Bài đăng

Cháu con kế nghiệp mở mang

Hình ảnh
Sắp đến ngày 19/5, ngày chính kị của Nội tổ ngẫm lại từ “một gánh bên nồi bên con” vượt Văn Úc sang Cao Mật đến nay, hơn 300 năm đến nay dòng họ càng “đông đàn dài lũ”, ngoài 192 đinh quê gốc ở Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng, hậu duệ Tổ đã lan ra sống cả khắp mọi miền: Bắc-Trung-Nam,Đồng bằng-Miền núi, Thành thị-Nông thôn, trong nước-ngoài nước. Từ nghề Nông của Tổ nay con cháu làm đủ mọi nghề để sinh sống và đóng góp cho xã hội, thực hiện việc họ. Tính từ khi Tổ sang khởi nghiệp bên bến sông Văn Úc, sinh 6 trai ( Lẫm, Tuấn, Chiêu, Tú, Thiệu, Linh ) và 3 gái, đến 2011 đã có đến đời thứ 11 là hậu duệ các Cụ: Tuấn, Tú, Thiệu, Linh. Ban đầu, tại Cao Mật, con cháu vẫn giữ là Lương Công đến đời thứ 3 chi 1, 2, 4 đổi thành Lương Đức 梁德 , chi còn lại đổi: Lương Hoàn 梁完 [1] . Cuối những năm 1980, trong Danh sách....các chi nhánh đều chép là Lương Công [2] nhưng hồ sơ cá nhân con cháu vẫn ghi theo Tổ Chi. Chiến Thắng vốn nhiều họ và tuy cùng tộc danh nhưng chưa chắc đã cùng Thuỷ tổ. Ví...

Vùng quê Tiên Lãng đượm hương thuốc lào

Hình ảnh
Tiên Minh trongĐôồng Kánh điịa dư chí ( Phiên âm của tôi ) Gần đây “Tiên Lãng” khá nổi danh bởi sự kiện cưỡng chế nhà trông đầm nuôi tôm của anh Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang. Nhưng với tôi huyện này là một nơi mà Tổ tiên tôi từng dừng chân trước khi có một nhánh sang An Lão và Vinh Quang ( xã Thái Bình xưa ) cũng có một nhánh họ Lương khá đông.  1. Vùng đất đón Bình minh trước nhất . Tiên Lãng là vùng đất cổ có địa danh trên 700 năm. Thời Lý, Trần vùng đất này và Thanh Hà ( thuộc Hải Dương ) ngày nay có tên là Xứ Bàng La 旁罗处 . Thế kỷ XIV đổi thành huyện Bình Hà 平河 thuộc châu Nam Sách 南索 . Vào năm Quang Thuận thứ nhất ( 光順元年 , 1460 ) Lê Thánh Tông đã tách thành hai huyện Tân Minh 新明縣 và Bình Hà ( nay là Thanh Hà ) thuộc Phủ Nam Sách. Năm 1600 do kiêng húy Vua Lê Kính Tông ( 黎敬宗 , 1588 – 1619 ) là Duy Tân 維新 nên Tân Minh đổi thành Tiên Minh 先明 縣 thuộc trấn Hải Dương 海陽 鎭 . Năm 1884 do phạm húy Vua Hàm Nghi ( 咸宜, 1871-1943) ...

Xác định Ngũ hành của chữ Hán

Hình ảnh
Khi đặt tên cho con, bói tên, xem ngày…rất cần đến việc xác định Ngũ hành của chữ chỉ sự vật, hiện tượng, danh tính. Mà phải là xác định với chữ Hán. Nhưng xem ra không dễ bởi mỗi tài liệu nói một khác, lại còn chữ Phồn thể khác với Giản thể…. Đi sâu vào tìm hiểu tựu trung lại cũng có vài phương pháp khả dĩ người bình thuờng cũng có thể áp dụng được. 1.      Dựa vào âm Hán Việt của chữ : - Thuộc Kim: là các chữ có phụ âm đầu là: S,  X,  Nh,  Ch,  Th,  T…; - Thuộc Mộc: là các chữ có phụ âm đầu là: K,  Kh,  H,  C,  N,  Q…; - Thuộc Thủy: là các chữ có phụ âm đầu là: Ph,  H,  B,  V…; - Thuộc Hỏa: là các chữ có phụ âm đầu là: L,  Đ,  N…; Kiểm lại cũng khó và nhiều chữ thuộc cả 2 hành hoặc có chữ chả biết xếp vào đâu! 2. Dựa vào tổng số nét của chữ : Σ = 1, 2, 11, 12, 21, 22,.... có ngũ hành thuộc Mộc Σ = 3, 4, 13, 14, 23, 24,.... có ngũ hành thuộc Hỏa Σ = 5, 6, 15, 16, 2...