Gần đây, đa phần dân “khai hoang” và “cán bộ” đã từng thoát
ly, tức từng học tập, công tác, cư ngụ,…ở LC song khi “mất”, hỏa táng xong đều
có nguyện vọng “về quê” (PT, HN, HP,...) và phần lớn “nhu cầu” đó đều được người thân “đáp ứng”
(nếu ở quê “còn đất”)! Việc này đã
thành trào lưu, phải chăng là vấn đề mới ?
Chợt nhớ: “Cáo chết ba năm quay đầu về núi” là câu thành ngữ nói về lòng hướng nguồn cội, quê hương. Dù đi xa hay sống xa nhà
bao lâu thì cuối đời vẫn mong muốn trở về nơi “chôn nhau cắt rốn”. Câu này nhấn
mạnh tình cảm sâu nặng với gốc rễ, “lá rụng về cội” và răn dạy mọi người không
được quên ơn tổ tiên.
Nghĩa đen: Loài cáo khi
chết thường hướng đầu về nơi nó từng sinh sống (núi) hay con cáo dù có sắp chết cũng phải tìm đường quay về núi
chính là nơi ở của nó, cho dù có bị chết dọc đường thì đầu của nó cũng luôn hướng
về núi (tức quê hương) của mình.
Nghĩa bóng: Con người dù
có đi xa, thành công hay thất bại, cuối cùng vẫn có xu hướng muốn trở về quê
hương. Mượn hình ảnh con cáo, câu thành ngữ nói về việc dù con người có đi đâu
xa làm gì chăng nữa, dù đã đạt được thành công hay không thì cuối cùng đều mong
muốn trở về với nơi chôn nhau cắt rốn, về với nơi gọi là quê hương. Ngoài ra,
câu thành ngữ còn răn dạy chúng ta không được quên đi cội nguồn của bản thân,
gia đình mình và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Câu đồng nghĩa:
-Lá rụng về cội.
-Trâu bảy năm còn nhớ chuồng.
-Uống nước nhớ nguồn.
-Chim có tổ, người có tông.
-Con người có tổ có tông.
-Như cây có cội như sông có nguồn.
-Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây, Ăn khoai, nhớ kẻ cho dây mà trồng.
-Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây, Ăn gạo, nhớ kẻ đâm xay giần sàng.
-Ta về, ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
-Cây kia ăn quả ai trồng. Sông kia uống nước hỏi dòng từ đâu.
-Ăn nắm xôi dẻo, nhớ nẻo nhà hàng.
-Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi.
-Cây có gốc mới nở cành xanh lá, Nước có nguồn mới bể cả sông
sâu.
-Người ta nguồn gốc từ đâu, Có tổ tiên trước rồi sau có mình.
- Quê hương là nơi sinh ra ta và nuôi ta khôn lớn. Quê hương như
một người mẹ mà bất kì người con nào cũng yêu thương và muốn quay về sau những
bôn ba cuộc sống.
- Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất đã hóa tâm hồn. (Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên).
- Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương
nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. (Quê hương - Đỗ Trung Quân).
- Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi, cội nguồn ơi chiếc lá lại
rơi về. (Chợ quê - Nguyễn Đức Mậu).
- Thân cư hải ngoại, tâm tại cố hương. - Khuyết danh
- Không có mảnh đất nào êm dịu bằng quê cha đất tổ. - Khuyết danh
- Ra đi cánh gió phương trời lạ, Vẫn nhớ non sông một mái nhà. -
Khuyết danh
- Ô hay mọi cái đều thay đổi, còn với non sông một chữ tình. - Khuyết danh
- Dù xa cách mấy trùng dương, ở đâu cũng có quê hương trong
lòng. - Khuyết danh
- Quê hương là nơi chân ta có thể rời đi nhưng tim ta vẫn mãi ở
đó. - Khuyết danh
- Con người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để
quay về. - Khuyết danh
- Bạn có thể khiến mọi người rời bỏ quê hương họ, nhưng bạn
không thể cướp mất quê hương trong trái tim họ. - Dos Parsons
- Ăn cơm mẻ bát xứ người, vẫn còn canh cánh góc trời chân quê (Chợ quê - Dương Thúy Mỹ).
- Trên đời này, ngoài gia đình, sẽ chẳng có ai sẵn sàng nhận
trách nhiệm cho những sai lầm của bạn, rồi còn an ủi, vỗ về bạn. - Khuyết danh
-Trăng đâu chẳng phải là trăng, Mà sao vẫn nhớ vầng trăng quê
nhà. - Khuyết danh
- Quê hương là suối tóc huyền, là duyên nón là là thuyền nón ai.
