邦肇祖.

Thuỷ Tổ 始祖 (hay Sơ tổ 初祖, Triệu tổ 肇祖, Tị tổ 鼻祖): Ông tổ, vị tổ đầu tiên của một họ. Ví dụ một số dòng họ Lương ở miền Bắc suy tôn Cụ Lương Đắc Bằng là Thuỷ Tổ.

Thượng Tổ 尚祖: là Cụ Tổ sinh ra Đệ Nhất đại Tổ (biết tên, tuổi, lịch sử, công trạng, mồ mả được ghi trong gia phả) mà dòng họ ở khu vực đang thờ phụng. Ví dụ Lương Công Trạch được suy tôn là Thượng Tổ 上祖梁公宅 của họ Lương xã Chiến Thắng, Hải Phòng còn con trai cụ là Lương Công Nghệ là Đệ Nhất đại Tổ 第一代祖梁公羿.

Các vị Tổ Chi theo thứ bậc anh em mà gọi là Tổ Chi Nhất, Chi Nhị…. Ví dụ: Tổ Chi thứ Nhất: Lương Công Tuấn 第一宗枝 梁公俊; Tổ Chi thứ Nhì: Lương Công Chiêu 第二宗枝 梁公昭; Tổ Chi thứ Ba : Lương Công Tú  第三宗枝 梁公秀; Tổ Chi thứ Tư: Lương Công Thiệu: 第四宗枝 梁公劭; Tổ Chi thứ Năm: Lương Công Linh: 第五宗枝 梁公怜.

[2] Khi khấn cúng Phụ gọi là “Hiển khảo” (顯考, cụ ông tôn kính), Mẫu là “Hiển tỉ”  (顯妣, cụ bà tôn kính).

[3] Trong hệ thống âm Hán Việt không có phụ âm đầu “r”!

[4] Chồng chị là anh Nguyễn Văn Thanh (con trai còn lại duy nhất của cô ruột tôi là Lương Thị Thị với bác Nguyễn Văn Khuể vốn người Lang Thượng, Mĩ Đức, An Lão, Hải Phòng).

[5] là con gái cả trong số 5 trai, 3 gái của ông Đa. Ông là người xã Tiên Thắng, huyện Tiên Lãng đã từng lên khai hoang ở Soi Chát, Sơn Hải từ 1965 đến cuối 1974 đưa cả gia đình về lại quê bằng một chuyến bè xuôi sông Hồng. Khi đó anh chị Thanh - Đê đã cưới nhau nên ở lại. Anh chị sinh 5 con, các cháu đều ít được học hành và đều đã xây dựng gia đình, làm ruộng quanh quẩn tại Soi Chát, xã Sơn Hải. Riêng cháu gái duy nhất lại lấy chồng và sinh sống ở Xuân Quang cùng huyện.

[6] Nếu chị tuổi Tị và ngày sinh là ngày âm lịch thì vô lý bởi năm Quý Tị vào tháng Giêng không có ngày 30, ngày cuối tháng là ngày 29 tháng Giêng, tức 14/3/1953 (có Bát tự là: xx, Giáp Tý, Giáp Dần, Quý Tị) và vào thứ Bẩy.

[7] Thực ra không hề có « năm 1964 âm » và tuổi (âm lịch) = Năm hiện tại (DL) - Năm sinh (DL) + 1.

[8] Cháu quê ở Nam Đinh, sinh năm 1977 đang là Phó Chi nhánh điện SiMaCai, mất do Ung thư Vòm họng. Vợ vừa đẻ con trai thứ hai được 1 tháng rưỡi, em gái vợ là Thủy vừa cưới được 3 ngày.

[9] Lương Thị Sinh là con gái thứ hai của chú ruột tôi. Từng là giáo viên dạy ở xã Bản Mế, huyện Bắc Hà (nay thuộc SiMaCai) sau bỏ việc. Trong một chuyến đi xe khách từ Phong Niên lên Bắc Hà, Sinh  bị rơi từ bậc tháng trên nóc xe khách  xuống và chết (ngày 19/4/1994, tức 09/3 Giáp Tuất). Sau hơn 100 ngày (26/6, tức 03/8) chông Sinh là Hoàng Công Phú (Chi cục trưởng chi cục Thuế Bắc Hà) cũng mất vì Xuất huyết não.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Xác định Ngũ hành của chữ Hán

Bài Khảo luận về "NGUỒN GỐC HỌ LƯƠNG"

Câu đối mừng Đám Cưới