CHUẨN BỊ CHO RẰM THÁNG BẨY NĂM NAY (2026)

I.                CHỌN NGAỲ;

 I.                CHỌN NGAỲ;

 Rằm tháng 7 năm 2026 rơi vào thứ Năm (27/8 dương lịch). Theo chuyên gia phong thủy, các gia đình không nhất thiết phải chờ đến đúng ngày Rằm mới làm lễ mà có thể cúng sớm từ ngày 11 đến 15 tháng 7 âm lịch, miễn phù hợp với điều kiện và giữ sự thành tâm. Khi đó nên ưu tiên xem tuổi của trạch chủ. Trong quan niệm phong thủy, yếu tố Thiên Can được xem xét trước Địa Chi vì được cho là có mức độ ảnh hưởng mạnh hơn.

Ngày giờ đẹp cúng Rằm tháng 7 năm 2026

Chủ nhật 23/8 (11/7 âm lịch). Đây là ngày Kỷ Tỵ, tháng Bính Thân.

Những tuổi nên tránh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi, Dậu và người mang Thiên Can Quý (các năm sinh 1943, 1953, 1963, 1973, 1983, 1993, 2003, 2013).

Khung giờ được gợi ý: 7h - 9h (giờ Thìn), 9h - 11h (giờ Tỵ), 13h - 15h (giờ Mùi).

Thứ Hai 24/8 (12/7 âm lịch). Ngày Canh Ngọ, tháng Bính Thân.

Tuổi nên tránh: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Thân và người mang Thiên Can Giáp (1944, 1954, 1964, 1974, 1984, 1994, 2004, 2014).

Giờ đẹp: 5h - 7h (giờ Mão), 7h - 9h (giờ Thìn), 15h - 17h (giờ Thân), 17h - 19h (giờ Dậu).

Thứ Ba 25/8 (13/7 âm lịch). Ngày Tân Mùi, tháng Bính Thân.

Tuổi nên tránh: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Hợi và người mang Thiên Can Ất (1945, 1955, 1965, 1975, 1985, 1995, 2005, 2015). Ví dụ gia đình tôi (Tôi sinh Ất Mùi 1955)

Khung giờ phù hợp: 5h - 7h (giờ Mão), 9h - 11h (giờ Tỵ), 15h - 17h (giờ Thân).

Thứ Tư 26/8 (14/7 âm lịch). Đây là ngày Nhâm Thân.

Tuổi nên tránh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi và người mang Thiên Can Bính (1946, 1956, 1966, 1976, 1986, 1996, 2006). Tôi chọn ngày này.

Giờ được gợi ý: 7h - 9h (giờ Thìn), 9h - 11h (giờ Tỵ), 13h - 15h (giờ Mùi), 17h - 19h (giờ Dậu).

Thứ Năm 27/8 (15/7 âm lịch) – Ngày chính Rằm tháng 7. Ngày Quý Dậu, cũng là ngày Rằm tháng 7 năm 2026.

Tuổi nên tránh: Tý, Ngọ, Mão, Dậu và người mang Thiên Can Đinh (1947, 1957, 1967, 1977, 1987, 1997, 2007).

Các khung giờ phù hợp: 5h - 7h (giờ Mão), 9h - 11h (giờ Tỵ), 13h - 15h (giờ Mùi).

Ngày và các khung giờ trên chỉ mang tính tham khảo. Có thể linh hoạt sắp xếp thời gian phù hợp với điều kiện của gia đình. Điều quan trọng nhất là chuẩn bị lễ vật chu đáo, giữ sự thành kính và thực hiện nghi lễ theo phong tục của mỗi nhà.

 (Theo Thời trang vàng)

II. MÃ BIẾU

Với quan niệm “của biếu phải có địa chỉ cụ thể” nên tôi gắn họ tên, địa chỉ cụ thể vào trong từng “mã” và sẽ thực hiện việc “hóa biếu” trong ngày hôm nay, thứ Tư ngày 26/8/2026 - Ngày 14/7 âm lịch (Nhâm Thân) tại nhà mẫu thân ở xóm An Phong, thôn An Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. 

Đây không phải việc kể công mà chỉ là xuất phát từ yếu tố tâm linh mong đến được nơi cần đến, tới được người đáng nhận.