- Khuyết danh
- Đêm nay gió lạnh trùng khơi, quê hương còn mãi những lời mẹ
ru. - Khuyết danh
- Ra đi vọng lại cố hương, nhớ người yêu dấu vấn vương bao tình.
- Khuyết danh
- Ta đã xa bao nhiêu ngày chưa đủ, bao ngày dài vần vũ nhớ quê
hương. Nơi quê nghèo bao nỗi nhớ niềm thương, của bao người luôn chờ mong ta đó
(Nhớ quê - Bình Minh).
- Xa nhà, ta biết trân trọng hơn tình đồng hương, tình nghĩa bạn
bè. Phải sống ở một nơi xa lạ thì mới cảm nhận hết niềm hạnh phúc khi bắt gặp một
giọng nói quen thuộc của quê ta, mới thấu hiểu được hơi ấm của bạn bè khi không
có gia đình bên cạnh. - Khuyết danh
Câu này dễ hiểu nhưng hiện còn một số tranh cãi dân gian nói đến “Cáo” (con cáo) hay “Cóc” (con cóc)
và “ba năm” (thời gian). Bài này giải
đáp vấn đề đó. Có một số giả thuyết như sau:
Giả
thuyết thứ nhất cho rằng câu thành ngữ này có nguồn gốc từ một điển tích
của Trung Quốc là “Hồ tử thú khâu” trong đó “hồ” 狐 là hồ ly tức “chỉ
cáo”, “tử” 死 là “chết”, “thú” hoặc “thủ” 首 là “đầu”, “khâu” 丘 là “gò” là
nơi có hang cáo.
Thiên “Thuyết lâm” 說林 trong sách Hoài Nam Tử 淮南子[1]
có
câu “Điểu phi phản hương, thố tẩu quy quật, hồ tử thú khâu” (鳥飛反鄉兔走歸窟狐死首丘, Chim bay về quê, thỏ chạy về hang, cáo chết hướng gò). Truyện Khấu
Vinh trong Hậu Hán thư 後漢書[2] có câu “Bất
thắng hồ tử thú khâu chi tình” (不勝狐死首丘之情, Không bằng cái tình của con cáo chết mà (còn
biết) hướng về gò). Sách Hoài Nam tử, là một tác phẩm cổ điển của Trung Quốc
thời Tây Hán, được Hoài Nam vương Lưu An[3] cùng các học giả dưới trướng
đồng biên soạn và hoàn thành trước năm 139 tCn.
Chú ý rằng chữ “ tử 子 “ có đến hơn bốn chục nghĩa
khác nhau xin trích ra đây hai nghĩa:
1- Chữ tử 子 dùng để chỉ người viết sách lập
thuyết, đại biểu một lưu phái riêng như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Tăng Tử,
Tuân Tử, ở thời Tiên Tần.
2- Cổ xưa người Trung Hoa chia sách vở ra làm bốn lọai là “ Kinh
經, Sử 史, Tử 子, Tập 集 “ .
Các sách có chữ tử 子 thuộc lọai thứ ba, và được gọi
là “tử thư 子書 “ , như sách Lão Tử, sách Hàn Phi Tử, sách Tuân Tử, sách
Mạnh Tử, sách Trang Trang Tử…“Tùy Thư-Kinh tịch chí” đã chia phần cổ tịch của
Trung Quốc ra làm bốn bộ phận như sau:
1-Kinh bộ 經 部, chỉ những
sách về các học thuyết của Nho gia. Mới đầu kinh thư của nhà nho có 5 bộ, tức :
Thi, Thư, Dịch, Lễ,và Xuân Thu, được gọi là “Ngũ kinh”. Từ nhà Đường đến nhà Tống
hình thành “Thập Tam kinh”, tức Dịch, Thư, Thi, Chu lễ, Nghi lễ, Lễ ký, Tả truyện,
Công Dương truyện, Cốc Lương truyện, Hiếu Kinh, Luận ngữ, Nhĩ nhã, Mạnh tử.
2-Sử bộ 史 部, chỉ những
sách về lịch sử, ghi chép các sự hưng suy, trị loạn của các triều đại, cùng những
nhân vật, và những quá trình biến đổi.
3-Tử bộ 子 部, chỉ những
sách của mỗi danh gia thời Xuân Thu Chiến Quốc, viết về triết học, danh học,
pháp học, y học, toán học, binh học, thiên văn học, nông học. Đạo giáo,Lý học đời
Tống và đời Minh, và khảo cứ học đời Thanh cũng được qui nhập Tử bộ.
