Bài đăng

SỚ và VĂN KHẤN Táo quân Ất Mùi 2015

Hình ảnh
1. Sớ Táo quân 2015 : Nghe rằng : Trời cao đức lớn, quản mọi việc đời, Giúp kẻ lòng thành, nhiệt tâm mọi cõi. Vậy nhân : Giáp Ngọ sắp qua, Ất Mùi đang đến. Theo kỳ, đến hẹn, Thay mặt Lương gia, Sắp sửa lễ nghi, Dâng lên thành thật: Tóm lược tất tật, Chuyện năm Giáp Ngọ, Chép ra đầy đủ, Nhờ Táo Gia đình, Bay thẳng Thiên cung, Trước sau trình tấu. Sớ rằng : Vượt mọi khó khăn, Gia tộc thảo dân, Trong một năm qua, Đã nhiều nỗ lực. Tiến bộ vượt bực, Là chuyện của thần: Hưu việc cơ quan, Về sinh hoạt tổ. Thêm niềm vui nữa: Gái trai chuyên cần Vượt mọi khó khăn, Xây đời no đủ. Noi theo tiên tổ, Các cháu nêu gương: Trọng Sinh, Hải Thương, Đã xong Cao học; Dẫu còn khó nhọc, Gái chuyển Chung cư; Dâu luôn gắng cố, Trai đi cơ sở; Thêm một ngoại trai, Hay ăn chóng lớn. Thuận gặp tai nạn, Bước đầu đã qua. Nguyệt đã đơm hoa, Làm ăn ổn định. Hiếu vào Đại học, Bố cháu khỏe hơn. Còn mấy cháu nhỏ,...

Văn khấn THỔ CÔNG, THẦN LINH và GIA TIÊN trong NGÀY GIỖ CHA

Hình ảnh
Nam Mô A Di Đà Phật! ( 3 lần ) Tín chủ con Kính lạy : Chín phương Trời, Năm phương Đất, Chư Phật mười phương; Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần; Đương Giáp Ngọ niên Chí đức Tôn thần: Chương Thành Đại tướng Quân; Đương niên chi Thần: Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao chi Thần, Nhân Tào Phán quan; các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân: Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân, Thổ địa Long mạch Tôn thần, Ngũ phương, Ngũ Thổ, Phúc đức Chính thần và Chư vị thần linh cai quản xứ An Phong. Trưởng Nam Lương gia Kính lạy : Hương linh Hiển khảo Lương Đức Thân; Kính lạy Tằng tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ; Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh; Tổ cô: Lương Thị Mẹt; Tổ khảo: Lương Đức Trính, Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ, Con : Lương Đức Mến tuổi Ất Mùi, SN 1955; Là Trưởng Nam của Lương gia gốc Phương Hạ, Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng, ...

Kiêng kị theo BÁCH KỊ CA của BÀNH TỔ

Hình ảnh
Xưa nay dân gian cho rằng vào những ngày “đại hung” nhiều việc không nên làm. Nếu cố tình làm hoặc vô tình mà tiến hành thì sẽ gặp xui xẻo: “ Tác sự cầu mưu định bất xương, Nghinh thân giá thú rã uyên ương, Xây nhà dựng cửa giảm nhân đinh, Viễn du phó nhậm bất hồi hương ”. Những kiêng kị đó, nằm trong bài “Bách kị ca” 百忌謌 tương truyền là của Bành Tổ 彭祖 . Sưu tầm, chép lại, dịch nghĩa để tham khảo: 1. Theo THẬP THIÊN CAN 十个日名用十天干表示 HÁN TỰ PHIÊN ÂM DỊCH NGHĨA 甲不 开仓, 财物耗亡 GIÁP bất khai thương tài vật hao vong Ngày Can Giáp không nên mở kho, tiền của hao mất 乙不栽植, 千株不长 ẤT bất tải thực thiên chu bất trưởng Ngày Can Ất không nên gieo trồng, ngàn gốc không lên 丙不修灶, 必 见火殃 BÍNH bất tu táo tất kiến hỏa ương Ngày Can Bính không nên sửa bếp, sẽ bị hỏa tai 丁不剃头, 头主生疮 ĐINH bất thế đầu đầu chủ sanh sang Ngày Can Đinh không nên cắt tóc, đầu sinh ra nhọt 戊不受田, 田主不祥 MẬU bất thụ điền điền...