 

Đệ tứ đại Tổ: LƯƠNG ĐỨC TRINH

an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân thôn Phương Hạ, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

 

Đệ tứ Tổ Tỉ: NGUYỄN THỊ LỀ

an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân thôn Phương Hạ, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

Đệ Ngũ đại: LƯƠNG ĐỨC QUÝNH

an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân thôn Phương Hạ, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

 

Đệ Ngũ đại : LƯƠNG THỊ HUÂN

an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân thôn Phương Hạ, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

Đệ Ngũ đại Tổ: LƯƠNG ĐỨC TRÍNH

an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân thôn Phương Hạ, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

 

Đệ Ngũ Tổ Tỉ: ĐẶNG THỊ CHỈ

an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân km 36 An Phong, thôn An Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Đệ Lục đại, Hiển khảo:

 LƯƠNG ĐỨC THÂN

an nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân km 36 thôn An Hồ, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

 

Tổ cô: LƯƠNG THỊ MẸT

an nghỉ tại nơi đâu không tường thuộc địa phận xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

Đệ Lục đại, Hiển tỷ

PHẠM THỊ UYỂN

Tạ thế 23/5/2026 nhàm 07/4 Bính Ngọ.

An nghỉ tại Nghĩa trang nhân dân km 36  xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai

Hiển huynh: LƯƠNG ĐỨC DẠI LỚN

an nghỉ tại nơi đâu không tường thuộc địa phận xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

 

Hiển huynh: LƯƠNG ĐỨC DẠI BÉ

an nghỉ tại nơi đâu không tường thuộc địa phận xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

Hiển tỉ: LƯƠNG THỊ DẠI LỚN

an nghỉ tại nơi đâu không tường thuộc địa phận xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

 

Hiển Tỉ: LƯƠNG THỊ DẠI BÉ

an nghỉ tại nơi đâu không tường thuộc địa phận xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

-Lương Đức Mến cung soạn, ngày 13/7/Nhâm Dần-

III. VĂN KHẤN

3,1.VĂN KHẤN NGOÀI MỘ

Con kính lạy:

- Chín phương trời, Năm phương Đất, Mười phương chư Phật;

- Ngài Đương cai Chí đức Tôn thần: Văn Triết Đại tướng quân; Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao Hành Binh chi Thần, Nhân Tào Phán quan; năm Bính Ngọ;

- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, Long mạch Tôn thần cai quản xứ này.

- Các ngài: Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ; Quan Dẫn hồn Sứ giả Ngũ đạo Tướng quân, quan Đường xứ Thổ địa Chính thần cùng liệt vị tôn thần cai quản  trong xứ này;

Kính lạy hương linh Tổ tỉ Đặng Thị Chỉ, Hiển khảo Lương Đức Thân, Hiển tỷ Phạm Thị Uyển.

Hôm nay, ngày 26/8/2026 - Ngày 14/7 âm lịch (Nhâm Thân) , nhân tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh,

Tại: Nghĩa địa km36 xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai,

Tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955, hiện cư ngụ tại SN 328 đường Hoàng Liên thuộc Tổ 14 cũ nay là Tổ 23, P. Lào Cai, tỉnh Lào Cai cùng anh em, vợ con và các cháu sinh sống tại tỉnh Lào Cai

Sắm sửa phẩm vật, hương hoa phù tửu,

Trình cáo chư vị Tôn Thần cầu xin phù trợ giúp đỡ cho Hương linh của người được Cát táng nơi đây là:

- Tổ Tỉ Đặng Thị Chỉ hiệu Diệu Cầm sinh năm Canh Dần 1890 tại bản quán, tạ thế 22/12/1982 (tức là ngày 08 tháng Mười Một Nhâm Tuất); Mộ phần đã quy tập trong Lương Đức mộ viên từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ)

- Hiển khảo Lương Đức Thân (hiệu…….) sinh năm Quý Hợi 1922, tạ thế lúc 2 giờ 5 phút sáng ngày Thứ Ba 21/01/1997 (tức là ngày 13 tháng Chạp năm Bính Tí); Cát táng, đặt tại nghĩa địa nhân dân thôn An Phong, xã Xuân Quang (xã Phong Niên huyện Bảo Thắng cũ), tỉnh Lào Cai từ ngày 20/12/2001 (tức 06 tháng Mười Một Tân Tỵ).

Hiển tỷ Phạm Thị Uyển (hiệu Diệu Canh) sinh năm Canh Thân 1920 tạ thế lúc 6 giờ 10 phút sáng ngày Thứ Bẩy 23/05/2026 (tức là ngày 07 tháng Tư năm Bính Ngọ); Cát táng sau Hỏa táng, đặt tại nghĩa địa nhân dân xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai từ ngày 09/4/2026 (tức 09 tháng Tư năm Bính Ngọ).

 luôn vững chắc mộ phần, yên ổn cốt xương, siêu thoát vong hồn.