4-Tập bộ 集 部. Phàm những
tuyển tập và những trứ tác bình luận văn học của các tác gia liên quan đến các
loại văn thể như biền văn, tản văn, thi, từ, khúc, đều qui nhập vào tập bộ. Sách
của một người gọi là Biệt tập, của nhiều người viết gọi là Tổng tập, liên quan
đến thơ thì gọi là thi tập.
Và, “Hoài Nam tử” là tên sách được xếp vào loại
thứ ba này, tức là loại “ tử thư 子書”
Trong sách 禮記 - Lễ Kí có viết:
“古之人有言曰: 狐死正丘首, 仁也! 傳說狐狸死時, 頭必朝向狐穴所在的山丘. 比喻不忘本或對故鄉的思念” (đọc là: “cổ
chi nhân hữu ngôn viết : hồ tử chính khâu thủ , nhân dã. Truyện thuyết hồ ly tử
thì , đầu tất triêu hướng hồ huyệt sở tại đích sơn khâu. Tỷ dụ bất vong bản hoặc
đối cố hương đích tư niệm”; Có thể hiểu
rằng: “Người xưa có câu: Khi cáo chết, đầu
hướng về đúng đồi, đó là biểu hiện của lòng nhân. Tương truyền rằng khi cáo chết,
đầu nhất định quay về phía ngọn đồi nơi có hang cáo. Điều này được dùng để ví với
việc không quên cội nguồn hoặc nỗi nhớ quê hương.”
Giả
thuyết thứ hai lại cho rằng câu nói có nguồn gốc từ quẻ CẤN ☶, tượng của Cấn là Núi (艮 為 山, Cấn vi sơn) và đại diện
cho quẻ CẤN là con Cáo (狐, Hồ Ly). Điều này được ghi lại trong câu chuyện “Cóc
kiện Trời và Đầm xác Cáo”, là câu chuyện về nguồn
gốc Tiên
Thiên Bát Quái của Việt Nam.
-Chuyện “Cóc kiện Trời”: Con Cóc tuy sần sùi
xấu xí nhưng nổi tiếng rất gan dạ. Ngày ấy,
Ngọc hoàng Thượng đế cũng sai thần Mưa làm mưa cho nhưng vào một năm, trời làm
hạn hán. Nắng lửa hết tháng này đến tháng khác, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ,
mọi cây cỏ đều khô héo cả, đất nứt như một khe vực… Một hôm đi qua một vũng đầm
khô, Cóc tía gặp Cua càng ☰ (càn), Cua hỏi Cóc đi đâu. Cóc bèn kể rõ sự tình, và rủ Cua cùng đi
kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang. Thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế
đi sao tới mà kiện với tụng…Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.
Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp ☴ (tốn) đang nằm phơi bụng thở thoi thóp. Gấu ☵ (khảm) đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và
Cọp đi kiện trời. Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:
Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết
khát cả ư… Ta theo anh Cóc thôi. Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được
thì tại sao chúng mình không theo.
Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp con
Cáo ☶ (cấn) bị lửa nướng cháy xém lông và đàn Ong ☷ (khôn) khô hết mật. Cả
hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.
-Chuyện Đầm xác Cáo. “Xưa ở phía Tây thành
có hòn núi đá nhỏ, phía đông gối lên sông Lô Giang. Trong hang, dưới chân núi,
có con cáo trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu quái, thành
người hoặc thành quỉ đi khắp nhân gian.
Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người Mán chôn gỗ kết cỏ làm
nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường thờ phụng. Thần dạy
người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là Bạch Y Man (白衣𧖖,Mán áo trắng).
Con cáo chín đuôi biến thành người áo trắng nhập vào giữa đám
dân Mán, cùng ca hát rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Mán rất
khổ sở. Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang
đá”[4].
Chú ý rằng, Hồ Tây = Khảm[5], Đông = Li[6], Cấn là Tây Bắc, là Cáo;
Khôn[7] = Bắc. Theo Tiên Thiên Bát
Quái thì lí số hướng Bắc = Trời số 1 sinh nước, Đất thành số 6 (“Thiên nhất sinh Thủy, địa lục thành chi”
mà)[8]. Căn cứ vào đây mà có chuyện
Long Quân ra lệnh cho lục (6) bộ thủy phủ dâng lên làm chết Cáo.
