MỘT SỐ THỦ TỤC KHI trong gia đình có BỐ, MẸ, ÔNG, BÀ MỚI MẤT
Theo nghi lễ cổ
truyền thì mỗi khi trong gia đình có người mất phải tiến hành khá nhiều thủ
tục. Sau đây chỉ tìm hiểu và tóm lược các công việc, các lễ cúng từ khi An táng
đến khi Cải táng và xin nhắc lại rằng: chỉ tìm hiểu và luận về vấn đề TÂM LINH
chứ không tìm hiểu và lan truyền cho vấn đề MÊ TÍN DỊ ĐOAN!.
Cổ nhân (đặc biệt là trong thuyết Luân hồi) quan niệm: Sống trên trần
thế ai cũng từng mắc lỗi lầm, tạo nghiệp chướng. Do vậy muốn được siêu thoát,
chuyển kiếp thì sau khi chết, vong người mất phải đi qua mười “Điện” 殿 và mỗi điện do 1 ông vua cai quản. Có 10
điện như thế gọi chung là “Thập Điện Minh Vương” (H: 十殿簷王 , A: The ten Kings of Hell,
P: Les dix rois de l'Enfer) ở Địa phủ (H: 地府, A: The Hell, P: L'Enfer) được xếp theo thứ tự từ Nhất điện đến Thập điện. Mỗi điện có một ông Vua có trách nhiệm phán xét,
trừng phạt các loại tội lỗi khác nhau của người đó khi tại thế.
Theo tín ngưỡng Phật giáo Á Đông, trong đó có Việt Nam và ảnh hưởng của Đạo Lão 道教 thì mười ông Vua cái quản
10 Điện ở địa phủ gồm:
1.Tần Quảng Vương (秦廣王, điều khiển sức khỏe, sinh tử và
quản lý việc u minh, cát hung);
2. Sở Giang Vương (楚江王, trông coi địa
ngục Hoạt Đại, gồm 16 tiểu địa ngục với các hình phạt khác nhau nhằm trừng trị những người khi tại thế từng gian
dâm, sát sinh);
3. Tống Đế Vương (宋帝王, quản Hắc Thằng
Đại Địa, , cũng gồm có 16 tiểu ngục với các hình phạt nhằm trừng trị những người khi tại
thế hay ngỗ ngược, hỗn láo với bề trên, xúi bẩy kiện tụng, gây sự
bất hòa,...);
4. Ngũ Quan Vương (五官王, quản địa ngục
Hợp Đại, có 16 tiểu ngục với các hình phạt dành cho người, chuyên trị những người khi tại thế chuyên
trốn nộp tô, thuế cho nhà nước, mua gian bán lận...);
5. Diêm La Vương (閻羅王, vốn ngự ở
điện thứ nhất nhưng vì thương người chết oan hay trả hồn về sống lại kêu oan,
nên bị giáng xuống Ngũ điện để quản ngục Khiếu Hoán, chuyên trị kẻ
từng gây tai ương trên trần thế);
6. Biện Thành Vương (卞城王, quản Khiếu Hoán và thành Uổng Tử, cùng 16
tiểu địa ngục với hình phạt dành cho kẻ lúc sống oán trời trách đất, cứ khóc
lóc, trộm cắp, đầu cơ tích trữ...);
7. Thái Sơn Vương (泰山王, quản địa ngục Nhiệt Não, với 16 tiểu ngục dành cho kẻ khi sống
trên trần gian đào mồ, trộm mả, lấy hài cốt để làm thuốc, rời bỏ người thân
thích...);
8. Đô Thị Vương (都市王, quản đại địa ngục Đại Nhiệt Não, có 16 tiểu
ngục với hình phạt tương tự ngục Nhiệt Não nhưng mức độ nặng hơn, dành trừng
phạt kẻ sống trên trần gian bất hiếu khiến cha mẹ đẻ, cha mẹ chồng, cha mẹ vợ
phải buồn phiền, bực tức...);
9. Bình Đẳng Vương (平等王, quản Thiết Võng A Tỳ và thành Phong
Đô, và 16 tiểu ngục, là
nơi dành cho kẻ giết người, đốt nhà, bị chém nơi pháp trường...);
10. Chuyển Luân Vương (轉輪王, là Điện cuối cùng, từ đó giải đến
nơi quỷ hồn để làm rõ thiện ác, quyết định đẳng cấp, rồi cho lên đầu thai ở các dạng khác nhau). Trước đó, đều được giao cho Mạnh Bà đến Thù Vong Đài cho
ăn “cháo lú” để quên hết những chuyện của kiếp trước
Vong người mất muốn đi qua một
Điện phải mất 1 Tuần nên Mười điện tương ứng với mười Tuần. Trong
đó:
-Bảy bảy bốn chín ngày
đầu (Chung thất) tương ứng với 7 điện đầu tiên (từ Tần Quảng Vương
đến Thái Sơn Vương);
-Tuần thứ 8 chính
là lễ cúng 100 ngày (Tốt khốc) tương ứng với điện thứ 8 (Đô Thị
Vương);
-Tuần thứ 9 tức
là cúng giỗ đầu (Tiểu tường) tương ứng với điện thứ 9 (Bình Đẳng
Vương) và
-Tuần thứ 10
chính là giỗ năm thứ hai (Đại tường) tương ứng với điện thứ 10 (Chuyển
Luân Vương).