Đồng xin các quan ngài mở lượng hải hà, quan Sứ giả dẫn đường, bố cáo cho mọi nơi biết, không ai ngăn cản để vong hồn được nhận lĩnh lễ vật an ổn ở nơi mộ phần, khiến cho vong âm, người dương đều được hưởng phúc lạc;

Lại xin đưa vong hồn về trước gia đường, đón Lễ Vu Lan, để con cháu phụng sự trong tiết Trung nguyên, báo đáp thâm ân, tỏ lòng hiếu kính.

Âm dương cách trở, bát nước nén hương, tâm nguyện lòng thành, lễ bạc tiến dâng, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì như lời nguyện ước.

3.2.VĂN KHẤN THẦN LINH, TỔ TIÊN (trong nhà)

Hôm nay, ngày 26/8/2026 - Ngày 14/7 âm lịch (Nhâm Thân), vào năm thứ 81 của nước CHXHCN Việt Nam, nhân tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh,

Tại Gia từ ở xóm An Phong, thôn An Hồ, xã Xuân Quang, tỉnh Lào Cai,

Tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955, hiện cư ngụ tại SN 328 đường Hoàng Liên thuộc Tổ 14 cũ nay là Tổ 23, P. Lào Cai, tỉnh Lào Cai cùng anh em, vợ con và các cháu sinh sống tại tỉnh Lào Cai

Trong tuần Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân kết cùng cúng cô hồn chúng sinh, tín chủ chúng con tâm thành muôn lạy, kính thỉnh:

- Hoàng Thiên Hậu Thổ Chư vị Tôn thần;

- Chư Phật mười phương, Ba ngôi Tam Bảo; Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, A Nan Đà Tôn giả,  Đức Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát;

- Ngài Mục Kiền Liên Tôn Giả;

- Ngài Đương cai Bính Ngọ niên: Văn Triết Đại tướng quân; Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao Hành Binh chi Thần, Nhân Tào Phán quan;

- Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và Chư vị thần linh cai quản xứ này.

Chúng con tiếp kính thỉnh:

-  Các vi Thủy tổ, Đệ Nhất đại Tổ, Đệ Nhị đại Tổ, Cao tằng tổ khảo cùng các Tổ tỉ của lịch đại Lương tộc;

- Tằng Tổ khảo: Lương Đức Trinh, Tổ tỉ: Nguyễn Thị Lễ;

- Tổ bá phụ khảo: Lương Đức Quýnh;

- Tổ cô: Lương Thị Mẹt; Tổ khảo: Lương Đức Trính, Tổ tỉ: Đặng Thị Chỉ;

- Hiển khảo: Lương Đức Thân, Hiển Tỷ Phạm Thị Uyển;

Cùng các vị Nội Ngoại tiên linh, Thúc, Bá, Cô, Dì, Đệ, Huynh, Tỉ, Muội, các vong linh phụ thờ theo Tiên tổ và các phụ vị thương vong.

Trộm nghĩ rằng:

Vạn vật tạo thế gian, chuyện sắp đặt nhờ Tiên, Thánh hiển linh;

Người sống trong trời đất, sự sinh tồn có Phật, Thần phù hộ.

Nước tự nguồn trôi kẻ uống nước phải tìm Giếng chẩy ra;

Cây theo cội lớn người thành danh cần báo ơn Tiên Tổ.

Lại biết rằng:

Cành rợp bóng, dòng chảy không ngừng vì bền gốc, sâu nguồn;

Nước yên bình, Gia môn khang thái bởi bao người thiệt số.

Lớn thành người nhờ cha mẹ khó nhọc sinh ra;

Gây nên nghiệp bởi Tổ tiên, Chư vị Tồn Thần phù hộ.

Uống nước phải nhớ nguồn, hưởng trái thơm nhớ ơn người trồng;

Đó là nếp Hiếu Nghĩa ngàn xưa, là đạo cương thường vạn cổ.

Bởi thế cho nên:

Nhân tiết Vu Lan, ngưỡng vọng Tôn linh, hiếu kính tỏ lòng;

Gặp ngày Xá tội, thương kiếp chúng sinh, tâm thành rộng mở.

Toàn gia xin:

Sắm hương, nến, trà, trầm, rượu, cau, trầu với quả và hoa;

Bầy muối, xôi, gạo, cá, gà, canh, cháo cùng vàng và mã.

Vật dụng dâng lên thắp nén tâm nhang;

Bày lên trước án, lễ bạc lòng thành cúi xin thấu tỏ.