Mặt khác, mỗi quẻ chỉ có 3 hào (3 gạch), quẻ Cấn (☶)[9] cũng thế, là “quá khứ – hiện tại – tương lai”, cũng
như con người sinh ra mãi mãi chỉ có một quê hương. Chính vì vậy mà có “ba năm”
三年, tượng trưng cho khoảng thời gian: Người sống thì 3
năm bú mớm, người chết thì 3 năm cải táng (bốc
mộ). Hoặc có thể chỉ là một khoảng thời gian dài và “Ba năm” không phải là
số đếm mà là số tuyệt đối, như ta nói “trăm năm hạnh phúc” hay “sống thọ trăm
tuổi” vậy !.
“Đầu” ở đây để chỉ tâm tưởng, sự hướng vọng.
Như thế ta thấy câu “Cáo chết ba năm quay đầu về núi” là đúng, có
cơ sở. Nguồn gốc của nó chính là từ câu “Hồ tử thú khâu” và quẻ Cấn, nghĩa của
nó là dù đi đâu, ở đâu cho đến khi chết, trong lòng con người cũng chỉ có một cội
nguồn để hướng về. Còn câu “Cóc chết ba năm quay đầu về núi” là “Biến dị” sai,
không có cơ sở.
-Lương Đức Mến, 19/02/Bính Ngọ, BS từ
nhiều nguồn TK-
[1]
Còn gọi là “ Hoài Nam Hồng Liệt 淮 南 鸿 烈 mang ý nghĩa “vĩ đại và sáng tỏ”, là
tên của một cuốn cổ thư của Trung Hoa, được viết vào khỏang đầu thế kỷ thứ hai
trước Công Nguyên, là một kiệt tác, được các nhà nghiên cứu cho là tổng hợp và .chỉnh
lý những tư tưởng của bách gia thời Tiên Tần, đồng thời sách cũng bảo lưu được
nhiều thông tín lịch sử giá trị thời Tần Hán. Sách do Lưu An cùng tập thể những
người tân khách của ông như Tô Phi, Lý Thượng, Ngũ Bị,… đồng sáng tác.
Nguyên sách có ba bộ phận gồm
nội thư, trung thư, ngoại thư, tổng cộng hơn hai mươi vạn chữ, nay chỉ bảo tồn
được phần nội thư có 21 thiên. Sách “ Hoài Nam Tử “ lấy tư tưởng của đạo gia thời
Tiên Tần làm chủ đạo, tuy có pha lẫn quan điểm của nho gia, pháp gia, âm dương
gia.
Năm 139 trước
Công Nguyên, sau khi Võ Đế lên ngôi được 1 năm, Lưu An đem sách dâng cho Võ Đế
hy vọng kết hợp tư tưởng của nhiều trường phái khác nhau để lập ra pháp luật
cho nhà Hán, cũng như luận giải về đạo trị quốc của đế vương... được Hán Võ Đế
rất tán thưởng Sách còn bảo lưu được một số không ít những dật sự và thần thọai
truyền thuyết của thời kỳ Tần Hán.Các truyện như “ Nữ Oa Bổ Thiên “ , “ Hậu Nghệ
Xạ Nhật “ , “ Hạ Vũ Trị Thủy “ , “ Hằng Nga Bôn Nguyệt “ , “ Tái Ông thất Mã “
, đều do sách “ Hoài Nam Tử “ mà được lưu truyền lại hậu thế.
Trong “ Hòai
Nam Tử “ còn cho chúng ta thấy những thông tin quí giá liên quan đến lịch sử nước
Nam Việt. Chẳng hạn “ Hòai Nam Tử “ bảo rằng mục đích xâm lăng Nam Việt của Tần
Thủy Hoàng chỉ vì tham châu báu, vàng bạc, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, chim lông
thúy của Nam Việt, đồng thời ký thuật một cách tường tận rõ ràng việc Tần Thủy
Hòang phái Đồ Thư sang xâm chiếm Lĩnh Nam như đọan dưới đây:
“ Tần Thủy
Hòang vì tham những sừng tê giác, ngà voi, lông chim thúy,châu bấu ngọc ngà,nên
phái Uý Đồ Thư đem năm chục vạn binh tốt,chia làm năm đạo quân tiến vào Lĩnh
Nam.
-Một đạo đóng
chặn ở dẫy núi thuộc Đàm Thành.
-Một đạo chiếm
giữ chỗ hiểm yếu ở Cửu Nghi.
-Một đạo đóng ở
kinh đo Phiên Ngung.