Đó chính là lý do của việc cúng người mới
mất trong vòng tang.
a/ Thông thường
người thân sau khi mất được con cháu rước vong về gia đình tiến
hành các lễ:
-Lễ ba ngày (三虞, lễ tế ngu);
-Lễ cúng cơm (朝夕面, trong vòng 100 ngày);
-Cúng tuần (旬祭, thực hiện vào các ngày thứ
7, 14, 21, 28, 35, 42 sau mất);
-Lễ chung thất (終七, ngày thứ 49 sau mất);
-Lễ tốt khốc (卒哭, 100 ngày sau mất nghĩa là
thôi khóc);
-Tiểu tường (小祥, giỗ đầu);
-Đại tường (大祥, giỗ hết);
-Trừ phục (除服, bỏ tang);
-Cải táng (改葬, bốc mộ);
-Kị nhật (忌日, giỗ từ năm thứ 3 trở đi).
Ý nghĩa và nội dung
các lễ này đã và sẽ đề cập trong dịp khác.
b/ Chú ý:
-Trên ban thờ của người mới mất không được thắp hương vòng vì nếu thắp hương
vòng, hồn người chết sẽ quẩn quanh, không thể siêu thoát (!?).
Thực ra, xưa quy định trong những ngày để
tang cha mẹ, người con trưởng không được phép đi xa, thường gọi là “cư tang” (居喪, ở nhà chịu tang) nếu
thắp hương vòng, có thể ra khỏi nhà suốt ngày nên chỉ thắp hương nén. Trước khi
đi ngủ, thay hương nén bằng hương sào (que hương lớn và dài hơn, có thể cháy
trong 4, 5 giờ, đủ qua đêm).
- Cổ nhân cho
rằng, người mới chết, chưa sạch sẽ nên chưa thể đưa lên bản thờ chung mà đợi
sau ngày Tốt khốc có nơi sau giỗ Đại tường hay sau khi Cải táng.
Việc này là do đợi thời gian, cùng với sự
mất đi của hình hài, những lời thị phi của thiên hạ về người mất đã phai nhạt
thì họ mới được gia nhập thế giới thiêng liêng, xứng với các bậc tiên hiền, trở
thành đối tượng được lớp cháu con ngưỡng vọng, tôn vinh, sống trong tâm linh
các thế hệ sau.
- Xưa trên ban thờ
có Bài vị (H: 簰位, A: The tablet of the deceased, P: La
tablette du défunt) của người mới mất, nay đã có di ảnh thay thế nên bỏ.
Với lại còn ai biết viết bài vị nữa đâu mà có viết thì ai đọc? Chính vì vậy mà
lâu dần con cháu chẳng nhớ ngày tháng năm sinh, mất của người được thờ phụng!
- Trong các Lễ,
công việc trên thì trừ ngày làm lễ An táng và ngày làm lễ Trừ
phục, Cải táng cần chọn ngày lành còn Lễ Chung thất, Tốt khốc,
Tiều tường, Ðại tường, Kị nhật cứ theo đúng ngày mà làm.
Khi đó con cháu ở xa nhớ ngày về làm lễ,
thân nhân ở chỗ khác sắm sửa lễ đúng ngày tới dự.
- Nếu gặp năm
nhuận, phải cử hành nghi thức tính theo ngày còn việc giỗ thì thực hiện vào
tháng chính.
