Bài đăng

Kỷ niệm 20 năm ngày mất của cô Lương Thị Thị (06/Giêng Nhâm Thân)

Thời giờ vùn vụt đưa trôi, Vắng Cô nay đã Hai mươi năm tròn. Hải Phòng, cũng như đa phần các tỉnh đồng bằng Bắc bộ chị và em bố đều gọi bằng “cô”. Do vậy chị gái ruột bố tôi, Lương Thị Thị, sinh năm Giáp Dần, Duy Tân thứ 8 (1914) chúng tôi gọi bằng “cô” từ quê và lên Lào Cai cũng không đổi, mặc dù nhiều người cười và không hiểu. Lai lịch và đường chồng con của cô tôi đã chép  trong Gia phả ở Đời thứ Sáu . Nhân Kỷ niệm ngày mất lần thứ 20 của Cô, tôi chép thêm vài chuyện. Thứ Nhất, về cái Tên: Lương Thị Thị nhưng chính các con cô do ít học, lại không ai chỉ dẫn cụ thể nên cứ ngỡ cô tên là Thi. Hôm con dâu của cô là chị Nguyễn Thị Đê mất ( 21/3/2011, tức 17/02 Tân Mão ), khi đưa đám ra mộ ở nghĩa trang thôn, anh em tôi mới phát hiện ra việc khắc sai tên cô trên bia mộ. Bên nội anh Thanh ( tức Tầu, con trai cô ) còn lý sự: “Thị chỉ là chữ đệm, ai lại hai chữ Thị Thị liền bao giờ”. Lúc đó tôi mới bảo: chữ Thị thứ nhất chỉ tên lót ghi bằng chữ Nho là 氏 , với nghĩa “đàn bà, phụ nữ” cò...

Hóa vàng và Văn khấn Lễ Hóa vàng Tết Nhâm Thìn 2012

Hình ảnh
Theo quy luật, cái gì có mở đầu cũng có kết thúc. Tết cũng vậy và kết thúc Tết người Việt làm Lễ Hóa vàng. Lễ này được gọi là Lễ tạ hay còn gọi là Tết Khai hạ. Đây chính là ngày làm lễ dâng hương “bế mạc” dịp Tết Nguyên Đán để mọi người tiếp tục công việc thường ngày. Gia đình nào cũng thế, năm nào cũng vậy, chỉ khác nhau ở việc chọn ngày và văn khấn. 1. Việc định ngày: Theo cổ truyền thì Hóa vàng thường được tiến hành vào sau ngày Mồng Ba và trước ngày Khai hạ ( 07/Giêng ) bởi trong các ngày quan trọng của Tết Nguyên Đán thì "mồng 3 Tết thầy" nên con cháu vẫn muốn để Tổ tiên vẫn ở lại ăn Tết cùng gia đình, đợi đến mồng 4 hay mồng 5 mới là ngày tiễn Vong linh các Cụ về cõi vĩnh hằng. Khi Hóa vàng tiễn các Cụ xong là mỗi người mới có cảm giác hết Tết, quét dọn nhà cửa ( tục xưa kiêng quét nhà, đổ rác 3 ngày Tết ), bắt đầu việc lao động, sản xuất, kinh hoanh, học tập, công tác với hy vọng lòng thành của mình được Tổ tiên chứng giám và phù hộ cho mọi việc hanh thông. Ngày nay T...

Mong ước năm Thìn

Hình ảnh
Gọi là Khai bút đầu Xuân , Mượn Lốc xin post mấy vần ước mong. Bước sang năm mới con Rồng, Mong: sớm có cháu bế bồng, à ơi. Quanh năm rộn rã tiếng cười, KHANG, NINH, PHÚC, LỘC dồi dào toàn gia. Mong: giữ chữ THỌ mẹ già, Duyên mình Tam lục mặn mà gương trong. Các con mãi một chữ “đồng”, Thêm NGƯỜI , thêm CỦA , Hanh thông mọi bề. * Một chút lệ cũ giữ lề, Xuân về “Khai bút” ước mơ chép vào. (Sau Giao thừa Tân Mão – Nhâm Thìn, cùng toàn gia đi xin Lộc ở Đền Thượng về)

Tìm hiểu về Tết Nguyên Đán

Hình ảnh
Là người Việt, dù theo tôn giáo, có hay không theo tôn giáo nào, dù làm việc ở lĩnh vực nào đều háo hức chờ đón và có nhiều kỷ niệm về Tết. Cái Tết đó là Tết Ta, Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Cả, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền. 1. Về ngữ nghĩa và tính chất : Tuy gọi là Tết Ta để phân biệt với Tết Tây, tức Tết Dương lịch, nhưng thực ra đây là cái Tết mà người Việt theo ảnh hưởng văn hóa của Tết Nguyên Đán Trung Hoa. - Chữ “Tết” do chữ “Tiết” 節 đọc trại mà thành. Từ 節 này trong 24 Tiết khí 二十四節氣 một năm có nghĩa là ngày kỷ niệm. - Nguyên Đán (H: 元旦 - 元日 , A: The first day of the lunar year , P: Le premier jour de l'année lunaire ) trong đó “Nguyên” là khởi đầu, thứ nhất, sơ khởi hay to lớn còn “Đán” là buổi sáng sớm và “Nhật” là ngày. Lại bởi tháng có ngày đầu năm gọi là Nguyên Nguyệt 元月 nên Nguyên Đán, đồng nghĩa Nguyên Nhật, là ngày đầu tiên của năm âm lịch, tức là ngày mùng 1 tháng Giêng âm lịch. Đồng thời “Đán” có nghĩa là trọn vẹn. Vì thế, Nguyên Đán mang một hàm nghĩa rất nhâ...

Nhớ lại ngày Cưới cách đây 30 năm

Ngày 28 tháng Chạp năm Tân Dậu, tức Thứ Sáu 22/01/1982 là ngày tổ chức Lễ Thành hôn của tôi và Phạm Thị Mến. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã 30 năm. Biết bao buồn vui, cơ cực và vinh quang đã trải qua. Nghĩ lại mà thấy nao lòng. 1. “Ăn hỏi và dẫn lễ”:   Chỉ còn ít hôm nữa là Tết 1982 (Nhâm Tuất) nhưng vì công việc không xin phép nghỉ được. Việc xác minh Lí lịch của PTM, Lưu Long làm đã xong, Phòng Tổ chức duyệt hôm 23 Tết. Riêng chuyện “ra mắt” và báo cáo gia đình thì chưa làm được. Mãi Thứ Ba 19/01/1982 (25 Tết) cả 2 chúng tôi mới được nghỉ. Hai đứa không kịp sắm gì, chỉ báo cáo nhanh với cơ quan 2 bên rồi ngược tầu về ngay. Trên tầu gặp Nguyễn Bá Hanh (học cùng tôi năm cấp II, lấy Vân là con gái thầy Nhẫn. Năm 1988 chuyển vào Lâm Đồng) tôi viết thư về nhà nói ý định cưới và “phân công” trách nhiệm cho gia đình và các em. Tôi và HM xuống ga Lu đi tiếp lên Gia Phú. Đến Bến Đền đã 10 giờ đêm.  Khi đó gia đình còn ở tạm trong lán nương trong lòng hồ Chính Tiến, lần mò mãi, gần...