-Một đạo chiếm
giữ biên giới Nam Dã.
-Một đạo tập kết
ở sông Dư Can.
Trong ba năm
binh lính không được cởi bỏ giáp trụ, cung tên,và phái viên quan Gíam Lộc vận
chuyển lương thực nhưng không đựơc, mới dùng binh sĩ để đào ngòi nước lấy đường
tải lương, đánh nhau với người Việt, giết đuợc vua Tây Âu là Dịch Vu Tống,
nhưng người Việt đều bỏ chạy vào rừng thưa, sống chung với cầm thú, không chịu
để quân Tần bắt làm tù binh, rồi cùng nhau chọn người kiệt tuấn lên làm tướng,
ban đêm ra đánh nhau với quân Tần, giết được Đồ Thư, quân Tần bị chết lưu huyết
có đến mười vạn,sau Tần phải đem trích nhung đến phòng bị.
Ngoài những
thông tin khả tín quý giá này, sách “ Hoài Nam Tử “ còn có những chi tíết hiếm
hoi liên quan đến văn hóa, phong tục, lịch sử cổ thời kỳ Tần Hán. Một phần vì
sách được viết vào thời điểm không quá xa với nhưng sự kiện xẩy ra, và một phần,
vì đất phong của Lưu An tiếp cận với vùng Lĩnh Nam.
Sách “ Hoài
Nam Tử “ vốn có tên là “ Hồng Liệt “ ,sau nhờ Lưu Hướng người thời Tây Hán hiệu
đính mới có tên là “ Hòai Nam “ .Trong sách “ Tùy Thư – Kinh Tịch Chí “ mới bắt
đầu gọi là “ Hoài Nam Tử “ .
Hoài Nam Tử có
nhiều bản lưu hành khác nhau. Đời Đông Hán có các bản do Cao Dụ chú giải, và bản
của Hứa Thận chú giải.Và nay có “ Hòai Nam Hồng Liệt Tập Giải “ của Lưu Văn Điển
rất có giá trị.
là một tác phẩm chứa đựng nội dung phong phú,
bao quát nhiều lĩnh vực từ thần thoại, chính trị, triết học, thiên văn học, địa
lý, đến tự nhiên học, dưỡng sinh và quân sự. Tác phẩm này kết hợp tư tưởng của
nhiều học phái thời Tiên Tần, lấy triết lý Đạo gia làm nền tảng, đồng thời tiếp
thu quan điểm của Nho gia và Âm Dương gia. Hoài Nam tử không chỉ điều chỉnh lý
thuyết chính trị “vô vi” của Đạo gia thời Tiên Tần, mà còn phát triển thêm thuyết
“thiên nhân cảm ứng”. Điều này làm cho tác phẩm trở thành một sự tổng hòa của
các học thuyết vào đầu thời Hán và được coi là tác phẩm tiêu biểu của trường
phái Tạp gia trong Bách gia chư tử. Với lối văn phong hoa mỹ, ngôn từ lãng mạn
và đôi khi mang màu sắc huyền bí, Hoài Nam tử sử dụng góc nhìn của các chư hầu
để chỉ trích chính sách đại nhất thống và sự tập quyền trung ương của triều
đình nhà Hán.
Vào thời Đông
Hán, Hoài Nam tử được hai học giả Hứa Thận và Cao Dụ chú giải, góp phần làm rõ
nội dung phức tạp của tác phẩm. Đến thời nhà Minh, Hoài Nam tử được đưa vào
Chính thống đạo tạng, một bộ sưu tập kinh điển lớn của Đạo giáo. Sang thế kỷ
20, Hoài Nam tử được dịch đầy đủ sang tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nhật, cùng
các bản dịch trích đoạn bằng tiếng Pháp và tiếng Đức.