- Trường hợp mà
ngày thứ 49, 100 vào trong khoảng “mùng” tháng Giêng âm lịch thì có thể làm lễ
trước 23 tháng Chạp năm cũ!
c/ Lưu ý tang tế theo ngày định
sẵn nên thân bằng, cố hữu ai lưu luyến đến thăm viếng, không đợi mời
như lễ mừng, lễ cưới và không chuỵện “Hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất
đáo” (有請有來無請不到, mời thì đến, không thì thôi) được. Ngoài
ra, con thứ, con gái, cháu phải đến từ ngày hôm trước để “góp giỗ” trong buổi
Tiên thường 先嘗.
Ngày nay, đa phần con cháu ở xa và mắc nhiều công việc, học hành nên khó thể tuân thủ mọi thứ như xưa được! Hơn nữa, do công việc nên việc “lễ lạt”,...đều do các “cô”, các “bà”,...thực thi theo “thói quen” trong vùng hay kiểu “truyền miệng”, “tam sao thất bản”,...(nhà kia làm như thế!) nên rất khó khăn phục hồi những ý tốt đẹp của tiền nhân. Đặc biệt “thầy bà” thì “nặng về kiếm tiền” nên khá nhiều chuyện “cười ra nước mắt”!
d/ Riêng việc nhà mình: Thân mẫu tôi “rời cõi tạm” ngày 7/4/Bính Ngọ (23/5/2026). Anh em chúng tôi đã tổ chức việc Khâm liệm, Hỏa Táng, Cúng Vong, Truy điệu, Hạ huyệt,…hoàn tất. Tôi đã về quê Báo cáo trước Phần Mộ của Gia đình (tại NTND thôn Phương Hạ, xã An Hưng, tf Hải Phòng mà trước tháng 7/2025 còn là xã Chiến Thắng, huyện An Lão, tf Hải Phòng), Từ đường họ Lương (họ nhà tôi, ở thôn Phương Hạ nay), họ Phạm (họ nhà Mẫu thân tôi, ở thôn Cốc Lộc nay); xin ý kiến các anh, chị, em các cháu đại diện hai họ từ quê gốc (xã An Hưng, Hải Phòng) lên chịu tang và một số người hiểu biết tại Tân quê (tỉnh Lào Cai) đến chia buồn,…Họ đều đánh giá là: “được” còn khi “gieo quẻ” đều cho kết quả “nhất âm, nhất dương” cả!
Còn một số việc cần “rút kinh nghiệm” như: “áo quan kín
mít”, “thời gian để chờ ngắn”, “quãng đường đi hỏa táng xa”, “đất rộng lại
không hung táng”,…tôi đã lý giải và mọi người chấp nhận, không ai thắc mắc hay băn khoăn gì nữa !…
Riêng vấn đề “Cúng cơm
trong 100 ngày và chưa đưa Bài vị Mẹ lên Ban thờ chung trước lễ cúng Tuần 8” là 2 tồn tại lớn mà
ngày trong anh em chúng tôi còn có nhiều tiếng xì xèo, đặc biệt hôm 08/7/2026 khi
đưa Vong Thân mẫu tôi lên cúng tại Chùa. Tôi xin nói lại cho rõ như sau:
1.Vấn đề này do tôi “quyết” dựa theo sách THỌ MAI CHI LỄ (còn gọi là Thọ Mai Gia lễ), cẩm nang nghi
thức cổ truyền Việt Nam do danh sĩ Hồ Sỹ Tân (1690 – 1760, Tiến sĩ Nho học, quê làng Hoàn Hậu (sau này là xã Quỳnh
Đôi), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đỗ Tiến sĩ năm khoa Tân Sửu 1721, niên hiệu
Bảo Thái đời vua Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Hàn lâm Thị chế) biên soạn
vào thế kỷ 18. Bộ sách này quy định chuẩn mực về tang lễ,
cưới hỏi và cúng giỗ, được áp dụng sâu rộng trong phong tục dân gian từ Bắc chí
Nam dựa trên tinh thần đạo hiếu và nếp nhà, đến nay vẫn được áp dụng phổ biến
trong các nghi lễ gia đình, tất nhiên đã được chắt lọc hoặc điều chỉnh để phù hợp
hơn với nếp sống hiện đại. Một số điểm chính liên qua đến Tang Lễ và cúng giỗ
tôi đã trích dẫn ở phần a, b, c ở trên.
2.Hơn nữa, việc làm “chụp” cho mộ Mẹ chưa xong (thợ hẹn) nên đã quyết vậy và đã đưa lên
trang nhóm (anh em), không thấy ai ý
kiến gì nên “cứ vậy tiến hành”!
-Lương Đức M ến, soạn
2015, bổ sung chỉnh sửa 2022, sửa lại 7/2026-

Nhận xét
Đăng nhận xét
Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!