Riêng mũ, hia, áo quần biếu Thổ công và trong Ngũ thế.

Với Lịch đại Tổ tiên cháu con biếu vải, tùy nghi may vá;

Riêng với Hiển Tỷ, đây là Mã đầu, chúng con xin biếu để người tiệnTrang trải, liệu lo.

Thành tâm kính mời:

Các chư Phật, Thần, Thánh, các bậc Tiên linh cùng phụ vị thương vong;

Đã kính thỉnh giáng lâm trước án, xét xoi chứng giám, cùng là nạp thụ.

Toàn gia nguyện:

Rèn chữ Hiếu, tích điều Liêm  dạy con cháu  mãi dõi noi theo;

Mở lòng Nhân, trồng cây Đức giữ nếp nhà vững bền muôn thủa.

Vọng xin Thần Phật, Tổ tiên ban ân, ban phúc:

Để Hiển khảo, cùng Thất tổ của chúng con và cả chúng sinh;

 Ra đường lành, thoát vòng mê, đặng siêu sinh nơi Giác ngộ.

Cho toàn gia: Mạnh khoẻ bình an, lộc tài vượng tiến, sở cầu như nguyện, mọi việc hanh thông;

Giúp đệ tử: Đem đến điều lành, mang đi điều dữ, thêm của thêm người, làm chi thắng đó.

Bé bú mớm hay ăn chóng lớn, luôn gặp vía lành;

Người học hành mạnh khỏe chăm ngoan, đã thi là đỗ.

Khi hương đã tàn, vàng mã áo quần, con xin thiêu hóa: gửi xuống cõi âm;

Lễ vật phẩm thừa, xôi, rượu, canh, thịt, cháu con xin cùng: kết đoàn thụ lộc.

Giãi tấm lòng thành, Cúi xin thấu tỏ.

 

.33. VĂN KHẤN CHÚNG SINH (ngoài trời) :

Con lạy chín phương Trời, năm phương Đất, mười phương Chư Phật;

Con lạy các Đức Phật; Con lạy Bồ Tát Quan Âm.

Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.

Tiết tháng 7 sắp Thu phân,

Ngày Rằm xá tội vong nhân hải hà.

Âm cung mở cửa ngục ra,

Thoát vong không cửa không nhà trú thân.

Đại Thánh Tôn giả A Nan Đà,

Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương:

Gốc cây xó chợ đầu đường,

Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang.

Quanh năm đói rét cơ hàn,

Không manh áo mỏng, che làn heo may.

Cô hồn Nam Bắc Đông Tây,

Trẻ già trai gái về đây họp đoàn.

Dù rằng: chết uổng, chết oan,

Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu.

Chết tai nạn, chết ốm đau,

Chết đâm chết chém, đánh nhau tiền tình.

Chết bom đạn, chết đao binh,

Chết do cứu hộ, vì sinh giống nòi.

Chết vì sét đánh giữa trời,

Chết do tự tử trốn đời chơi vơi…

Nay nghe tín chủ thỉnh mời,

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau.

Cơm canh cháo nẻ trầu cau,

Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh.

Gạo muối, quả thực, hoa đăng,

Mang theo một chút để dành ngày mai.

Phù hộ tín chủ Lộc Tài,

An khang Thịnh vượng Hoà hài gia trung.

Nhớ ngày xá tội vong nhân,

Tín chủ theo lệ, thành tâm thỉnh mời.

Bây giờ nhận hưởng xong rồi,

Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần.

Mang theo vàng mã, kim ngân,

Cùng với quần áo đã được phân chia.

Hoàng tuyền cõi ấy nhớ về,

Phù cho tín chủ mọi bề hanh thông.

Hẹn năm sau nữa, dịp này,

Gia đình tín chủ Tâm ngay, tiếp mời.

Kính cáo Tôn thần, Cô hồn chúng sinh Chứng minh công đức cho tín chủ con là: Lương Đức Mến, sinh năm Ất Mùi 1955, cùng anh, em, vợ, con và các cháu

Tổ chức cúng tại tư gia ở xóm An Phong, thôn An Hồ, xã Xuân Quang (xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng cũ), tỉnh Lào Cai vào thứ Tư ngày 26/8/2026 nhằm ngày 14/7 năm Bính Ngọ âm lịch (Nhâm Thân), vào năm thứ 81 của nước CHXHCN Việt Nam.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Xác định Ngũ hành của chữ Hán

Bài Khảo luận về "NGUỒN GỐC HỌ LƯƠNG"

Câu đối mừng Đám Cưới