Hoài Nam tử gồm 21 thiên: 1. Nguyên Đạo 原道, 2. Thúc Chân 俶真, 3. Thiên Văn 天文, 4. Địa Hình 地形, 5. Thời Tắc 時則, 6. Lãm Minh 覽冥, 7. Tinh Thần 精神, 8. Bản Kinh 本經, 9. Chủ Thuật 主), 10. Mâu Xưng 繆稱, 11. Tề Tục 齊俗, 12. Đạo Ứng 道應, 13. Phạm Luận 氾論, 14. Toàn Ngôn 詮言, 15. Binh Lược 兵略), 16. Thuyết Sơn 說山, 17. Thuyết Lâm 說林, 18. Nhân Gian 人間, 19. Tu Vụ 脩務, 20. Thái Tộc 泰族, 21. Yếu Lược 要略. Toàn bộ 21 thiên này có thể được chia thành ba phần chính: phần
thứ nhất gồm từ thiên thứ 1 đến thiên thứ 8 là những nguyên lý cơ bản; phần
thứ hai gồm từ thiên thứ 9 đến thiên thứ 20 là Ứng dụng và giải thích; phần
thứ ba, thiên 21, Yếu Lược, là phần hậu ký, tổng kết và đại cương, đây
cũng là phần “tự thuật” của tác giả, giải thích ý nghĩa tổng quát của toàn bộ
tác phẩm.Nội dung Hoài Nam tử dựa trên lý thuyết về sự hình thành vũ trụ của Đạo
gia, kết hợp với lý luận trong Đạo đức kinh về “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị,
Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật”. Thiên đầu tiên, Nguyên Đạo, luận về khái niệm
“Đạo”, sau đó thiên “Thúc Chân” giải thích về “Nhất”, kế tiếp là Thiên Văn và Địa
Hình diễn giải “Nhị” – tức là Trời và Đất. Để làm rõ sự vận hành cụ thể của trời
đất, thiên “Thời Tắc” được thêm vào. Thiên 6 và 7, “Lãm Minh” và “Tinh Thần”,
bàn về sự liên kết giữa thiên nhiên và nhân loại, tức là thuyết “thiên nhân cảm
ứng”. Thiên 8, “Bản Kinh”, luận về các nguyên lý cơ bản trong xã hội loài người.
Thiên thứ 9, “Chủ Thuật”, đề cập đến kỹ nghệ trị quốc của người cầm quyền. Mười
một thiên tiếp theo luận giải về các khía cạnh của xã hội loài người, như
thiênTề Tục nói về những điểm chung trong đời sống giữa các vùng khác nhau dù
có sự khác biệt về phong tục, lịch sử và những vấn đề về tính phổ quát và đặc
thù trong xã hội loài người.
Một số học giả cho rằng cấu trúc của Hoài Nam tử bắt đầu với tư
tưởng của Lão Trang, làm nền tảng cho toàn bộ tác phẩm, nhưng kết thúc lại chuyển
sang tư tưởng Nho gia. Thiên 19, “Tu Vụ”, đứng trên quan điểm Nho gia để phản
biện tư tưởng Đạo gia, và thiên 20, “Thái Tộc”, là phần tổng kết của toàn bộ
sách, trong đó trọng tâm là tư tưởng nhân nghĩa và đạo đức theo quan điểm Nho
gia, thay vì sự “hư vô, tĩnh lặng” trong quan điểm đạo đức của Đạo gia. Hoài
Nam tử có nội dung đa dạng, bao gồm thần thoại cổ đại, chính trị đương thời,
giai thoại lịch sử, thiên văn học, địa lý học và triết học. Tác phẩm tổng hợp
tư tưởng từ nhiều học phái trong Bách gia chư tử, trích dẫn hơn 800 đoạn từ các
cổ thư. Cuốn sách thường tái cấu trúc những đoạn văn của các học thuyết Tiên Tần
để thể hiện quan điểm mới. Thiên “Đạo Ứng” tiếp nối phong cách của Hàn Phi tử bằng
cách sử dụng những câu chuyện lịch sử để chứng minh cho Đạo Đức Kinh. Thiên
“Thuyết Sơn” và “Thuyết Lâm” thu thập những ngạn ngữ, châm ngôn phổ biến đương
thời, mang phong cách của các tập ngữ lục. Nhiều đoạn trong sách bộc lộ tâm trạng
oán than của Lưu An và các tân khách khi đối mặt với việc bị vu oan và đàn áp.
Dù phong cách toàn bộ tác phẩm nhất quán, nhưng nội dung giữa các thiên lại có
sự khác biệt. Chẳng hạn, thiên Bản Kinh chỉ trích nền chính trị hiện thời và phủ
nhận giáo hóa Nho gia, trong khi thiên Lãm Minh lại ca ngợi sự trị vì của Hán
Vũ Đế. Về vấn đề “học vấn”, sách thể hiện sự mâu thuẫn: một mặt phê phán học
thuyết Nho gia, mặt khác lại phản đối Lão Trang vì không coi trọng tri thức..
[2] Là một trong
những tác phẩm lịch sử chính thức của Trung Quốc do Phạm Diệp ((范曄, 398 – 445), tự Úy
Tông, là nhà chính trị, nhà sử học, nhà văn người Trung Quốc thời Lưu Tống Nam
Triều, tổ tiên xuất thân từ Thuận Dương (nay
thuộc Tích Xuyên, Hà Nam), sinh tại Sơn Âm (nay thuộc Thiệu Hưng Chiết Giang)) biên soạn vào thế kỷ thứ 5, sử dụng
một số cuốn sách sử và văn bản trước đó làm nguồn thông tin. Nó bao quát giai
đoạn lịch sử Đông Hán từ năm 25 đến năm 220.
Cuốn
sách này là một phần trong bộ Tiền tứ sử của tổng tập Nhị thập tứ sử cùng với
các cuốn Sử ký Tư Mã Thiên, Hán Thư và Tam Quốc Chí. Phạm Việp đã sử dụng một số
cuốn lịch sử trước đó, gồm cả những tác phẩm của Tư Mã Thiên và Ban Cố, và nhiều
cuốn sử khác (một số cuốn có tên trùng với
tác phẩm này như cuốn Hán sử của nhiều tác giả viết trong thế kỷ thứ 2 hay cuốn
Hậu Hán sử của Viên Hoành từ thế kỷ thứ 4) đa số những cuốn đó không còn tồn
tại nguyên vẹn. 30 quyển cuối cùng của cuốn sách, được lấy từ cuốn Tiếp nối Hán
Thư, một tác phẩm do Tư Mã Bưu 司馬彪 thực hiện ở
thế kỷ thứ 3, đã được Lưu Chiêu 劉昭 gộp thêm vào ở
thế kỷ thứ 6 khi ông thực hiện phần chú giải.
Cuốn
"Tây Vực trường sử" (Sử vùng
Tây Vực) do Ban Dũng 班勇 thực hiện một
thời gian ngắn sau năm 127, dựa trên một phần những ghi chép của cha ông là Ban
Siêu, là nguồn tư liệu chính về văn hoá và kinh tế xã hội của Tây Vực trong quyển
88 của cuốn sách này. Điều này khẳng định thêm rằng, chính Phạm Diệp, người đã
ghi chép ngắn gọn trong văn bản viết về những nguồn tài liệu của mình trong tập
viết về Tây Vực với lời bình luận của ông ở cuối chương rằng ngày tháng trong
đoạn về Tây Vực đó đã được sửa đổi, sử dụng ngày tháng khác biệt so với những cuốn
sử trước đó, như thông tin của Ban Dũng.
[3] Ông là cháu
trai của Hán Cao Tổ, là người có hoài bão, say mê đọc sách và nghiên cứu học
thuật
[4] Chuyện này kể
chiến công “Diệt Hồ Tinh” của Lạc Long
Quân 貉龍君 húy Sùng Lãm 崇纜.
Thành Thăng Long xưa thuộc đất Long Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua
Thái Tổ nhà Lý chèo
thuyền ở bến sông Nhĩ Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, cho nên đặt tên là
Thăng Long rồi đóng đô ở đấy, ngày nay tức là thành Kinh Hoa vậy. Xưa ở phía
tây thành có hòn núi đá nhỏ, phía đông gối lên sông Lô Giang. Trong hang, dưới chân núi, có con
cáo trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu quái, thành người
hoặc thành quỷ đi khắp nhân gian. Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người Mán
chôn gỗ kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường
thờ phụng. Thần dạy người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi
là Bạch Y Man (Mán áo trắng).
Con
cáo chín đuôi biến thành người áo trắng nhập vào giữa đám dân Mán cùng ca hát rồi
dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Mán rất khổ sở. Long Quân bèn ra
lệnh cho lục bộ Thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy,
quân Thủy phủ đuổi theo, phá hang bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái
vũng sâu gọi là "đầm xác cáo" (tức Tây Hồ ngày nay). Sau lập miếu (tức Kim Ngưu Tự) để trấn áp yêu quái. Cánh đồng phía Tây Hồ rất bằng
phẳng, dân địa phương trồng trọt làm ăn, nay gọi là Hồ Đỗng (hang cáo). Đất ở đây cao ráo, dân làm
nhà mà ở nay gọi là Hồ Thôn (thôn Cáo).
Chỗ hang cáo xưa, nay gọi là Lỗ Khước Thôn.
[5]
Quẻ Khảm
(Khảm Vi Thủy ☵) là quẻ thứ 29 trong Kinh Dịch, biểu tượng cho nước, hiểm nguy,
hãm kẹt và sự sâu sắc. Tượng quẻ là 1 hào Dương kẹt giữa 2 hào Âm, thể hiện sự
nguy hiểm bên ngoài nhưng cần giữ vững tâm sáng bên trong để vượt qua. Đây là
quẻ mang ý nghĩa khó khăn, thử thách, nhưng nếu kiên trì sẽ biến nguy thành an.
[6] Quẻ Thuần Ly
(Ly vi Hỏa ☲) là quẻ thứ 30 trong Kinh Dịch, biểu tượng cho lửa, sự văn
minh, rực rỡ, và sự dựa nương (minh sát). Quẻ này tượng trưng cho nội tâm (hào
âm) cần dựa vào sự trung chính (hai hào dương) để đạt tới hanh thông. Tính chất
chính là trí tuệ, lễ nghi, sáng sủa nhưng cũng dễ nóng nảy, phụ thuộc.
[7] Quẻ Khôn (坤 - kūn) hay Thuần Khôn
là quẻ thứ hai trong 64 quẻ Kinh Dịch, đại diện cho Đất (Địa), tính Âm, sự nhu
thuận, bao dung và nuôi dưỡng vạn vật. Quẻ này tượng trưng cho người mẹ, sự mềm
mại, kiên nhẫn và đức dày nâng đỡ mọi vật. Quẻ Khôn khuyên con người nên sống
khiêm tốn, nhẫn nại và theo sau để đạt thành công.
Tượng
quẻ: ☷ (Địa thế Khôn)
- Đất mẹ bao dung, sinh sản và che chở.
Ngũ
hành: Khôn thuộc hành Thổ, biểu thị sự ổn định, vững chãi, nuôi dưỡng.
Ý
nghĩa: Tượng trưng cho đạo đức cao dày, sự nhu thuận, dịu dàng, phục tùng và
kiên nhẫn.
Lời
quẻ: "Nguyên, hanh, lợi tần mã chi trinh" (Đất khởi đầu, hanh thông,
lợi ích bền vững như con ngựa cái - thuận theo Càn).
Tâm
thế: Nên "hậu đức tải vật" (đức dày chở vạn vật), hành động cần sự chậm
rãi, thận trọng, không nên tranh quyền đi trước
[8] là câu đầu
tiên trong Hà Đồ, mang nghĩa Trời lấy số 1 (số
lẻ, Dương) tạo ra Thủy, Đất lấy số 6
(số chẵn, Âm) hoàn thành Thủy. Đây là nền
tảng triết lý Đông phương, thể hiện nguyên lý Âm Dương tương hỗ sinh khắc để
hình thành hành Thủy và vạn vật. Các câu tiếp theo là “Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi; Thiên tam sinh Mộc, Địa bát
thành chi; Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi; Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập
thành chi”
[9] Quẻ Cấn (Bát Thuần Cấn) tượng trưng cho Núi (Sơn), mang ý nghĩa ngưng nghỉ, dừng lại,
tĩnh lặng, và bền vững. Quẻ này khuyên nên giữ nguyên trạng, bình tĩnh, thận trọng,
không nên nóng vội hay di chuyển. Nó cũng thể hiện sự bảo vệ, an cư, nhưng cũng
dễ dẫn đến bảo thủ, trì trệ.
Tượng
quẻ: Núi trên núi, bên trên vững chãi, bên dưới tĩnh lặng.
Ý
nghĩa cốt lõi: Dừng lại, dừng đúng chỗ, che đậy, ngăn cấm, chờ thời.
Tính
cách: Thật thà, phúc hậu, thận trọng, giữ chữ tín, nhưng dễ cố chấp, cứng nhắc.
Tình
thế hiện tại: Đang bị cản trở, hoặc cần dừng các hành động hiện tại để suy ngẫm.
Lời
khuyên: Nên thủ cựu, bình tâm, không nên hấp tấp (quân tử không rời khỏi vị trí
của mình).
Sức
khỏe: Liên quan đến dạ dày, lá lách, khớp, da, lưng, mu bàn chân.
Phong
thủy/Đời sống: Đại diện cho sự yên ổn, an toàn, thường hợp với việc tìm kiếm sự
bình yên.
Tóm
lại, khi gặp quẻ Cấn, người ta khuyên nên dừng lại để đánh giá tình hình,
"dừng" ở đây mang nghĩa tích cực là "dừng đúng chỗ" để
tránh lỗi lầm.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Tôn trọng cộng đồng, Hiếu kính Tổ Tông, Thương yêu đồng loại, Chăm sóc hậu nhân!